UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
TRƯỜNG CHÍNH TRỊ
TIỂU LUẬN CUỐI KHOÁ
Đề tài:
Quản lý nhà nước về an toàn điện nông thôn
Họ tên : Nguyễn Tuấn Anh
Sinh ngày : 12-9-1981
Đơn vị công tác : Trung tâm Thông tin-XTTM
(Sở Công Thương Vĩnh Phúc)
Giáo viên HD : Ths Hà Vũ Tuyến
Phó Hiệu trưởng
Vĩnh Phúc, 2011
Tiểu luận cuối khoá
Tiểu luận cuối khoá
MỤC LỤC
M C L CỤ Ụ 2
L I NÓI UỜ ĐẦ 3
N I DUNG TI U LU NỘ Ể Ậ 6
1- Mô t tình hu ng:ả ố 6
2- Phân tích nguyên nhân v h u qu :à ậ ả 9
2.1. V n c n gi i quy tấ đề ầ ả ế 9
2.2. Nguyên nhân x y tình hu ngả ố 9
2.3. H u qu c a s vi c:ậ ả ủ ự ệ 15
3- Xác nh v l a ch n ph ng án gi i quy t:đị à ự ọ ươ ả ế 16
3.1. M c tiêu gi i quy t tình hu ng:ụ ả ế ố 16
3.2. Xây d ng ph ng án gi i quy t tình hu ng:ự ươ ả ế ố 16
3.3. L a ch n ph ng án gi i quy t:ự ọ ươ ả ế 20
3.4 K ho ch t ch c th c hi n ph ng án:ế ạ ổ ứ ự ệ ươ 20
4. Ki n ngh :ế ị 21
4.1. V công tác qu n lý Nh n c:ề ả à ướ 21
4.2. V công tác chuyên môn:ề 22
Sở Công nghiệp Vĩnh Phúc (nay là Sở Công Thương) với chức năng quản lý
nhà nước về sản xuất và sử dụng điện trên địa bàn, đã đặc biệt chú trọng đến công tác
quản lý điện nông thôn. Ngay từ những ngày đầu sau khi tỉnh Vĩnh Phúc được tái lập,
Sở Công nghiệp Vĩnh Phúc đã tham mưu cho UBND tỉnh ra Quyết định số: 1373/QĐ-
3
Tiểu luận cuối khoá
Tiểu luận cuối khoá
UB ngày 27/10/1997 về việc ban hành quy định quản lý, cung ứng – sử dụng điện ở
nông thôn trên địa bàn tỉnh, nhằm củng cố lại sự hoạt động của Ban quản lý điện ở
các địa phương. Sở Công nghiệp đã soạn thảo, cấp phát 7.500 bộ tài liệu về quản lý
kỹ thuật an toàn điện và sổ sách ghi chép, theo dõi lưới điện nông thôn cho các thợ
điện, và Ban quản lý điện ở các xã. Đã mở các lớp bồi dưỡng và tập huấn về kỹ thuật
an toàn điện và quản lý điện nông thôn cho gần 800 cán bộ làm công tác quản lý điện
ở các địa phương trong tỉnh. Tổ chức thanh, kiểm tra giải quyết các đơn, thư khiếu nại
về giá điện và xây dựng công trình điện góp phần bình ổn việc cung ứng điện ở một
số địa phương.
Từ khi có sự giám sát của cơ quan quản lý nhà nước về điện, công tác quản lý
điện nông thôn ở các địa phương đã một phần được tổ chức có quy củ, nhưng vẫn còn
rất nhiều các vấn đề tồn tại quan trọng cần được quan tâm giải quyết để cho việc cung
ứng và sử dụng điện ở nông thôn đạt hiệu quả hơn.
Toàn bộ hệ thống lưới điện ở các địa phương từ ngân sách Nhà nước đầu tư xây
dựng cùng với nhân dân đóng góp, với phương châm Nhà nước và nhân dân cùng
làm. Những công trình do UBND tỉnh quyết định đầu tư xây dựng thường giao cho
UBND các xã làm chủ đầu tư, thực hiện dự án. Tuy nhiên đa số các địa phương đều
không đủ điều kiện để thực hiện việc quản lý đầu tư xây dựng công trình điện, đặc
biệt là việc cử người có trình độ về chuyên môn kỹ thuật theo dõi, giám sát quá trình
thi công. UBND các xã làm chủ đầu tư xây dựng công trình điện thường giao tất cả
mọi việc cho các nhà thầu xây dựng từ việc lập thủ tục, cho đến việc nghiệm thu bàn
giao công trình, nên đa số các công trình xây dựng điện ở các địa phương không có
sự nghiệm thu, kiểm tra của cơ quan quản lý Nhà nước về xây dựng chuyên ngành.
thống làm nông nghiệp, nên thu nhập của mỗi hộ dân hàng năm còn thấp giá trị tài
sản lớn nhất là con Trâu, mà bà con thôn quê vẫn gọi là “đầu cơ nghiệp”. Nền kinh tế
của địa phương vì thế mà chậm phát triển, nên mãi tới năm 2001 xã M mới đầu tư xây
dựng được công trình đường điện hạ thế kéo về trong đó, có đường hạ thế của thôn H.
Công trình đường điện hạ thế của xã được thực hiện theo tinh thần Nhà nước và nhân
dân cùng đóng góp.
Cụ thể việc đóng góp của nhân dân xã M là 2/3, còn lại là nhà nước, với tổng
chi phí cho công trình hết 195 triệu đồng. Đến tháng 9/2001 công trình được hoàn
thiện. Chi nhánh điện của huyện đã nghiệm thu kỹ thuật công trình, đóng điện và đưa
công trình vào sử dụng (có biên bản nghiệm thu ngày 09/10/2001 và biên bản thanh lý
hợp đồng xây dựng công trình giữa UBND xã M và Công ty X ngày 09/10/2001).
Đồng thời, ở từng thôn đã thành lập các Ban quản lý điện của thôn, giao trách nhiệm
quản lý an toàn đường hạ thế của thôn, thu chi theo quy định các khoản tiền thu nộp
của các hộ dùng điện.
Điện về thôn, mọi gia đình đều phấn khởi vui mừng. Mỗi ngày trôi qua là
những ngày như đổi mới rõ rệt của mỗi gia đình, khi dòng điện được đưa vào sinh
hoạt và sản xuất. Thôn H vẫn cứ êm đềm, nếu như không có những sự việc xảy ra đối
với Ban quản lý điện thôn H và một số hộ dân của thôn trong quá trình sử dụng điện
như sau:
- Ngày 13/7/2002 tại cột số C6 khu vực thôn H đã bị đổ và đứt đường dây.
Nguyên nhân là do mưa bão, cây mít nhà ông K bị đổ vào đường dây, làm đứt dây và
6
Tiểu luận cuối khoá
Tiểu luận cuối khoá
đổ cột C6. Sự cố xảy ra đã được ban quản lý điện của xã đề nghị bên B (bên thi công
công trình điện là công ty X) khắc phục lại theo thoả thuận giữa 2 bên.
- Đến ngày 16/8/2002 tại cột số C13 do mưa to, tại đầu dây tiếp địa bị lở đất,
đồng thời bị dò điện ở dây tiếp địa. Chính vì điện bị dò như vậy, nên vào 6
h
ngày
Ngày 15/01/2003 Sở Công nghiệp Vĩnh Phúc nhận được phiếu chuyển
đơn số 492/UB-XKT ngày 10/01/2003 của Chủ tịch UBND tỉnh về việc thanh tra giải
quyết đơn khiếu kiện của ông Vũ Thế G và một số công dân thôn H xã M.
Nội dung cụ thể khiếu kiện như sau:
Năm 2001 thôn H được đầu tư xây dựng đường hạ thế của thôn. Kinh phí do
dân đóng góp 2/3 còn lại là kinh phí hỗ trợ của Nhà nước. Trong quá trình xây dựng,
công trình thi công đã sai bản thiết kế của Sở Điện lực. Nhiều đoạn đi theo hình chữ
chi, vắt ngang, vắt dọc theo đường cái dân sinh, là là trên đỉnh đầu người như giàn
cạm bẫy, rất nguy hiểm. Có nhiều khoảng cách giữa cột này với cột kia quá sai với
quy định rất nhiều. Hiện nay có nhiều cột đã bị rạn nứt và nghiêng ngả, xiêu vẹo
không đảm bảo an toàn nữa. Cán bộ Ban quản lý điện của thôn H là người không có
trình độ kỹ thuật về điện, chỉ biết thu tiền điện mà không biết gì về quản lý điện đảm
bảo an toàn cho nhân dân. Do công trình không đảm bảo nên đã làm điện giật chết
Trâu, đề nghị phải được bồi thường thiệt hại này.
Như vậy nội dung đơn phản ánh 3 vấn đề cụ thể như sau:
- Công trình đầu tư không đảm bảo an toàn cho người và động vật, không đúng
thiết kế đã được duyệt.
- Ban quản lý điện (tổ điện) của thôn sử dụng người không có trình độ về điện
nên gây mất an toàn trong việc sử dụng điện.
- Vì thiếu trách nhiệm của Ban quản lý điện thôn H, nên đã không kịp thời khắc
phục để mất an toàn trong lưới điện, dẫn đến thiệt hại về tài sản của công dân. Đề
nghị phải được đền bù thiệt hại.
8
Tiểu luận cuối khoá
Tiểu luận cuối khoá
2- Phân tích nguyên nhân và hậu quả:
2.1. Vấn đề cần giải quyết
Qua nghiên cứu và phân tích đơn khiếu nại về 3 vấn đề như trên, Sở Công
nghiệp đã giao Thanh tra điện của Sở lập kế hoạch thanh tra, kiểm tra sự việc trên.
Để giải quyết đơn thư khiếu nại trên Sở Công nghiệp đã có công văn số 85/CN-
Tổng cộng là = 195.000.000 đ
(Bằng chữ: Một trăm chín mươi năm triệu đồng chẵn)
Phần xây dựng:
- Theo thanh lý hợp đồng ngày 09/10/2001 giữa bên A (UBND xã M) và bên B
(Công ty X) với khối lượng xây dựng 1.343m. Phần này có đủ hồ sơ thiết kế, hợp
đồng kinh tế, nghiệm thu kỹ thuật, thanh lý hợp đồng.
- Do nhu cầu sử dụng điện, nhân dân đã tự nguyện đóng góp tiền và công lao
động để xây dựng thêm 1.047m đường điện 1 pha 2 dây. Phần này có hợp đồng tư vấn
kỹ thuật giữa bên A và bên B, không có thiết kế – dự toán kinh phí bổ sung mà chỉ
làm dựa theo phần thiết kế – dự toán của phần xây dựng chính (1.343m như trên đã
nêu). Không có nghiệm thu kỹ thuật và thanh lý hợp đồng nên, số tiền này bên A và
bên B chưa làm thuế.
* Từ những kết quả thanh tra việc quản lý, xây dựng đường điện tại thôn H xã
M. Đoàn thanh tra kết luận:
- Trước khi tiến hành xây dựng công trình điện thôn H, UBND xã M đã tiến
hành làm thủ tục, hồ sơ thiết kế – nghiệm thu kỹ thuật, thanh lý hợp đồng. Nhưng
không có thiết kế – dự toán kinh phí, thanh lý hợp đồng bổ sung của phần xây dựng
mở rộng thêm.
* Với những kết luận như trên đoàn yêu cầu:
- UBND xã M bổ sung hoàn chỉnh hồ sơ của toàn bộ công trình điện thôn H
theo quy định của Nhà nước để có thể quản lý, theo dõi và sử dụng công trình được
lâu dài có hiệu quả.
Về kỹ thuật an toàn của đường điện
10
Tiểu luận cuối khoá
Tiểu luận cuối khoá
Đơn khiếu kiện có nêu: Đường điện xây dựng không theo thiết kế, đi theo hình
chữ chi, vắt ngang, vắt dọc qua đường cái dân sinh, l là trên đỉnh đầu người, luôn luôn
hàng ngày, hàng giờ đe doạ tính mạng của nhân dân… Đề nghị kiểm tra phần móng
cột, khoảng cách cột có đảm bảo quy trình hay không? Đoàn đã tiến hành kiểm tra cụ
điện thì đoàn đã thấy:
Sau khi công trình điện hạ thế ở thôn H được đưa vào sử dụng, xã M đã thành
lập Ban quản lý điện thôn H gồm 2 người là anh L và anh S
Anh L và anh S đều đủ tiêu chuẩn theo Quyết định 41/1996/QĐ-BCN, có đủ
chứng nhận về ngành điện và đã được học bồi dưỡng lớp an toàn về điện, do Sở Công
nghiệp tổ chức và được cấp thẻ an toàn điện nông thôn. Làm được 2 tháng thì anh S vì
lý do riêng đã không tham gia nữa. Để bổ sung người vào tổ điện thôn H. Anh L với
tư cách là trưởng thôn, đồng thời là trưởng ban quản lý điện đã đề nghị nhận anh Q và
anh D vào tổ điện.
Ban quản lý điện đến thời điểm từ tháng 1 năm 2002 gồm có 3 người: Trưởng
ban, đồng thời là trưởng thôn là anh Nguyễn Văn L. Hai thành viên còn lại là anh
Phạm Văn Q và anh Lê Văn D. Trong 3 người chỉ có anh L là có giấy chứng nhận
chuyên ngành điện và có thẻ an toàn cho thợ điện nông thôn. Anh L là người duy nhất
đủ tiêu chuẩn theo quy định tại Quyết định số 41/2001/QĐ-BCN của Bộ trưởng Bộ
Công nghiệp về việc ban hành quy định về an toàn và sử dụng điện nông thôn.
Còn anh Q và anh D đều không có giấy chứng nhận nào về chuyên ngành điện
và có thẻ an toàn cho thợ điện nông thôn.
Có nghĩa trong sự việc này anh Q và anh D đã vi phạm về quy định về người
tham gia quản lý và an toàn sử dụng điện theo Quyết định số 41/1996/QĐ-BCN của
Bộ Công nghiệp.
Theo Quyết định số 41/1996/QĐ-BCN tại điều 4, điều 5, điều 6 quy định như
sau:
12
Tiểu luận cuối khoá
Tiểu luận cuối khoá
Điều 4: Cán bộ, công nhân vận hành, sửa chữa lưới điện hạ áp nông thôn (gọi
tắt là thợ điện nông thôn) phải đủ 18 tuổi trở lên, được cơ quan y tế chứng nhận
không mắc bệnh thần kinh, tim mạch, có đủ sức khoẻ để làm việc.
Điều 5: Thợ điện nông thôn phải được đào tạo chuyên ngành điện, có giấy
chứng nhận tốt nghiệp do cơ sở dạy nghề có thẩm quyền cấp, có năng lực hoàn thành
1- Đo điện trở nối đất lặp lại ở lưới điện hạ áp nông thôn theo chu kỳ 3 năm 1
lần.
2- Kiểm tra an toàn định kỳ lưới điện (để phát hiện hiện tượng sói lở, móng,
nghiêng cột, độ võng của dây, cột gỗ bị mối mục, cây phát triển xâm phạm vào hành
lang) phải được thực hiện 3 tháng 1 lần.
3- Kiểm tra an toàn đột xuất lưới điện được thực hiện sau mỗi đợt giông bão,
lũ lụt động đất, cháy rừng.
4- Kết quả đo và xử lý khiếm khuyết sau mỗi lần kiểm tra được ghi vào sổ theo
dõi và phải được lưu giữ trong hồ sơ công trình điện.
+ Tóm lại: -Ý thức chấp hành pháp luật nói chung và thực hiện những quy định
trong quản lý, sử dụng điện ở địa bàn nông thôn đặc biệt là những người trực tiếp
trong công tác quản lý điện còn hạn chế. Công tác kiểm tra, kiểm soát chưa chặt chẽ,
chưa kịp thời về con người, hệ thống điện Chính từ những lý do đó đã dẫn đến tình
trạng sử dụng người trong công việc đặc biệt này, đã không đủ tiêu chuẩn và đúng
theo quy định của Nhà nước.
- Thiếu trách nhiệm trong công tác quản lý của người có liên quan đến vụ việc.
- Thiếu sót trong tổ chức hoạt động quản lý Nhà nước của các cấp, thể hiện
trong hoạt động, điều hành và tổ chức triển khai công tác.
- Việc thanh tra, kiểm tra theo dõi của các cơ quan chức năng chưa hiệu quả,
chưa có một cơ chế thanh tra, kiểm tra thường xuyên, chặt chẽ từ đó để theo dõi được
14
Tiểu luận cuối khoá
Tiểu luận cuối khoá
các diễn biến trong quá trình hoạt động, vận hành và sử dụng điện nói chung và điện
nông thôn nói riêng.
* Khách quan:
Để thực hiện nhiệm vụ CNH - HĐH đất nước thì một trong những nhiệm vụ
hàng đầu là phải điện khí hoá. Đây là mục tiêu thực hiện chương trình 100% số xã
phường của tỉnh có điện, với hình thức Nhà nước và nhân cùng làm. Chủ trương và
mục tiêu là tốt, phù hợp với tiến trình phát triển của đất nước. Xã M đã triển khai thực
chuộc, xuyên tạc làm ảnh hưởng đến an ninh chính trị Quốc gia.
3- Xác định và lựa chọn phương án giải quyết:
3.1. Mục tiêu giải quyết tình huống:
- Tăng cường công tác quản lý an toàn điện, nâng cao hiểu biết về sử dụng điện
ở địa bàn nông thôn. Đây là mục tiêu hàng đầu có tính lâu dài, có như vậy mới giải
quyết được tận gốc và hạn chế những tình huống tương tự xảy ra.
- Bảo vệ chính đáng lợi ích của công dân. Đáp ứng được điều này sẽ tạo ra mối
quan hệ tốt giữa nhân dân với các tổ chức, chính quyền địa phương với các cơ quan
quản lý chuyên ngành.
- Giải quyết hài hoà giữa tính pháp lý, lợi ích kinh tế, lợi ích xã hội.
Qua phân tích tình huống trên, căn cứ vào các văn bản pháp luật có liên quan;
căn cứ vào các văn bản của Nhà nước về quản lý và sử dụng điện. Có thể đưa ra 3
phương án xử lý giải quyết như sau:
3.2. Xây dựng phương án giải quyết tình huống:
+ Phương án 1. Nội dung hoà giải
Để giải quyết sự mâu thuẫn, nghi ngờ về việc thực hiện xây dựng, thi công
công trình không đảm bảo thiết kế, dẫn đến gây mất an toàn và đã để xảy ra tình trạng
điện giật chết Trâu như đã phân tích ở trên. Phương án này cũng là một phương án tốt,
nhưng có lẽ nếu làm được ngay từ khi ông Vũ Thế G vẫn chưa có ý định gửi đơn lên
cấp huyện và cấp tỉnh thì công việc sẽ đơn giản hơn.
16
Tiểu luận cuối khoá
Tiểu luận cuối khoá
Việc hoà giải này chủ yếu là UBND xã M và Trưởng, Phó thôn H với các cơ
quan đoàn thể trong xã, phân tích cho bên nguyên đơn để cùng nhau thoả thuận, chấp
nhận thiệt hại do thiên tai gây nên.
Việc thực hiện phương án hoà giải có những ưu và nhược điểm sau:
* Ưu điểm:
- Tạo được sự đoàn kết, thống nhất giữa các hộ trong thôn và đặc biệt là gia
đình ông Vũ Thế G với ban quản lý điện của thôn H.
* Nhược điểm:
- Chưa giải quyết được yêu cầu của bên khiếu kiện, trong khi đã chỉ rõ trách
nhiệm về việc mất an toàn lưới điện thuộc về ban quản lý điện thôn H.
- Gia đình ông Vũ Thế G vẫn phải chịu thiệt hại về việc con Trâu bị điện giật
chết, mà không phải không có phần trách nhiệm thuộc về ban quản lý điện thôn H.
+ Phương án 3. Nội dung đền bù thiệt hại tài sản là con Trâu cho ông Vũ
Thế G.
- Việc thành lập Ban quản lý điện thôn H là những người không đủ tiêu chuẩn
theo quy định của Nhà nước đối với người quản lý, và sử dụng điện (cụ thể được quy
định tại điều 4 Quyết định số 41/QĐ-BCN). Từ đó dẫn đến người quản lý điện của
thôn không nắm được những quy định trong sử dụng và vận hành đường hạ thế của
thôn. Khi xảy ra sự cố rò rỉ điện tại cột C13, gây nguy hiểm cho người và động vật,
nhưng ban quản lý điện không biết. Đây chính là sự thiếu trách nhiệm trong việc kiểm
tra giám sát công trình trong quá trình sử dụng đường điện hạ thế ở nông thôn được
quy định tại điều 5 Quyết định 41/QĐ-BCN.
Trách nhiệm trong việc con Trâu của ông G bị điện giật chết thuộc về Ban quản
lý điện thôn H. Đề nghị phải đền bù thiệt hại cho gia đình ông Vũ Thế G.
18
Tiểu luận cuối khoá
Tiểu luận cuối khoá
- Ban quản lý sử dụng người không đủ tiêu chuẩn, thì trách nhiệm thuộc về
Chính quyền xã M trong việc tổ chức, điều hành hoạt động của Ban quản lý điện thôn
H.
Trưởng thôn Nguyễn Văn L, người chịu trách nhiệm cá nhân về việc sử dụng
người không đủ tiêu chuẩn và đồng thời cũng là người không hoàn thành nhiệm vụ
công tác của mình.
Ngoài việc đền bù ra, mọi hình thức xử lý trách nhiệm khác tuỳ theo từng mức
độ vi phạm của các tổ chức, cá nhân và phải tuân thủ các văn bản quy phạm, pháp
luật của Nhà nước.
Việc xử lý theo phương án 3 sẽ có những ưu và nhược điểm như sau:
chung và điện nông thôn nói riêng. Chính từ những tối ưu đó tôi lựa chọn phương án
3 để giải quyết tình huống đã nêu theo trình tự và kế hoạch thực hiện như sau.
3.4 Kế hoạch tổ chức thực hiện phương án:
TT Nội dung công việc
Ngày thực
hiện
Người thực hiện
1
Tiến hành hòa giải: Hòa giải giữa
UBND xã M và Trưởng thôn, Phó
Thôn H với đại diện đoàn thể trong xã
(Hội Phụ nữ, Mặt trận TQ xã, Trưởng
xóm…) phân tích cho ông G cùng nhau
thỏa thuận chấp nhận thiệt hại do thiên
tai gây ra .
21/7/2003 Đại diện UBND xã
M; Trưởng thôn H;
BQL điện thôn H
cùng với ông Vũ Thế
G
2 Kiếm điểm: Trưởng thôn H là
ông Nguyễn Văn L và BQL điện thôn
H. Hình thức kiểm điểm: Khiển trách
&yêu cầu ông L tự kiểm điểm trước
22/07/2003 T.M Đảng ủy xã và
đại diện chính quyền
xã M;
20
Tiểu luận cuối khoá
Tiểu luận cuối khoá
Tiểu luận cuối khoá
4.2. Về công tác chuyên môn:
+ Triển khai thực hiện tốt các văn bản QLNN về điện của các cấp đã ban hành
tại địa phương mình quản lý.
+ Chỉ đạo sát sao có hệ thống công tác chuyên môn đến các ban quản lý điện từ
thành thị đến nông thôn.
+ Phối hợp với cơ quan quản lý Nhà nước về điện để tiến hành công tác thanh
tra, kiểm tra an toàn điện và giám sát điện năng.
+ Ban hành những quy định cụ thể về cung ứng và sử dụng điện của địa
phương.
+ Phối hợp với các cơ quan chức năng trong việc thanh kiểm tra an toàn điện và
giám sát điện năng.
+ Phối hợp tốt với các Sở ban ngành khác để xử lý kịp thời những diễn biến
bất thường của thiên nhiên gây ra.
4.3. Công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống ban hành văn bản pháp luật:
- Nhà nước cần phải ban hành một cách đồng bộ các văn bản pháp quy về lĩnh
vực quản lý nhà nước về điện, nhất là lĩnh vực quản lý điện nông thôn cho phù hợp
với tình hình hiện nay, sau đó phải ban hành được luật điện lực.
- Công tác triển khai hướng dẫn, tuyên truyền thực hiện phải nhanh chóng đồng
bộ và có hiệu quả.
5. Bài học kinh nghiệm:
Thông qua tình huống xảy ra tại thôn H xã M đã được giải quyết cho chúng ta
thấy, và rút ra những bài học quý báu như:
- Đối với những cán bộ, công chức, viên chức và những lao động thuộc các cơ
quan quản lý nhà nước, hoặc được giao nhiệm vụ thực hiện những công việc phục
nhân dân, cần phải được trang bị đúng trình độ chuyên môn theo tiêu chuẩn quy định;
cần có nhận thức sâu sắc về pháp luật hiện hành; cần nắm vững những phong tục, tập
quán, văn hoá xã hội nơi mình giải quyết công việc; khi tiến hành giải quyết cần phải
22
Tiểu luận cuối khoá
công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh Vĩnh phúc;
nhanh chóng đưa Vĩnh Phúc trở thành một tỉnh công nghiệp thực hiện lời Bác Hồ căn
dặn khi người về thăm Vĩnh Phúc năm 1963 là: "…Phải xây dựng tỉnh Vĩnh Phúc trở
thành tỉnh phồn thịnh nhất Miền Bắc".
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Quy hoạch phát triển lưới điện trạm điện đến năm 2010 và có tính đến năm
2020 của tỉnh Vĩnh Phúc.
2. Nghị định 45/2001/NĐ-CP của Chính phủ về hoạt động điện lực và sử dụng
điện.
24
Tiểu luận cuối khoá
Tiểu luận cuối khoá
3. Tài liệu bồi huấn kiểm tra viên điện lực của Sở Công nghiệp(nay là Sở Công
Thương) Vĩnh Phúc .
4. Quyết định số 41/2001/QĐ-BCN của Bộ trưởng Bộ Công nghiệp(nay là Bộ
Công Thương) về việc ban hành quy định về an toàn điện nông thôn.
5. Quyết định số 12/2002/QĐ-BCN của Bộ trưởng Bộ Công nghiệp(nay là Bộ
Công Thương) về việc ban hành quy định kiểm tra cung ứng, sử dụng điện và xử lý vi
phạm hợp đồng mua bán điện.
6. Quyết định số 1373/QĐ-UB ngày 27/10/1997 của UBND tỉnh Vĩnh Phúc về
ban hành quy định, quản lý, cung ứng, sử dụng điện ở nông thôn trên địa bàn tỉnh
Vĩnh Phúc.
25