Tiểu luận quản lý nhà nước về đền bù giải phóng mặt bằng - Pdf 22

giới thiệu chung

Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc trong giai đoạn hiện
nay đòi hỏi rất lớn về đầu t xây dựng cơ bản. Thực tế những năm qua công tác
đầu t XDCB đã đạt đợc một số thành tựu to lớn, song bên cạnh đó cũng còn
không ít những khó khăn, trở ngại cần đợc sự quan tâm giải quyết kịp thời của
Đảng và Nhà nớc.
Một trong những khó khăn mang tính phổ biến mà hầu hết các công trình
xây dựng cơ bản, đặc biệt là các công trình xây dựng trong khu vực đô thị luôn
gặp phải, đó chính là những khó khăn, bế tắc trong việc đền bù giải phóng mặt
bằng . Có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc giải phóng mặt bằng chậm trễ , bế
tắc . Trớc hết là trong nhiều năm liền việc quản lý và tuân thủ chính sách đất đai
cha đợc coi trọng, tình trạng vi phạm trong quản lý, sử dụng đất đai còn phổ
biến . Các Cơ quan Nhà nớc, các tổ chức chính trị - xã hội bung ra làm kinh tế,
đã ngang nhiên chuyển quyền, mục đích sử dụng đất đợc giao cho các doanh
nghiệp và t nhân không đúng quy định của pháp luật . Khi Nhà nớc có kế hoạch
sử dụng đất vào xây dựng các công trình, đều phải tiến hành việc đền bù, giải
tỏa, gây thiệt hại rất lớn về kinh phí và thời gian . Chính sách đền bù, giải tỏa
của Nhà nớc tuy đã không ngừng đợc cải tiến và hoàn thiện song việc vận dụng
vào từng trờng hợp cụ thể rất khó khăn, giải quyết cha thật thỏa đáng và hài hòa
giữa lợi ích quốc gia, lợi ích của các tổ chức, các doanh nghiệp cũng nh lợi ích
của nhân dân lao động . Công tác quản lý Nhà nớc về đất đai nhiều lúc, nhiều
nơi còn chồng chéo, kém hiệu quả và không đợc chấn chỉnh kịp thời .
Trong thực tế có không ít những tình huống phức tạp đã và đang diễn ra
liên quan đến việc giải phóng mặt bằng . Tình huống giải phóng mặt bằng Dự
án cải tạo, mở rộng Cung Văn hóa Lao động Hữu nghị Việt - Xô đề cập trong
phạm vi bản tiểu luận này tuy cha phải đã là tình huống tiêu biểu nhất về mức
độ vi phạm nhng cũng phần nào giúp chúng ta thấy đợc sự cần thiết, cấp bách
phải tăng cờng công tác quản lý Nhà nớc về đất đai trong các Cơ quan Nhà nớc
và các tổ chức chính trị - xã hội .
Do hạn chế về thời gian cũng nh kinh nghiệm của bản thân, những hạn

kết các HĐKT sản xuất, dịch vụ, gia công với các tổ chức kinh tế Nhà nớc, tập
thể và t nhân trong khuôn khổ các chính sách và Pháp luật .
- Trung tâm SX-DV có nhiệm vụ thu hút lực lợng dôi d của các ban
trong cơ quan và con cái gia đình CBNV cha có việc làm, bồi dỡng nghiệp vụ tổ
chức thành các tổ sản xuất, dịch vụ . Tổ chức liên doanh liên liên kết sản xuất,
tổ chức các loại hình dịch vụ phục vụ CNVC Thủ đô chăm lo đời sống CBCNV
Liên đoàn LĐ Hà Nội .
- Các phòng, ban trong cơ quan có trách nhiệm bố trí cán bộ, hớng dẫn,
hỗ trợ, tạo mọi điều kiện cho Trung tâm SX-DV hoạt động . ,,
Để có cơ sở cho Trung tâm SX-DV hoạt động theo nội dung Quyết định
thành lập nói trên, ngày 22/4/1989 Liên đoàn lao động Hà Nội có Quyết định số
322 QĐ/CQ v/v giao quyền quản lý toàn bộ địa điểm 14A Trần Bình Trọng cho
Trung tâm SX-DV . Điều 1 và 2 Quyết định có nêu :

Giao cho Trung tâm SX-DV toàn bộ địa điểm 14 A Trần Bình Trọng để
tổ chức sản xuất và dịch vụ . ,, Ban kiến thiết Cung Văn hóa lao động Hữu
nghị Việt-Xô có trách nhiệm thu xếp bàn giao để Trrung tâm SX-DV đa vào kế
hoạch tu sửa, sử dụng .,,
2
Ban kiến thiết Cung Văn hóa LĐHN Việt-Xô, không thực hiện quyết
định bàn giao cho Trung tâm SX-DV, mà tiến hành bàn giao trực tiếp cho Ban
Giám đốc Cung Văn hóa , biên bản bàn giao ký ngày 25/9/1990 .
Cũng vào ngày 25/9/1990 Liên đoàn lao động Hà Nội ra Quyết định số
749/ QĐ v/v bàn giao địa điểm 14A Trần Bình Trọng . Nội dung Quyết định có
nêu : Để tận dụng công suất một số thiết bị và nhà cửa ở 14A Trần Bình Trọng
trong thời gian cha xây dựng tiếp các công trình văn hóa, thể dục, thể thao tại
khu vực này. ,, ; Ban Giám đốc Cung Văn hóa LĐHN Việt-Xô bàn giao nhà
cửa ở 14 A Trần Bình Trọng nh biên bản bàn giao giữa Ban Kiến thiết và Ban
Giám đốc Cung Văn hóa ngày 25/9/1990 cho Ban Giám đốc Trung tâm SX-DV
quản lý và sử dụng cho đến khi có quyết định mới . Kèm theo Quyết định

3
Xô 1 số phòng để tiếp các Phu nhân Nguyên thủ Quốc gia, cho tháo dỡ toàn bộ
khu Nhà khách tại 14A Trần Bình Trọng trớc ngày 31/3/1997. Tiếp đó Tổng
Liên đoàn Lao động Việt Nam có Công văn số 253/TLĐ ngày 12/03/1997 yêu
cầu Liên đoàn Lao động thành phố Hà Nội, chỉ đạo các đơn vị có liên quan tháo
dỡ toàn bộ khu vực Nhà khách và văn phòng Công ty Kinh Đô tại 14A Trần
Bình Trọng thuộc địa phận Cung Văn hóa LĐHN Việt-Xô . Điểm 2 Công văn
quy định : Từ ngày 12/3/1997 đến 31/3/1997 tổ chức phá dỡ xong toàn bộ các
công trình nêu trên . Nội dung văn bản không quy định nguyên tắc đền bù thiệt
hại .
Sau khi nhận đợc công văn 253/TLĐ ngày 12/3/1997 của Tổng LĐLĐ
Việt Nam, ngày 01/4/1997, Giám đốc Công ty Kinh Đô có công văn số 42/CV-
CTKĐ gửi Văn phòng Chính phủ, Tổng LĐLĐ Việt Nam về 1 số giải trình và
kiến nghị của Công ty trong việc phá dỡ Nhà khách 14A Trần Bình Trọng .
Toàn bộ nội dung giải trình và kiến nghị của Giám đốc Công ty dài 6
trang đợc tóm lợc nh sau :
- Sự hình thành Công ty Kinh Đô.
- Sự đầu t và phát triển của nhà khách 14A Trần Bình Trọng : Tính từ thời
điểm bàn giao tháng 10 năm 1990, Công ty Kinh đô đã 5 lần đầu t và cải tạo lớn
bằng nguồn vốn vay ngân hàng và vốn tự tích lũy . Hiện trạng bàn giao ban đầu
chỉ có 500 m2 nhà kho cấp 4, dột nát và xuống cấp nghiêm trọng. Diện tích
1.500 m2 đất còn lại, thờng xuyên bị bùn lầy, nớc đọng không có hệ thống cấp
thoát nớc và đờng điện 3 pha . Năm 1995, tổng diện tích mặt bằng ( cả nhà và
đất ) do Công ty quản lý chỉ còn lại 1300 m2 do việc mở thông đờng Trần Quốc
Toản ( Quyết định số 1584/TLĐ ngày 25/12/1994 của Tổng LĐLĐ Việt Nam ) .
Trong tổng diện tích 1.300 m2 Công ty đã xây dựng mới và cải tạo đợc 800 m2
nhà có tiện nghi hiện đại, trong đó có 700 m2 nhà cấp 4, 100m2 nhà cấp 3. Diện
tích đất còn lại 500m2 công ty đã cải tạo, xây dựng thành sân chơi và bãi đỗ xe
đổ bê tông cho khách, có đầy đủ dàn hoa, cây cảnh, hệ thống cấp thoát nớc và đ-
ờng điện 3 pha . Hiện tại ngoài 700 m2 nhà cấp 4 làm nhà khách đang khai thác

việc để Công ty Kinh Đô tổ chức sản xuất kinh doanh, giải quyết việc làm cho
ngời lao động ( xin Tổng LĐLĐ cấp cho Nhà chùa tại 14 Trần Bình Trọng nay
tổng Liên đoàn đang để không ).
- Xin đền bù toàn bộ thiệt hại cho Công ty theo luật định .
- Văn phòng Chính phủ, Tổng LĐLĐ Việt Nam cần có các cuộc làm việc
lắng nghe Công ty Kinh Đô báo cáo cụ thể về việc này, có phơng án giải quyết
thỏa đáng, tránh hậu quả xấu về việc làm, đời sống cho ngời lao động đang làm
việc tại 14A Trần Bình Trọng .

Tiếp theo, Công đoàn Công ty Kinh Đô có văn bản số 03/CV-CĐ ngày
18/6/1887 gửi Văn phòng Chính phủ, Chủ tịch Tổng LĐLĐ Việt Nam, Chủ tịch
LĐLĐ t/p Hà Nội . Nội dung văn bản ngoài việc nhắc lại kiến nghị của Giám
đốc Công ty Kinh Đô tại công văn số 42/CV-CTKĐ, còn nhấn mạnh :
Khẳng định Công ty Kinh Đô là doanh nghiệp đoàn thể, kinh doanh
hợp pháp, có đâỳ đủ t cách pháp nhân, một cơ sở làm ăn có lãi, làm đầy đủ mọi
nghĩa vụ đối với Nhà nớc . Công ty đợc LĐLĐ Hà Nội giao cho quản lý tài sản
của LĐLĐ thành phố tại 14A Trần Bình Trọng từ 1988 đến nay để phát triển sản
xuất kinh doanh tạo việc làm cho cán bộ công đoàn là hoàn toàn sự thật, công
5
việc làm ăn ngày càng phát triển, đời sống CBCNVC năm sau cao hơn năm tr-
ớc . thu nhập bình quân của CBCNVC hiện nay là 900.000 đồng / tháng . Việc
Chính phủ phá dỡ nhà khách 14A TBT là hoàn toàn bất ngờ đối với chúng tôi
Đề nghị Chính phủ cấp địa điểm làm việc mới, kinh phí tháo dỡ, kinh phí xây
dựng lại địa điểm và trợ cấp đời sống cho 40 CBCNV có danh sách kèm theo
Sau khi nhận đợc văn bản của Tổng LĐLĐ VN, Giám đốc và Công đoàn
Công ty Kinh Đô, LĐLĐ Hà Nội là cơ quan quản lý trực tiếp hoàn toàn không
có văn bản trả lời .
Thực hiện ý kiến kết luận của Phó Thủ tớng Nguyễn Khánh tại cuộc họp
giao ban lãnh đạo các Bộ thành viên Ban chỉ đạo thực hiện dự án ngày
28/5/1997 về việc nghiên cứu hỗ trợ đền bù giải tỏa mặt bằng . Trên cơ sở đề

các bên tham dự thông qua . Nội dung chính của biên bản đợc ký là phần kiến
nghị chính sách trợ cấp cho Công ty Kinh Đô nh sau :
1. Trợ cấp thiệt hại về nhà , sân vờn, công trình phụ trợ : 585 tr.đồng
(Giá trị còn lại 70%, giá 1m2 XD nhà tại thời điểm theo quy định hiện hành :
nhà cấp 4 : 900.000 đ, nhà cấp 3 : 1.300.000đ, sân và công trình phụ trợ tính bằn
10% theo quy định .
2. Trợ cấp phá dỡ, san ủi mặt bằng : 65 tr.đồng (50.000 đ/m2 x 1.300
m2 ).
3. Trợ cấp h hỏng tài sản, thiết bị do di chuyển và tiền bảo quản : 20.000
tr.đồng .
4. Trợ cấp tiền thuê vận chuyển : 25 tr.đồng ( 50 chuyến xe, 500.000
đồng / chuyến ).
5. Trợ cấp ngừng việc cho CBCNV : 149 tr.đồng ( 23 ngời , 18 tháng,
360.000 đ/ tháng ).
6.Trợ cấp thiệt hại thanh lý 4 HĐKT trớc thời hạn : 69 tr.đồng ( Tính
theo giá trị và điều khoản cụ thể của từng HĐKT).
7.Trợ cấp hậu quả đình đốn sản xuất đột xuất : 291,6 triệu đồng( 6
tháng,70 triệu đồng doanh thu 1 tháng trừ trợ cấp lơng và thuế doanh thu 10%).
8.Trợ cấp thiệt hại về đất để bù đắp chi phí mua địa điểm mới : 1.105
tr.đồng ( 1300m2, 850.000đ/m2, vận dụng khoản 3 điều 18 QĐ 3455/QĐ-UB
ngày 20/9/1996 của UBND T/p Hà Nội ).
Tổng cộng toàn bộ kinh phí trợ cấp : 2.306,9 tr.đồng.
Công ty Kinh Đô ký biên bản, có bảo lu ý kiến, đề nghị Chính phủ duyệt
trợ cấp thêm 100 tr.đồng giúp Công ty thanh toán thiệt hại cho 4 đơn vị và cá
nhân có HĐKT .
Tổng LĐLĐ VN sao chụp toàn bộ nội dung biên bản t vấn đền bù, có
công văn kèm theo đề nghị các Bộ chức năng tham gia ý kiến bằng văn bản để
tổng hợp trình Chính phủ . Văn bản trình Chính phủ của Tổng LĐLĐVN số
804/TLĐ ngày 07/7/1997, đề nghị duyệt tổng mức kinh phí hỗ trợ 2.306,9 triệu
đồng . Ngày 19/7/1997 ủy ban quốc gia tổ chức Hội nghị cấp cao 7 có văn bản

địa điểm 14A Trần Bình Trọng theo nội dung Quyết định 749QĐ/CĐ ngày
25/9/1990 và Quyết định số 696/KT ngày 01/12/1993 chỉ có tính chất hợp lý
không có tính hợp pháp . Quyết định của LĐLĐ Hà Nội không đúng chức năng
và thẩm quyền theo quy định tại điểm 1 điều 3 Nghị định 88/CP ngày 17/8/1994
của Chính phủ về quản lý và sử dụng đất đô thị đối với đất sử dụng vào mục
đích công cộng, mọi thay đổi mục đích sử dụng và chuyển quyền sử dụng đất
đều phải đợc cơ quan Nhà nớc có thẩm quyề giao đất đó quyết định ,, . Hơn nữa
theo điều 1 Quyết định số 696/KT nêu rõ Khi Cung Văn hóa lao động Hữu
nghị Việt-Xô có ngân sách xây dựng mở rộng, Công ty TNHH Kinh Đô sẽ bàn
giao cơ sở này sang Cung Văn hóa LĐHN Việt-Xô .
8
Theo quy định tại điểm a khoản 2 điều 2 Bản Quy định thực hiện Nghị
định 90/CP ngày 17/8/1994 của Chính phủ về việc đền bù thiệt hại khi Nhà nớc
thu hồi đất trên địa bàn Thành phố Hà Nội vào mục đích quốc phòng, an ninh,
lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng ban hành kèm theo Quyết định 3455/QĐ-UB
ngày 20/9/1995 của UBND t/p Hà Nội ( văn bản đang có hiệu lực thi hành ) ,
những giấy tờ hợp lệ về đất bao gồm : Quyết định giao, cấp đất của UBND
thành phố ( theo các quyết định 201/CP ngày 01/7/1980, Luật đất đai năm 1988,
Luật đất đai năm 1993 ). Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chính thức hoặc
tạm thời do UBND Thành phố cấp hoặc do UBND Quận, Huyện cấp nếu đợc ủy
quyền Công ty Kinh Đô không có các giấy tờ này nên không thể khẳng
định đợc quyền quản lý sử dụng hợp pháp về đất tại 14A Trần Bình Trọng .
Đối với việc đền bù thiệt hại về đất khoản 2 điều 4 Bản Quy định ban
hành kèm theo Quyết định 3455/QĐ-UB quy định : Đối với các tổ chức kinh
tế, khi Nhà nớc thu hồi đất chuyên dùng, nếu đất đang sử dụng đợc giao đã nộp
tiền sử dụng đất đó và tiền đó không thuộc ngân sách Nhà nớc cấp thì đợc đền
bù thiệt hại về đất . Trên thực tế Công ty Kinh Đô không đợc giao đất hợp pháp
nhng vẫn nộp thuế sử dụng đầy đủ và bằng nguồn vốn không phải của NSNN
cấp . Trong Bản quy định không đề cập đến trờng hợp cụ thể này .
Toàn bộ nhà cửa tại 14A TBT Công ty Kinh Đô không có giấy phép sở

Với những lý do đó việc trợ cấp một phần thiệt hại cho Công ty Kinh Đô
là hợp lý .
3. Giải pháp xử lý :
Để đảm bảo cả tính hợp pháp và tính hợp lý, giải pháp tối u là Nhà nớc có
chính sách trợ cấp một phần thiệt hại cho công ty Kinh Đô . Mức tiền trợ cấp
theo tính toán của tổ t vấn là hợp lý song phải đảm bảo các yêu cầu sau đây :
- Trớc hết phải chặt chẽ về nguyên tắc và thủ tục quản lý hành chính tức
là phải có Quyết định của Chính phủ về nguồn và mức đền bù .
- Tổng mức trợ cấp đợc chia theo mục đích sử dụng và thực hiện đúng
theo nguyên tắc quản lý tài chính . Phần trợ cấp có liên quan trực tiếp đến ngời
lao động và thu nhập của Công ty đợc chuyển thẳng cho Công ty thực hiện chi
trả . Phần trợ cấp liên quan đến mục đích hỗ trợ tạo dựng địa điểm mới ( thiệt
hại về nhà và đất ) phải quản lý theo trình tự quản lý ĐTXDCB . Để đợc cấp
khoản tiền này Công ty phải tiến hành lập và có dự án đầu t đợc duyệt, trong đó
có phần kinh phí trợ cấp và phần công ty tự huy động hoặc sử dụng vốn vay .
- Toàn bộ kinh phí trợ cấp đợc tính vào giá trị công trình Cung Văn hóa
để theo dõi quản lý.
III. KIếN NGHị CHUNG
Trong thực tiễn đầu t XDCB ở nớc ta thời gian qua, tình huống xảy ra tại
Cung Văn hóa LĐHN Việt-Xô không phải là cá biệt, nó chỉ là một ví dụ trong
rất nhiều tình huống đã và đang xảy ra trên thực tế . Các tình huống đó tuy khác
nhau về thời gian, địa điểm, về phạm vi và mức độ phức tạp song khái quát
chung lại, đều có một điểm chung nhất : phản ánh thực trạng công tác quản lý
Nhà nớc về đất đai trong các cơ quan đoàn thể, các tổ chức chính trị-xã hội còn
nhiều tồn tại và yếu điểm, cần đợc khắc phục kịp thời .
10
Biểu hiện tồn tại, yếu điểm trong công tác quản lý Nhà nớc về đất đai
trong các cơ quan đoàn thể, các tổ chức chính trị-xã hội chính là việc chuyển
giao quyền và mục đích sử dụng đất đợc giao không tuân thủ quy định của Pháp
luật, quyết định có liên quan đến tài sản, đất đai không đúng chức năng và thẩm

- Hoàn chỉnh lại các văn bản pháp quy hớng dẫn thi hành Luật đất đai
theo hớng chính xác, cụ thể, có hiệu quả pháp lý cao và luôn sát với tình hình
thực tế .
- Coi trọng công tác giáo dục để tăng cờng trình độ nhận thức và ý thức
chấp hành Luật đất đai .
11
- Gắn với việc tăng cờng quản lý Nhà nớc về đất đai cần thiết phải thực
thi 1 chính sách Nhà nớc về xắp xếp lại các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh
nghiệp thuộc các tổ chức chính trị-xã hội .
Tất cả các nội dung trên nếu đợc thực hiện một cách kịp thời, đồng bộ
chắc chẵn sẽ tăng cờng đợc cơ bản hiệu lực và hiệu quả của quản lý Nhà nớc về
đất đai trong các Cơ quan, đoàn thể, các tổ chức chính trị-xã hội.
Kết LUậN
Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là t liệu sản xuất đặc biệt,
là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trờng sống, là cở sở của việc tiến
hành đầu t XDCB - nền tảng của sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất
nớc . Quản lý Nhà nớc về đất đai có tầm quan trọng đặc biệt, nó chính là trọng
trách của Đảng và Nhà nớc là trách nhiệm của mỗi cơ quan, tổ chức và của mọi
công dân .
Tình huống vi phạm xảy ra tại Cung Văn hóa LĐHN Việt-Xô nói riêng
và các tình huống có tính phổ biến khác đã, đang và sẽ xảy ra nói chung đã
phản ánh trung thực tình trạng buông lỏng quản lý về đất đai ở nớc ta trong
nhiều năm liền . Nhằm khắc phục tình trạng thực tế này, điều quan trọng và
khẩn thiết hiện nay là tăng cờng quản lý Nhà nớc về đất đai trong các cơ quan
Nhà nớc, các tổ chức chính trị - xã hội . Dới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, sự
đổi mới không ngừng trong công tác quản lý của Nhà nớc chắc chắn công tác
quản lý Nhà nớc về đất đai sẽ đợc tăng cờng và ngày càng hoàn thiện ./.
12


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status