Quản lý nhà nước đối với dự án đầu tưNhom 8 – Phan biên đâu thâu
MỤC LỤC
......................................................................................................................................... 39
Trang 1
Quản lý nhà nước đối với dự án đầu tưNhom 8 – Phan biên đâu thâu
DANH MỤC VIẾT TẮT
BMT
HSMT
HSDT
HSYC
HSĐX
DA
UBND
HĐND
Bên mời thầu
Hồ sơ mời thầu
Hồ sơ dự thầu
Hồ sơ yêu cầu
Hồ sơ đề xuất
Dự án
Ủy ban nhân dân
Hội đồng nhân dân
Trang 2
hợp với điều kiện của mình với giá thấp hơn.
- Năm 1998, trong từ điển tiếng Việt định nghĩa:
Đấu thầu là đọ công khai ai nhận làm, nhận bán với điều kiện tốt nhất thì được giao
cho làm hoặc bán.
- Quy chế đấu thầu ban hành 1/1/1999 kèm theo NĐ 88 định nghĩa như sau:
Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của BMT. ở đây bên
mua còn gọi là BMT, bên bán còn gọi là các nhà thầu. Bên mua sẽ cung cấp cho bên bán
những yêu cầu (trong HSMT). Sau một thời gian cụ thể, bên bán phải trả lời người mua,
bên bán phải nộp cho người mua bản chào hàng. Tất cả những điều đó được thể hiện
trong HSDT hay là đề xuất dự thầu.
- Trong Luật đấu thầu năm 2005 giải thích:
Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của bên mời thầu để
thực hiện gói thầu thuộc các dự án quy định tại Điều 1 của Luật này trên cơ sở bảo đảm
tính cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế.
2, Vai trò của đấu thầu
Hành vi đấu thầu là một hình thức cạnh tranh văn minh trong nền kinh tế thị
trường phát triển nhằm lựa chọn nhà thầu đáp ứng các yêu cầu kinh tế kỹ thuật của chủ
đầu tư. Như vậy đấu thầu ra đời và tồn tại với mục tiêu nhằm thực hiện tính cạnh tranh,
công bằng, minh bạch để lựa chọn ra nhà thầu phù hợp nhất và bảo đảm hiệu quả kinh tế
của một dự án đầu tư.
Đấu thầu có vai trò đảm bảo bốn nội dung: hiệu quả - cạnh tranh - công bằng minh bạch. Hiệu quả có thể về mặt tài chính hoặc về thời gian hay một tiêu chí nào khác
tuỳ thuộc vào mục tiêu của DA. Muốn đảm bảo hiệu quả cho DA phải tạo điều kiện cho
nhà thầu cạnh tranh công khai ở phạm vi rộng nhất có thể nhằm tạo ra sự công bằng, đảm
Trang 4
Quản lý nhà nước đối với dự án đầu tưNhom 8 – Phan biên đâu thâu
bảo lợi ích cho các bên. Với các DA có tổng đầu tư lớn, có gía trị về mặt kinh tế hoặc xã
giá bỏ thầu thấp nhưng vẫn thu được lợi nhuận.
- Vai trò đối với nền kinh tế quốc dân
Trang 5
Quản lý nhà nước đối với dự án đầu tưNhom 8 – Phan biên đâu thâu
Đấu thầu góp phần nâng cao hiệu quả của công tác quản lý nhà nước về đầu tư và
xây dựng, hạn chế và loại trừ được tình trạng thất thoát, lãng phí vốn đầu tư.
Đấu thầu góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực xây dựng
cơ bản nói riêng và toàn nền kinh tế nói chung.
Đấu thầu tạo ra môi trường cạnh tranh bình đẳng và lành mạnh giữa các đơn vị xây
dựng. Đây là động lực to lớn thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp xây dựng
nước ta và tạo điều kiện ứng dụng khoa học kỹ thuật, đổi mới công nghệ xây dựng, từng
bước hội nhập với khu vực và thế giới.
3, Nguyên tắc đấu thầu:
- Nguyên tắc hiệu quả về tài chính và hiệu quả về thời gian.
- Nguyên tắc cạnh tranh: nguyên tắc cạnh tranh tạo điều kiện cho các nhà thầu
cạnh tranh với nhau ở phạm vi rộng nhất có thể.
- Nguyên tắc công bằng: nguyên tắc này đảm bảo đối xử như nhau đối với các nhà
thầu tham gia dự thầu.
- Nguyên tắc minh bạch: đây là nguyên tắc quan trọng nhất nhưng khó thực hiện
và khó kiểm tra nhất. Nguyên tắc này nói rằng: trong quá trình thực hiện đấu thầu thì các
hoạt động diễn ra không được gây nghi ngờ cho các nhà thầu, BMT và cơ quan quản lý.
4, Hình thức và phương thức đấu thầu
- Hình thức lựa chọn nhà thầu dựa trên số lượng nhà thầu tham gia đấu thầu để
phân chia. Có 7 hình thức đấu thầu:
• Đấu thầu rộng rãi : Đây là hình thức đấu thầu không hạn chế số lượng nhà thầu tham gia.
chia:
•
•
•
•
Đấu thầu tuyển chọn tư vấn.
Đấu thầu xây lắp.
Đấu thầu mua sắm hàng hóa và các dịch vụ khác.
Đấu thầu lựa chọn đối tác thực hiện dự án.
II, THỰC TRẠNG ĐẤU THẦU Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA.
1, Những kết quả đạt được của hoạt động đấu thầu ở Việt Nam thời gian qua.
- Hệ thống văn bản pháp quy về đấu thầu về cơ bản được hoàn thiện, thống nhất
theo hướng tăng cường phân cấp:
Hệ thống văn bản pháp luật về đấu thầu cơ bản đó được hoàn thiện, thống nhất
theo hướng tăng cường phân cấp. Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã ban hành các văn bản hướng
dẫn về đấu thầu đảm bảo thực hiện quy định của pháp luật về đấu thầu được thông suốt,
thống nhất và thuận tiện trong quá trình thực hiện dự án, khắc phục được những khó khăn
trong quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản. Luật và các văn bản hướng dẫn thi
hành đó thống nhất và chuẩn hóa về thủ tục, thời gian trong hoạt động đấu thầu, quy định
chi tiết về lập, thẩm định phê duyệt kế hoạch đấu thầu, hồ sơ mời thầu, đánh giá hồ sơ dự
thầu, nâng cao quyền và trách nhiệm của chủ đầu tư, từ đó tạo điều kiện tiết kiệm thời
gian trong đấu thầu, đảm bảo tiến độ chung của toàn bộ dự án đầu tư.
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ
bản bước đầu đã đi vào cuộc sống, nâng cao vai trò của chủ đầu tư trong quá trình quản
lý, điều hành và quyết định các nội dung trong quá trình triển khai dự án (quyết định nội
dung hồ sơ mời thầu, phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu, giải quyết tình huống trong
đấu thầu). Việc tăng cường phân cấp cho chủ đầu tư đó tăng cường tính chủ động linh
hoạt cho chủ đầu tư, thu hẹp được cấp trình duyệt trong quá trình lựa chọn nhà thầu nên
200.724 tỷ đồng. Đối với hình thức chỉ định thầu thì tổng giá gói thầu áp dụng chỉ định
thầu năm 2009 là 196.892 tỷ đồng, đến năm 2010 giảm xuống 77.592 tỷ đồng là 119.299
tỷ đồng.
Trang 8
Quản lý nhà nước đối với dự án đầu tưNhom 8 – Phan biên đâu thâu
Nguồn:
- Tiết kiệm cho nguồn vốn của Nhà nước:
Mặc dù mấy năm qua có nhiều biến động về giá cả, song công tác đấu thầu vẫn
mang lại hiệu quả đáng kể. Việc thực hiện theo Luật Đấu thầu, Luật sửa đổi và Nghị định
85/CP không chỉ giúp chủ đầu tư, bên mời thầu lựa chọn được nhà thầu có đủ năng lực,
kinh nghiệm để thực hiện gói thầu mà còn giúp Nhà nước tiết kiệm được một nguồn vốn
lớn.
Chẳng hạn như năm 2010: tiết kiệm được 23.172,078 tỷ đồng, tương đương 1,1 tỷ
USD bằng 1% GDP của cả nước, đây là con số rất ý nghĩa thể hiện hiệu quả của công tác
đấu thầu. Tỷ lệ tiết kiệm đối với hình thức chỉ định thầu năm 2010 cao hơn năm 2009
(năm 2009 từ 2,07% tăng lên 4,74%).
Trang 9
Quản lý nhà nước đối với dự án đầu tưNhom 8 – Phan biên đâu thâu
Nguồn: htttp://muasamcong.mpi.gov.vn
thầu qua mạng - tại địa chỉ htttp://muasamcong.mpi.gov.vn được cập nhật hàng ngày, tận
dụng các ư u thế của mạng internet trong việc tạo thuận tiện cho các tổ chức, cá nhân
đang tải, truy cập và tìm kiếm thông tin đấu thầu ở mọi lúc, mọi nơi.
Đồng thời đây là kênh thông tin hữu ích cho cơ quản quản lý nhà nước về đấu thầu
tiếp thu các góp ý đối với các văn bản quy phạm pháp luật trước khi ban hành.
Ngoài ra, chuyên mục đường dây nóng ra đời từ tháng 6/2008 và chính thức trở
thành một chuyên mục rất được đông đảo độc giả quan tâm từ tháng 8/2008. Bộ phận tiếp
nhận thông tin phản ánh từ khắp cả nước về những việc làm trái quy định, không phù hợp,
làm khó nhà thầu. Từ những bài viết trên chuyên mục đường dây nóng, cơ quan chức
năng vào cuộc yêu cầu các đơn vị bị phản ánh cần nghiêm túc thực hiện đúng Luật Đấu
thầu.
Trên cơ sở các báo cáo của các Bộ, ngành, địa phương gửi đến về danh sách các tổ
chức, cá nhân bị xử lý vi phạm pháp luật về đấu thầu và danh sách nhà thầu nước ngoài
trúng thầu tại Việt Nam, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã theo dõi và tổng hợp danh sách và
đăng tải trên trang web muasamcong.mpi.gov.vn để các chủ đầu tư và bên mời thầu được
biết.
Hiện nay, đấu thầu qua mạng đã trở thành xu thế tất yếu của nhiều quốc gia. Theo
báo cáo của các nước đã triển khai, đấu thầu qua mạng có thể giúp tiết kiệm chi phí từ 3%
đến 20% giá trị đấu thầu mua sắm, trung bình là 10%. Tại Việt Nam, tổng giá trị các gói
thầu thực hiện theo Luật Đấu thầu hàng năm khoảng 20% GDP (tương đương hơn 20 tỷ
USD). Nếu triển khai đấu thầu qua mạng cho 100% các gói thầu thì có thể tiết kiệm hàng
tỷ
USD
cho
ngân
sách
nhà
nước.
Đặc biệt, đấu thầu qua mạng làm tăng tính công khai, minh bạch thông tin trong
hoạt động đấu thầu, thể hiện quyết tâm phòng chống tham nhũng của Chính phủ, tạo sự
2, Những tồn tại của hoạt động đấu thầu ở Việt Nam thời gian qua.
Tuy nhiên tình hình thực hiện công tác đấu thầu thời gian qua có một số tồn tại,
hạn chế như sau:
- Hệ thống pháp luật trong đấu thầu đã có nhưng chưa đồng bộ.
Các quy định về đấu thầu còn tản mạn, quy định rải rác trong nhiều văn bản quy
phạm pháp luật khác nhau gây nên tình trạng chồng chéo, thiếu thống nhất giữa các văn
bản, gây khó khăn trong quá trình quản lý và thực hiện.
Chẳng hạn như:
Đấu thầu lựa chọn nhà thầu được quy định tại Luật đấu thầu, Luật xây dựng và
Luật sửa đổi một số điều của các luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản (Luật số
38/2009/QH12).
Đấu thầu theo phương thức mua sắm tập trung được quy định tại Quyết định số
179/2007/QĐ-TTg, Thông tư số 22/2008/TT-BTC.
Đấu thầu cung cấp dịch vụ sự nghiệp công được quy định tại Quyết định số
39/2008/QĐ-TTg.
Trang 12
Quản lý nhà nước đối với dự án đầu tưNhom 8 – Phan biên đâu thâu
Đấu thầu cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích được quy định tại Nghị định số
31/2005/NĐ-CP, Quyết định số 256/2006/QĐ-TTg.
- Cơ chế chính sách liên quan đến đấu thầu của một số cơ quan Chính phủ chưa
được ban hành kịp thời và việc triển khai thực hiện còn hạn chế:
Năm 2010 là năm bắt đầu thực thi Luật sửa đổi, Nghị định 85/CP sau khi các thay
đổi chính sách pháp luật về đấu thầu diễn ra nhanh chóng. Ngay sau khi Luật sửa đổi,
Nghị định 85/CP ra đời, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã ban hành rất nhiều các mẫu tài liệu
đấu thầu và thông tư hướng dẫn. Một số cơ quan được Chính phủ giao nhiệm vụ hướng
dẫn một số nội dung về đấu thầu (quy định tại Điều 76 Nghị định 85/CP) (Bộ Tài chính,
ra thì phải sau đấu thầu, sau thanh kiểm tra, thậm chí sau khi thực hiện xong gói thầu, trừ
trường hợp có kiến nghị. Bên cạnh đó năng lực chuyên môn của nhiều chủ đầu tư, bên
mời thầu đặc biệt là ở cấp huyện, xã, khu vực vùng sâu, vùng xa, các bệnh viện, trường
học.. còn hạn chế do các chủ đầu tư, bên mời thầu chưa có kinh nghiệm, tính chuyên môn
chưa cao dẫn đến chất lượng của hoạt động đấu thầu chưa được đảm bảo.
Trang 13
Quản lý nhà nước đối với dự án đầu tưNhom 8 – Phan biên đâu thâu
Ở rất nhiều địa phương, một số chủ đầu tư là Giám đốc bệnh viện, Hiệu trưởng
trường học.. rất ngại xem xét, phê duyệt kết quả đấu thầu vì thiếu chuyên môn về lĩnh vực
quản lý nhà nước về đấu thầu nhưng lại cũng e ngại về chất lượng của các tổ chức tư vấn
đấu thầu. Do đó, các chủ đầu tư nêu trên vẫn trông mong vào sự hỗ trợ của các cơ quan
Nhà nước có chức năng quản lý nhà nước về đấu thầu. Ngoài ra, chất lượng của một số
đơn vị tư vấn ở địa phương còn hạn chế, đặc biệt là tư vấn đấu thầu. Nhiều hồ sơ do các
đơn vị tư vấn lập để chủ đầu tư trình thẩm định, phê duyệt không đạt yêu cầu, có nhiều sai
sót dẫn đến hồ sơ không đạt chất lượng và yêu cầu theo quy định, kéo dài thời gian thẩm
định,
ảnh
hưởng
đến
tiến
độ
thực
hiện
dự
án.
- Chất lượng của một số công việc chuẩn bị cho đấu thầu vẫn còn bất cập, công tác
Quản lý nhà nước đối với dự án đầu tưNhom 8 – Phan biên đâu thâu
- Hình thức lựa chọn nhà thầu được áp dụng chưa đáp ứng tinh thần tiết kiệm và
đảm bảo hiệu quả kinh tế:
Ví dụ: năm 2010 mặc dù chỉ định thầu là hình thức lựa chọn nhà thầu mang lại
hiệu quả kinh tế không cao (thể hiện qua giá trị và tỷ lệ tiết kiệm khá thấp) vậy mà chỉ
định thầu lại được áp dụng nhiều nhất trong. Cụ thể như: trong tổng số gói thầu được thực
hiện, chỉ định thầu chiếm 73,78%; sử dụng 113.643,51 tỷ đồng (chiếm 33% tổng giá trúng
thầu) và chỉ mang lại tỷ lệ tiết kiệm 4,7%; hay trong tổng số 89.516 gói thầu thuộc các dự
án đầu tư phát triển, chỉ định thầu chiếm 75,47% tổng số gói; sử dụng 108.594 tỷ đồng
(chiếm 33,5% tổng giá trúng thầu) và chỉ mang lại tỷ lệ tiết kiệm 4%.
Ngược lại, đấu thầu rộng rãi hay đấu thầu hạn chế đều có tỷ lệ tiết kiệm cao hơn rất
nhiều lần so với chỉ định thầu, cụ thể là 7,56% (đấu thầu rộng rãi) và 6,29% (đấu thầu hạn
chế) lại ít được lựa chọn áp dụng. Đấu thầu rộng rãi có số gói thầu áp dụng chỉ bằng 1/5
số gói thầu chỉ định thầu nhưng mang lại giá trị tiết kiệm cao gần gấp 1,5 lần giá trị tiết
kiệm do chỉ định thầu mang lại. Đấu thầu hạn chế được xem như là một hình thức lựa
chọn nhà thầu kém cạnh tranh, nhưng so với chỉ định thầu thì vẫn hiệu quả hơn: số gói
thầu áp dụng đấu thầu hạn chế chỉ bằng 1,86% số gói thầu áp dụng chỉ định thầu nhưng
mang lại giá trị tiết kiệm cao hơn so với giá trị tiết kiệm do chỉ định thầu mang lại. Các
hình thức lựa chọn nhà thầu khác như mua sắm trực tiếp, mua sắm đặc biệt hay tự thực
hiện được áp dụng với hơn 4000 gói thầu nhưng lại đạt tỷ lệ tiết kiệm cao nhất là 9%
- Xu hướng đề nghị được áp dụng hình thức chỉ định thầu vẫn còn nhiều, không
thực
hiện
đúng
theo
tinh
thần
đã
thang.
Trong một số trường hợp ở các gói thầu xây lắp, nhà thầu có tâm lý thực hiện hợp đồng
cầm chừng để được điều chỉnh giá trị hợp đồng khi có các thay đổi về chính sách của nhà
nước về tiền lương, giá ca máy,... Trong một số trường hợp khác, nhà thầu khi thực hiện
hợp đồng đã không đảm bảo được năng lực tài chính dẫn đến chậm trễ trong triển khai dự
án.
Ngoài ra, một số chủ đầu tư chưa quan tâm thực hiện công tác giám sát thi công,
đôn đốc các nhà thầu xây lắp đảm bảo tiến độ đúng quy định.
Tình trạng các dự án chậm tiến độ vẫn phổ biến. Trong 6 tháng đầu năm 2013, có
3.006 dự án chậm tiến độ, chiếm 11,2% số dự án thực hiện trong kỳ. Nguyên nhân chủ
yếu là do công tác giải phóng mặt bằng (1.058 dự án, chiếm 3,94% số dự án thực hiện
trong kỳ); do bố trí vốn không kịp thời (655 dự án, chiếm 2,48% số dự án thực hiện trong
kỳ); do năng lực của chủ đầu tư, ban quản lý dự án và các nhà thầu (271 dự án, chiếm
1,01% số dự án thực hiện trong kỳ); do thủ tục đầu tư (413 dự án, chiếm 1,54% số dự án
thực hiện trong kỳ) và do các nguyên nhân khác (501 dự án, chiếm 1,87% số dự án thực
hiện trong kỳ). Một số cơ quan có dự án chậm tiến độ lớn như Hà Nội (105 dự án), TP. Hồ
Chí Minh (293 dự án), Thanh Hóa (178 dự án), Thái Bình (31 dự án).
Chẳng hạn như Dự án đường sắt đô thị Cát Linh – Hà Đông có chiều dài 13km,
tổng mức đầu tư 8.700 tỷ, dự kiến hoàn thành vào tháng 6/2015 nhưng đến nay khối
lượng công việc mới đạt được một nửa. Tổng thầu EPC do Tập đoàn Cục 6 Đường sắt
Trung Quốc đảm nhận trong buổi họp ngày 17/10/2013 cũng đã thừa nhận rất khó khăn để
đảm bảo tiến độ như kế hoạch. Nguyên nhân chính là do tất cả các khâu từ khảo sát, thiết
kế, quy hoạch, thi công, bố trí vốn...chủ đầu tư đều chậm trong việc bàn giao mốc giới,
kiểm kê, kiểm đếm, GPMB chậm, di dời các công trình chậm.
- Cơ chế giám sát, kiểm tra và xử lý vi phạm trong hoạt động đấu thầu chưa được
quy định cụ thể, chặt chẽ. Thực tế cho thấy, một số hành vi lách luật hoặc không tuân thủ
đầy đủ quy định của pháp luật đấu thầu đã phát sinh trong thời gian qua, nhưng chế tài xử
lý vi phạm chưa đủ mạnh và chưa đầy đủ đối với tất cả các bên tham gia hoạt động đấu
Trang 16
Thời gian thực hiện: hoàn thành giai đoạn chuẩn bị thực hiện đầu tư quý I/2004,
thực hiện xây lắp quý I/2004.
Quy mô đầu tư: Với diện tích khu đất 36.642,8 m 2, cao độ hiện trạng +2,8, thiết kế
cao độ san lấp là + 4,15m phù hợp với cao độ để xây dựng các công trình của Hải Phòng,
xung quanh lô đất đắp con trạch bằng đất để giữ cát đen san lấp.
Khối lượng chính gồm: đào bùn đổ đi, đắp con trạch và san lấp cát đen.
Do dự án có quy mô nhỏ nên chỉ có một gói thầu xây lắp. Tổng giá trị gói thầu
được dựa trên báo cáo đầu tư, căn cứ theo giá trị hiện hành.
2, Cơ sở pháp lý tổ chức đấu thầu.
+ Căn cứ quyết định số 102/QĐ – UB ngày 17/3/2004 của UBND quận Hải An về
việc phê duyệt báo cáo đầu tư xây dựng công trình san lấp mặt bằng giao đất cho dân làm
nhà ở khu 1A phường Đằng Lâm – Hải An.
+ Căn cứ luật tổ chức HĐND và UBND.
Trang 17
Quản lý nhà nước đối với dự án đầu tưNhom 8 – Phan biên đâu thâu
+ Căn cứ nghị định số 88/1999/NĐ – CP ngày 1/9/1999 về việc ban hành quy chế
quản lý đầu tư và xây dựng, nghị định số 14/2000/NĐ-CP ngày 5/5/2000 và nghị định số
66/2003/NĐ-CP ngày 12/6/2003 của Chính Phủ về việc bổ sung sửa đổi một số quy định
trong quy chế đấu thầu.
+ Căn cứ quyết định số: 613/QĐ – UB ngày 7/9/2004 của UBND quận Hải An về
việc phê duyệt thiết kế kỹ thuật tổng dự toán gói thầu san lấp mặt bằng giao đất cho dân
làm nhà ở khu 1A, phường Đằng Lâm – Hải An.
+ Xét đề nghị của chủ tịch UBND phường Đằng Lâm tại tờ trình số 43/TT-UB
ngày 10/9/2004 về việc xin đề nghị phê duyệt giá trị gói thầu và danh sách các nhà thầu
tham dự đấu thầu gói thầu xây lắp – san lấp mặt bằng giao đất cho dân làm nhà ở khu 1A,
phường Đằng Lâm – Quận Hải An.
3.3, Mở thầu:
Vào hồi 9h30 ngày 25/10/2004 (theo đúng lịch quy định trong hồ sơ mời thầu) tại
UBND phường Đằng Lâm đã tổ chức hội nghị mở thầu công khai gói thầu xây lắp – san
lấp mặt bằng giao đất cho dân làm nhà ở ku 1A phường Đằng Lâm trước sự tham gia và
chứng kiến của các đại biểu như trên.
Hội đồng mở thầu đã công khai lần lượt bóc liêm phong và mở 5 hồ sơ dự thầu nội
dung được công bố (đọc và viết lên bảng). Biên bản đóng thầu lập xong hồi 11h15 được
thông qua hội nghị, các thành viên đều nhất trí ký tên. Các hồ sơ liên quan được trao lại
cho chủ đầu tư và tổ chuyên gia xét thầu để xem xét, đánh giá tiếp ở bước sau.
Kết quả như sau:
Bảng 3: Bảng kết quả mở thầu HSDT của các nhà thầu.
Đơn vị: 1000 đồng
Cty
thương
mại đầu tư
và
xây
dựng HP
Cty
cổ
phần xây
Cty xây
dựng và
dựng Ngô
phát triển
Quyền
cơ sở hạ
tầng
04
04
04
04
04
3 Đơn thầu
01
01
01
01
01
4 BL dự thầu 30.000
30.000
30.000
30.000
Trang 19
Quản lý nhà nước đối với dự án đầu tưNhom 8 – Phan biên đâu thâu
7 Thư giảm Không
giá
Không
Không
Không
Không
8 Giá
bỏ 2.488.908
thầu
sau
giảm giá
2.555.880
2.549.710
2.588.426
2.564.600
Quản lý nhà nước đối với dự án đầu tưNhom 8 – Phan biên đâu thâu
dự thầu hợp lệ so với yêu cầu của HSMT và hội nghị nhất trí chuyển sang bước đánh giá
chi tiết.
Đánh giá chi tiết:
B1: Đánh giá về mặt kỹ thuật HSDT của 05 nhà thầu.
Sau khi thẩm tra xem xét từng hồ sơ, tổ chuyên gia thống nhất đánh giá bằng số
điểm cụ thể cho 05 HSDT như sau: (kèm theo bảng điểm chi tiết của tổ chuyên gia chấm
thầu)
Bảng 4: Bảng kết quả đánh giá chi tiết kỹ thuật HSDT của các nhà thầu
Cty
thương
mại
Đtư và
XDHP
Cty
XD và
phát
triển cơ
sở hạ
tầng
Cty
XD
Ngô
Quyền
Cty XD
và SX
23,75
25,25
23,75
22,5
2 Tính hợp lý, khả thi 10
của các giải pháp kỹ
thuật và biện pháp tổ
chức thi công
8,5
7,25
7,75
8
6,15
3 Các bp BVMT, 05
phòng chống cháy
nổ, an ninh trật tự, an
toàn lao động
4,25
Tổng số điểm đánh 100
giá
Trang 21
Quản lý nhà nước đối với dự án đầu tưNhom 8 – Phan biên đâu thâu
công suất, khả năng
huy động cho gói
thầu
5 Các bp bảo đảm chất 10
lượng công trình
8,5
7,5
7,25
7
6,75
6 Mức độ đảm bảo tiến 05
độ quy định trong
HSMT
3,75
3,5
3,75
3,25
3,25
3,25
9 Bảo hành, bảo hiểm 05
công trình
4,25
3,25
3,5
3,5
3,75
Đối chiếu với quy định của quy chế đấu thầu và tiêu chuẩn đánh giá HSDT thang
điểm được duyệt thì 5 nhà thầu trên đều đạt số điểm từ 70 điểm trở lên và được đưa vào
danh sách tiếp tục bước 2 – đánh giá về tài chính thương mại.
Bước 2: Đánh giá về mặt tài chính thương mại
Giá trị gói thầu được duyệt là 2.494.564.000 đồng ( hai tỷ bốn trăm chín mươi tư
triệu năm trăm sáu mươi tư ngàn đồng chẵn).
–
Tổng Cty
XD Bạch
Đằng
Giá dự thầu sau 2.488.908
giảm giá
2.555.880
2.549.71
0
2.588.42
6
2.564.600
Sửa lỗi số học
0
-1
0
+5
Hiệu chỉnh sai 0
lệch
4
+3
1
Đơn vị tính: 1000 đồng- Nguồn: Phòng Kế hoạch tài chính
Theo kết quả trong bảng trên thì công ty Thương mại đầu tư và xây dựng Hải
Phòng là đơn vị có giá đánh giá thấp nhất và nhỏ hơn giá trị gói thầu được duyệt, được
xếp thứ nhất. Tổ chuyên gia xét thầu nhất trí đề nghị chủ đầu tư báo cáo phòng Kế hoạch
tài chính xem xét trình UBND quận Hải An phê duyệt kết quả đấu thầu gói thầu xây lắp –
san lấp mặt bằng giao đất cho dân làm nhà ở khu 1A phường Đằng Lâm cho:
Đơn vị trúng thầu là: Công ty thương mại đầu tư và xây dựng Hải Phòng
Giá đề nghị trúng thầu: 2.488.911.000 đồng
(Bằng chữ: hai tỷ bốn trăm tám tám triệu chín trăm mười một ngàn đồng chẵn.)
Thời gian thực hiện hợp đồng là: 48 ngày kể từ ngày khởi công.
Loại hợp đồng: hợp đồng trọn gói.
Các thành viên của tổ chuyên gia đã nhất trí thông qua ký biên bản vào hồi 11 giờ
ngày 27/10/2004 và chuyển giao toàn bộ hồ sơ dự thầu của các nhà thầu cho chủ đầu tư
quản lý.
Trang 23
Quản lý nhà nước đối với dự án đầu tưNhom 8 – Phan biên đâu thâu
4. Nhận xét về quá trình tổ chức đấu thầu của dự án.
Qua ví dụ trên chúng ta có thể thấy rằng quy trình tổ chức đấu thầu tại gói thầu xây
lắp san lấp mặt bằng giao đất cho dân làm nhà ở khu 1A phường Đằng Lâm UBND quận
Quản lý nhà nước đối với dự án đầu tưNhom 8 – Phan biên đâu thâu
IV. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG ĐẤU
THẦU Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI.
1, Hoàn chỉnh hệ thống văn bản pháp luật về đấu thầu.
Nghiên cứu để hoàn thiện hệ thống văn bản pháp quy về đấu thầu luôn là trọng tâm
của công tác quản lý nhà nước về đấu thầu. Sau khi Nghị định 85/CP được ban hành, Bộ Kế
hoạch và Đầu tư khẩn trương rà soát, sửa đổi các văn bản hướng dẫn đã ban hành cho phù
hợp với Nghị định mới. Bên cạnh đó, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đang trình Chính phủ về việc
bổ sung sửa đổi Luật Đấu thầu và đưa vào chương trình xây dựng Luật và Pháp lệnh năm
2012-2013 của Quốc hội. Các Bộ có liên quan như Bộ Tài Chính, Bộ Công Thương cần sớm
sửa đổi, bổ sung các văn bản hướng dẫn đã ban hành; thực hiện ban hành các văn bản hướng
dẫn theo nhiệm vụ được Chính phủ giao để đảm bảo đầy đủ cơ sở pháp lý và tạo thuận lợi
cho quá trình thực hiện.
2, Tổ chức phổ biến quán triệt thực thi pháp luật về đấu thầu và nâng cao chất
lượng cán bộ làm công tác đấu thầu.
Việc phân cấp trong đấu thầu đã và đang được các Bộ ngành, địa phương triển khai
triệt để, đến tận cấp xã, phường (thậm chí hiệu trưởng các trường tiểu học, trung học cũng
được phân cấp thẩm quyền phê duyệt quyết định đầu tư, là người có thẩm quyền trong đấu
thầu). Tuy nhiên, năng lực của chủ đầu tư ở cấp huyện, xã, các trường học, bệnh viện..., của
một số đơn vị tư vấn, bên mời thầu còn nhiều hạn chế. Vì vậy, tổ chức phổ biến, quán triệt
thi hành các quy định của pháp luật hiện hành về đấu thầu cho chủ đầu tư, bên mời thầu, các
tổ chức tư vấn thông qua đào tạo, bồi dưỡng tăng cường năng lực cho các cán bộ làm công
tác đấu thầu là cần thiết.
Trên cơ sở quy định của Luật Đấu thầu về vấn đề đào tạo, bồi dưỡng, mạng lưới các
đơn vị tổ chức hoạt động đào tạo về đấu thầu cũng đã từng bước được hình thành. Tuy
nhiên, chất lượng đào tạo của các cơ sở đào tạo còn chưa đồng đều. Do đó, trong thời gian
tới, cần có các quy định cụ thể về việc quản lý chất lượng đào tạo, chương trình khung đào
tạo để phát triển một mạng lưới đào tạo có chất lượng đảm bảo, góp phần triển khai sâu rộng