BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
--------------------------------
NGUYỄN THỊ THANH HẢI
GIẢI PHÁP GÓP PHẦN ĐẨY MẠNH CHƯƠNG TRÌNH
XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN KỲ SƠN, TỈNH HÒA BÌNH
Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã số: 60.62.01.15
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:TS. Trần Thị Thu Hà
Hà Nội, 2014
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
Nước ta là một nước nông nghiệp và trải qua lịch sử quá trình đấu tranh
lâu dài dựng nước và giữ nước, nên đã hình thành văn hóa người dân thường
sống quần tụ theo từng dòng họ và theo phạm vi làng, xã. Cùng với văn minh
lúa nước, làng (bản, thôn, xóm…) đã trở thành nét văn hóa riêng của người
60 km về phía Tây Bắc. Trong những năm qua, huyện Kỳ Sơn đã đẩy mạnh
các chương trình phát triển kinh tế - xã hội nông thôn như chương trình bê
tông hóa kênh mương, làm đường nhựa, đường bê tông, xây dựng trường học,
trạm y tế và các thiết chế văn hóa, thể dục thể thao đạt chuẩn quốc gia, chuyển đổi
cơ cấu mùa vụ, cây trồng vật nuôi, phát triển làng nghề…theo hướng xây dựng
nông thôn mới. Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng kết quả đạt được vẫn còn khiêm
tốn, cơ sở hạ tầng của huyện còn nhiều bất cập và xây dựng thiếu quy hoạch, Kỳ
Sơn vẫn là một huyện nghèo, kinh tế của huyện vẫn là thuần nông, sản xuất hàng
hóa chưa phát triển, đời sống của nhân dân còn hết sức khó khăn.
Triển khai thực hiện Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của
Thủ tướng Chính phủ về xây dựng nông thôn mới theo chuẩn nông thôn mới,
huyện Kỳ Sơn đang gặp nhiều khó khăn, vướng mắc cần giải quyết như xuất
phát điểm của huyện thấp, trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ còn hạn chế,
đời sống của nhân dân còn khó khăn. Để góp phần công sức vào quá trình
xây dựng nông thôn mới ở địa phương, tôi chọn đề tài nghiên cứu “Giải
pháp góp phần đẩy mạnh chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa
bàn huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình” làm luận văn tốt nghiệp cao học Kinh
tế nông nghiệp.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu chung
Góp phần đề xuất các giải pháp đẩy mạnh quá trình xây dựng nông
3
thôn mới ở địa phương trong thời gian tới.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận, thực tiễn về nông thôn mới và xây dựng
nông thôn mới ở nước ta hiện nay;
- Đánh giá thực trạng dựng nông thôn mới ở huyện Kỳ Sơn thời gian qua
- Cơ sở lý luận, thực tiễn về xây dựng nông thôn mới ở nước ta hiện nay;
- Thực trạng xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Kỳ Sơn, tỉnh
Hoà Bình; Những khó khăn, hạn chế và các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình xây
dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hoà Bình.
- Các giải pháp nhằm đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới trên địa bàn
huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hoà Bình.
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, luận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam.
Chương 2. Đặc điểm của địa bàn và phương pháp nghiên cứu.
Chương 3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận.
5
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XÂY DỰNG
NÔNG THÔN MỚI Ở VIỆT NAM
1.1. Cơ sở lý luận về xây dựng nông thôn mới
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của nông thôn
1.1.1.1. Khái niệm
Nông thôn là địa bàn có các cộng đồng dân cư sinh sống gắn bó, cùng
trực tiếp khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên vào sản xuất nông nghiệp
các hoạt động kinh tê khác.
Hiện nay còn có nhiều quan điểm khác nhau để phân biệt nông thôn với
thành thị. Khái niệm nông thôn chỉ có tính chất tương đối và luôn biến động
theo thời gian để phản ánh biến đổi về kinh tế xã hội của mỗi quốc gia trên
thế giới. Trong điều kiện Việt Nam có thể hiểu:
“Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp dân cư, trong đó chủ yếu là
lao động nông nghiệp, hoạt động kinh tế phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự
nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn
với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc
văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ
vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao;
theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Với tinh thần đó, nông thôn mới có năm nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất là nông thôn có làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại.
Hai là sản xuất bền vững, theo hướng hàng hóa.
Ba là đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao.
Bốn là bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát triển.
Năm là xã hội nông thôn được quản lý tốt và dân chủ.
NTM là một vùng nông thôn có những đặc điểm theo tiêu chí mới mà
Đảng và Nhà nước đưa ra về NTM. NTM là một vùng nông thôn có nền sản
7
xuất tiếp thu được những thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại mà vẫn giữ
được nét đặc trưng, tinh hoa văn hóa của nông thôn truyền thống. Có thể quan
niệm: “Mô hình NTM là tổng thể những đặc điểm, cấu trúc tạo thành một
kiểu tổ chức nông thôn theo tiêu chí mới, đáp ứng yêu cầu mới đặt ra cho nông
thôn trong điều kiện hiện nay, là kiểu nông thôn được xây dựng trên cơ sở
nông thôn cũ (truyền thống, đã có) nhưng mang tính tiên tiến về mọi mặt”
NTM trước hết là một vùng nông thôn chứ không phải đô thị. Bởi nó vẫn
mang những nét đặc trưng vốn có của nông thôn truyền thống, cả về quan hệ
sản xuất và lực lượng sản xuất, cả về hình thái bên trong và bên ngoài (về cơ sở
hạ tầng, về quy hoạch bố trí nhà ở, hình thức nhà ở, đường làng ngõ xóm… và về
quan hệ xóm giềng, về phong cách sống của người dân nông thôn). Tuy nhiên
NTM là vùng nông thôn có những nét hiện đại mà nông thôn truyền thống không
có được. Đó là việc canh tác theo kiểu hiện đại, sử dụng các công nghệ kĩ thuật
1.1.3. Chức năng của nông thôn mới
1.1.3.1. Chức năng sản xuất nông nghiệp hiện đại
Nông thôn là nơi diễn ra phần lớn các hoạt động sản xuất nông nghiệp
của các quốc gia. Có thể nói nông nghiệp là chức năng tự nhiên của nông
thôn. Chức năng cơ bản của nông thôn mới là sản xuất dồi dào các sản phẩm
nông nghiệp chất lượng cao. Khác với nông thôn truyền thống, sản xuất nông
nghiệp của nông thôn mới bao gồm cơ cấu các ngành nghề mới, các điều kiện
sản xuất nông nghiệp hiện đại hoá, ứng dụng phổ biến khoa học kỹ thuật tiên
tiến và xây dựng các tổ chức nông nghiệp hiện đại.
1.1.3.2. Chức năng giữ gìn văn hóa truyền thống
Trải qua hàng nghìn năm phát triển, làng xóm ở nông thôn được hình
thành dựa trên những cộng đồng có cùng phong tục, tập quán, huyết thống. Ở
đó quan hệ huyết thống là mối quan hệ quan trọng nhất. Chính các tập thể
nông dân cùng huyết thống đã giúp họ khắc phục được những nhược điểm
của kinh tế tiểu nông, giúp bà con nông dân chống chọi với thiên tai đại họa.
9
Các truyền thống văn hoá quý báu này đòi hỏi phải được giữ gìn và
phát triển trong một hoàn cảnh đặc thù. Môi trường thành thị là nơi có tính
mở cao, con người cũng có tính năng động cao, vì thế văn hoá quê hương ở
đây sẽ không còn tính kế tục. Do vậy, chỉ có nông thôn với đặc điểm sản xuất
nông nghiệp và tụ cư theo dân tộc, dòng tộc mới là môi trường thích hợp nhất
để giữ gìn và kế tục văn hoá quê hương.
1.1.3.3. Chức năng sinh thái
Trong nông thôn truyền thống, con người và tự nhiên sinh sống hài
hoà với nhau, chức năng người tôn trọng tự nhiện, bảo vệ tự nhiên và hình
thành nên thói quen làm việc theo quy luật tự nhiên. Quá trình mưu cầu cuộc
sống đầy đủ về vật chất đã khiến người thành thị càng ngày càng xa rời tự
quốc lần thứ III đã xác định đường lối chung của miền Bắc trong thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội là: Đưa miền Bắc từ nền kinh tế chủ yếu dựa trên sở
hữu cá thể về tư liệu sản xuất tiến lên nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, dựa trên
sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể... từ tình trạng kinh tế rời rạc và lạc hậu,
xây dựng thành một nền kinh tế cân đối và hiện đại. Chủ trương của Đảng là:
“...xây dựng một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa cân đối và hiện đại, kết hợp
công nghiệp với nông nghiệp và lấy công nghiệp nặng làm nền tảng, ưu tiên
phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, đồng thời ra sức phát triển nông
nghiệp và công nghiệp nhẹ...”1
Hội nghị Trung ương 5 khóa III (năm 1961) đã ra Nghị quyết về vấn
đề phát triển nông nghiệp, trong đó nêu lên phương hướng cải tiến công cụ và
cơ giới hóa nông nghiệp trong kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965).
Đại hội IV (năm 1976): Sau khi miền Nam hoàn toàn được giải phóng,
Đảng ta đã chủ trương: “Đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, đưa
1
(Văn kiện Đại hội, Ban chấp hànhTrung ương Đảng Lao động Việt Nam, xuất bản tháng 9 – 1960, tr.182-183).
11
nền kinh tế nước ta từ nền sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa...
kết hợp xây dựng công nghiệp và nông nghiệp cả nước thành một cơ cấu kinh
tế công – nông nghiệp”2. Đại hội đã xác định kế hoạch 5 năm 1976 – 1980 là:
“Tập trung cao độ lực lượng của cả nước, của các ngành, các cấp, tạo ra một
bước phát triển vượt bậc về nông nghiệp... nhằm giải quyết vững chắc nhu
cầu của cả nước về lương thực, thực phẩm và một phần hàng tiêu dùng thông
thường...”
Đại hội V đã chỉ rõ: “Trong 5 năm 1981 – 1985 và những năm 80 cần
đến năm 2000. Đại hội VII đã chỉ rõ: “Phát triển nông, lâm, ngư nghiệp gắn
với công nghiệp chế biến, phát triển toàn diện kinh tế nông thôn và xây dựng
nông thôn mới là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để ổn định tình hình kinh tế xã hội”3 (Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb. Sự thật, Hà
Nội, 1991, tr 67).
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII: Xem xét việc thực hiện Nghị
quyết Đại hội VII và quá trình 10 năm đổi mới, Đại hội VIII đã nhận định
rằng nước ta đã chuyển sang thời kỳ phát triển mới, thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, đồng thời khẳng định: “Mục tiêu của công nghiệp
hóa, hiện đại hóa là xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở
vật chất – kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ,
phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và
tinh thần cao, quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, văn minh” Tiếp theo, Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành trung
ương Đảng khóa VIII đã ra Nghị quyết về “Tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi
mới, phát huy nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, cần kiện để công
nghiệp hoá, hiện đại hóa, phấn đấu hoàn thành các mục tiêu kinh tế - xã hội
đến năm 2000”. Nghị quyết đã xác định những nội dung cần đẩy mạnh trong
phát triển nông nghiệp và nông thôn, đó là: Đẩy nhanh quá trình chuyển dịch
3
(Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 80).
13
cơ cấu kinh tế gắn với phân công lao động ở nông thôn; giải quyết vấn đề thị
trường tiêu thụ nông sản; phát triển mạnh các hình thức kinh tế hợp tác, đổi
mới các hoạt động của các cơ sở quốc doanh trong nông nghiệp và nông thôn,
phát triển các cơ sở quốc doanh ở vùng sâu, vùng xa.
thật, Hà Nội,2011 tr. 75).
Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011 – 2020 đã xác định rõ định
hướng trong xây dựng nông thôn mới: Quy hoạch phát triển nông thôn gắn
với phát triển đô thị và bố trí các điểm dân cư. Phát triển mạnh công nghiệp,
dịch vụ và làng nghề gắn với bảo vệ môi trường. Triển khai chương trình
nông thôn mới phù hợp với đặc điểm từng vùng theo các bước đi cụ thể, vững
chắc trong từng giai đoạn; giữ gìn và phát huy những nét văn hóa đặc sắc của
nông thôn Việt Nam. Đẩy mạnh xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn. Tạo môi
trường thuận lợi để khai thác mọi khả năng đầu tư vào nông nghiệp và nông
thôn, nhất là đầu tư của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, thu hút nhiều lao động.
Triển khai có hiệu quả Chương trình đào tạo nghề cho 1 triệu lao động nông
thôn mỗi năm. Thực hiện tốt các chương trình hỗ trợ nhà ở cho người nghèo
và các đối tượng chính sách, chương trình nhà ở cho đồng bào vùng bão, lũ;
bố trí hợp lý dân cư, bảo đảm an toàn ở những vùng ngập lũ, sạt lở núi, ven
sông, ven biển
1.2.3. Nội dung xây dựng nông thôn mới
1.2.3.1. Quy hoạch xây dựng nông thôn mới
Quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu: Quy hoạch sử dụng đất và
hạ tầng thiết yếu cho phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa theo Thông tư
07/2010/TT-BNNPTNT, ngày 08/02/2010 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn; Quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển công
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ theo Thông tư số 31/2009/TT-BXD,
ngày 10/9/2009 của Bộ Xây dựng.
Quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội – môi trường; phát triển
các khu dân cư mới và chỉnh trang các khu dân cư hiện có trên địa bàn xã theo
Thông tư số 09/2010/TT-BXD, ngày 04/8/2010 và Sổ tay hướng dẫn lập quy
15
của Bộ xây dựng.
Xây dựng điểm phục vụ bưu chính viễn thông (đại lý bưu điện hoặc ki
ốt, bưu cục hoặc điểm bưu điện – văn hóa, thùng thư công cộng, điểm truy
nhập dịch vụ bưu chính, viễn thông...) với diện tích tối thiểu 150m2;
Xây dựng điểm cung cấp dịch vụ truy nhập Internet ở thôn (đối với
Internet băng rộng (ADSL) theo tiêu chuẩn TCN 68-227:2006 ban hành tại
Quyết định định số 55/2006/QĐ-BBCVT ngày 25/12/2006 của Bộ Bưu chính
viễn thông) .
Xây dựng đê hoặc bờ bao chống lũ theo tiêu chuẩn hoàn chỉnh mặt cắt
thiết kế, cứng hóa mặt đê và đường hành lang chân đê, trồng cỏ mái đê, trồng
cây chân đê phía sông, phía biển; cống dưới đê vững chắc, đồng bộ với mặt
cắt đê; lử lý sạt lở đảm bảo ổn định; đảm bảo môi trường xanh sạch đẹp; có
ban chỉ huy phòng chống lụt bão xã, có đội quản lý đê nhân dân, đội tuần tra,
canh gác đê trong mùa mưa lũ theo quy định, hoạt động có hiệu quả;
Hoàn thiện các công trình tưới tiêu, cấp nước công nghiệp, cấp nước
sinh hoạt đảm bảo theo tiêu chuẩn thiết kế Việt Nam đối với từng loại, phát
huy trên 75% năng lực thiết kế, 100% công trình có chủ quản lý đích thực;
Kiên cố hóa kênh mương (kể cả mương nội đồng);
Hoàn chỉnh trụ sở xã: Trụ sở xã xây dựng ở nơi trung tâm, thuận tiện
đối nội, đối ngoại, diện tích khuôn viên tối thiểu 1000m2, diện tích sử dụng
của trụ sở đối với khu vực đồng bằng, trung du tối thiểu 500m2, khu vực miền núi
hải đảo tối thiểu 400m2; mật độ xây dựng dưới 50%, mật độ cây xanh trên 30%.
Nhà ở nông thôn: Chỉnh trang các khu dân cư hiện có; xóa nhà tạm, dột
nát, xây dựng, hoàn thành nhà ở nông thôn đạt tiêu chuẩn của Bộ xây dựng,
phù hợp với Quy hoạch theo Thông tư số 31/2009/TT-BXD, ngày 10/9/2009
của Bộ Xây dựng.
Yêu cầu: đạt các tiêu chí 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9 trong Bộ tiêu chí quốc gia
17
18
Đạt và duy trì chuẩn quốc gia về phổ cập tiểu học, chống mù chữ. Đảm
bảo huy động trẻ 6 tuổi học lớp 1 đạt 90% (xã đặc biệt khó khăn đạt 80%) trở
lên. Ít nhất 80% (xã đặc biệt khó khăn đạt 70 %) số trẻ nhóm tuổi 11-14 tốt
nghiệp tiểu học, số còn lại đang học tiểu học.
Phổ cập giáo dục trung học. Đảm bảo tỷ lệ tốt nghiệp trung học cơ sở
hàng năm từ 90% (xã đặc biệt khó khăn đạt 70%) trở lên. Tỷ lệ thanh thiếu
niên 15-18 tuổi có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở từ 80% (xã đặc biệt khó
khăn đạt 70%) trở lên.
Nâng cao tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở được tiếp tục học
trung học phổ thông. Đẩy mạnh đào tạo nghề.
Yêu cầu: đạt tiêu chí 5, 14 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới.
1.2.3.7. Phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân
Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về y tế (theo Quyết
định 108/2007/QĐ-Tg, ngày 17/7/2007 của Thủ Tướng Chính Phủ).
Nâng cao tỷ lệ người dân tham gia các hình thức bảo hiểm y tế.
Yêu cầu: đạt tiêu chí 5 và 15 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới.
1.2.3.8. Xây dựng đời sống văn hóa, thông tin và truyền thông
Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về văn hóa. Phấn
đấu xã có trên 70% số thôn, bản đạt tiêu chuẩn “Làng văn hóa” theo Quyết
định 62/2006/QĐ-BVHTT ngày 23/6/2006 (nay là Bộ Văn hóa - Thể thao và
Du lịch).
Thực hiện thông tin và truyền thông nông thôn. Xã có Đài truyền thanh
xã hoạt động có hiệu quả.
Yêu cầu: đạt tiêu chí 6 và 16 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới.
1.2.3.9. Cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn
Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi
trường nông thôn: Đảm bảo cung cấp đủ nước sinh hoat sạch và hợp vệ sinh
20
1.2.3.11. Giữ vững an ninh, trật tự xã hội ở nông thôn
Ban hành, thực hiện nội quy, quy ước làng xóm về trật tự, an ninh;
phòng chống các tệ nạn xã hội và các hủ tục lạc hậu.
Hàng năm Đảng ủy có nghị quyết, UBND có kế hoạch về công tác an
ninh, xã đạt đơn vị khá trở lên trong “Phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ
quốc”, Công an xã đạt danh hiện “Đơn vị tiên tiến” trở lên.
Đảm bảo cho lực lượng an ninh xã, thôn, xóm hoàn thành nhiệm vụ đảm
bảo an ninh, trật tự xã hội trên địa bàn theo yêu cầu xây dựng nông thôn mới.
Không để xẩy ra các hoạt động chống đối; không để xẩy ra mâu thuẫn,
tranh chấp trong nhân dân, các loại tội phạm, tai nạn giao thông giảm.
Yêu cầu: đạt tiêu chí số 19 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới.
1.3. Cơ sở thực tiễn về xây dựng nông thôn mới
1.3.1. Kinh nghiệm xây dựng nông thôn ở một số nước trên thế giới
1.3.1.1. Kinh nghiệm của Hàn Quốc
Hàn Quốc nằm trên bán đảo Triều Tiên, một nước từng bị đô hộ từ cuối
thế kỷ 19, xuất phát điểm là một trong những quốc gia nghèo đói. Cuối thập
kỷ 60 GDP bình quân đầu người chỉ có 85USD, phần lớn người dân không đủ
ăn, 80% người dân nông thôn vẫn không có điện thắp sáng và phải dùng đèn
dầu, ở trong những căn nhà lợp bằng lá. Lúc ấy, nền kinh tế của Hàn Quốc
phải dựa vào nông nghiệp trong khi khắp đất nước, lũ lụt và hạn hạn lại xảy
ra thường xuyên. Xã hội Hàn Quốc thời đó là một xã hội thờ ơ, hỗn độn và vô
vọng. Mối lo lớn nhất của Chính phủ là làm sao thoát khỏi đói nghèo.
Sau trận lụt năm 1969, người dân phải tu sửa lại nhà cửa và đường sá
mà không có sự trợ giúp của Chính phủ. Điều này làm Tổng thống suy nghĩ
rất nhiều và nhận ra rằng “viện trợ của Chính phủ cũng là vô nghĩa nếu người
dân không nghĩ cách tự giúp chính mình”. Hơn thế nữa, khuyến khích người
nghiệp Trung Quốc chủ yếu làm sao cho đảm bảo ổn định đời sống nhân dân
nhưng sau ngày gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), ngành nông
22
nghiệp của Trung Quốc đã nhìn thấy bất lợi của nông dân. Vào thời điểm năm
2001, giá cả các mặt hàng lúa mì, đậu nành, ngô, vải sợi, dầu thực phẩm và
đường cao hơn mức giá thế giới từ 10 đến 70%, trong khi đó, thịt, rau quả, hải
sản lại thấp hơn mức giá thế giới 40-80%.
Trừng trị tham nhũng, xây dựng chính trị mạnh ở nông thôn: Để cho
nông thôn phát triển nhanh và lành mạnh, Trung Quốc quan tâm việc xây
dựng hệ thống trừng trị và phòng ngừa tham nhũng, đồng thời xây dựng đảng
liêm chính ở nông thôn.
1.3.2. Tình hình xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam
Thực hiện Nghị quyết trung ương 7 (khóa X), Thủ tướng Chính phủ đã
ban hành Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới tại Quyết định 491/QĐ-TTg,
ngày 16/4/2009 và Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn
mới giai đoạn 2010 – 2020 tại Quyết định 800/QĐ-TTg, ngày 04/6/2020.
Ngày 02 tháng 02 năm 2010, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định
193/QĐ-TTg Phê duyệt Chương trình rà soát quy hoạch xây dựng nông thôn mới.
Kết quả thực hiện đến nay trên các lĩnh vực như sau:
1.3.2.1. Thành lập bộ máy chỉ đạo từ Trung ương đến cơ sở
Ngày 01 tháng 7 năm 2010, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định
1013/QĐ-TTg Thành lập Ban chỉ đạo Trung ương Chương trình mục tiêu
quốc gia xây dựng nông thôn mới, giai đoạn 2010 – 2020. Ban Chỉ đạo Trung
ương có 24 thành viên, do đồng chí Nguyễn Sinh Hùng – Phó Thủ tướng
Thường trực Chính Phủ làm Trưởng ban, Bộ trưởng Bộ nông nghiệp và phát
triển nông thôn Cao Đức Phát làm Phó trưởng ban thường trực.
Ban chỉ đạo Trung ương đã ban hành Quy chế hoạt động (tại quyết định
họp báo, tổ chức Hội nghị với các tổ chức quốc tế... cũng đã được tiến hành.
Ban chỉ đạo Trung ương đã chọn 5 tỉnh là Phú Thọ, Thái Bình, Hà
Tĩnh, Bình Phước, An Giang và 05 huyện là Nam Đàn – Nghệ An, Hải Hậu –
Nam Định, Phước Long –Bạc Liêu, Phú Ninh –Quảng Nam, K’Bang –Gia Lai
24
làm điểm chỉ đạo.
Theo Cục kinh tế hợp tác Phát triển nông thôn (công bố tại hội nghị
ngày 15/2/2011), đến tháng 2 năm 2011, có 60 tỉnh chọn xã làm điểm chỉ đạo
trước khi nhân ra diện rộng (766 xã/119 huyện), trong đó đa số lựa chọn 4-10
xã (chiếm 3-4%). Một số tỉnh chọn số xã làm điểm lớn như Phú Yên 22%,
Đồng Tháp 25%, Hà Giang 23%, Lào Cai 31%... Có tỉnh đề ra kế hoạch hoàn
thành xây dựng nông thôn mới sớm hơn kế hoạch của Trung ương như Quảng
Ninh phấn đầu 70% xã đạt nông thôn mới vào năm 2015.
1.3.2.3. Ban hành các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo
Theo sự chỉ đạo của Chính Phủ, các Bộ, ngành trung ương đã ban hành
nhiều thông tư hướng dẫn quản lý, thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia
xây dựng nông thôn mới.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành Thông tư số
54/2009/TT-BNNPTNT, ngày 21 tháng 8 năm 2009, về “Hướng dẫn thực
hiện Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới” và Thông tư 07/2010/TTBNNPTNT, ngày 08/02/2010 về “Hướng dẫn quy hoạch phát triển sản xuất
nông nghiệp cấp xã”.
Bộ Xây dựng ban hành Thông tư 21/2009/TT-BXD, ngày 30/6/2009 về
“Quy định việc lập, thẩm định, phê duyệt và quản lý quy hoạch xây dựng
nông thôn”; Thông tư số 31/2009/TT-BXD ngày 10/9/2009 về “ Ban hành
tiêu chuẩn quy hoạch xây dựng nông thôn” và Thông tư số 32/2009/TT-BXD,
ngày 10/9/2009 về “Ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quy hoạch xây
dựng nông thôn”; Thông tư 09/2010/TT-BXD ngày 4/8/2010 và Sổ tay