LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường, các vấn đề tài chính với các chức năng tạo nguồn,
sinh lời ,kiểm soát, đòn bẩy luôn được xem như những yếu tố hàng đầu trong quá
trình đổi mới và phát triển của từng doanh nghiệp.Nắm bắt và làm chủ được quá
trình tài chính hết sức phức tạp diễn ra trong mỗi doanh nghiệp, giữa các doanh
nghiệp với nhau trong môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt là yêu cầu cấp
thiết đối với các nhà quản lý kinh tế nói chung và các nhà quản trị doanh nghiệp
Việt Nam nói riêng.
Các doanh nghiệp khi thành lập bao giờ cũng đặt ra cho mình những mục tiêu
nhất định và tất nhiên mỗi doanh nghiệp khác nhau thì mục tiêu đặt ra cũng khác
nhau.Tuy nhiên trong các doanh nghiệp kinh doanh thì mục tiêu bao trùm nhất đó
là tối đa hóa giá trị tài sản cho các chủ sở hữu hay nói cách khác là tối đa hóa giá tị
thị trường cho doanh nghiệp.Để đạt được mục tiêu này đòi hỏi người quản trị tài
chính phải tìm mọi biện pháp để duy trì và gia tăng lợi nhuận kiếm được thông
qua việc đưa ra chính sách giá cả hợp lý, không ngừng gia tăng doanh thu.Kiểm
soát chặt chẽ chi phí,tiết kiệm chi phí.Quản trị tốt hàng tồn kho, các khoản phải
thu.Đặc biệt, phải đảm bảo luôn đủ khả năng thanh toán của doanh nghiệp
Quyết định nguồn vốn là một quyết định rất quan trọng trong quản trị tài chính
doanh nghiệp.Hiện nay cùng với sự phát triển ngày càng cao của thị trường tài
chính,các hình thức tài trợ vốn cho các doanh nghiệp ngày càng đa dạng và phong
phú hơn giúp các doanh nghiệp có điều kiện lựa chọn,đáp ứng kịp thời nhu cầu
vốn của mình.Tuy nhiên mỗi nguồn vốn khác nhau lại có chi phí và ưu, nhược
điểm khác nhau.Do đó đòi hỏi nhà quản trị phải cân nhắc kĩ trước khi đưa ra
quyết định để đảm bảo vừa đáp ứng nhu cầu vốn cho doanh nghiệp nhưng vẫn
phải đảm bảo chi phí sử dụng vốn thấp và hạn chế những rủi ro tài chính của công
ty
Vì vậy, nhóm em đã quyết định chọn đề tài là “Huy động vốn qua phát hành trái
phiếu”, một kênh huy động khá hiệu quả và tìm hiểu xem lí do tại sao nguồn tài
trợ này ngày càng được nhiều doanh nghiệp lựa chọn
Nguồn vốn dài hạn( NV thường xuyên): các NV có tính chất ổn định mà DN
có thể sử dụng dài hạn vào hoạt động kinh doanh( thường có thời hạn trên
1 năm). Do tính chất ổn định trong thời gian dài nên nguồn vốn này thường
sử dụng để hình thành tài sản dài hạn và một bộ phận tài sản ngắn hạn
thường xuyên của doanh nghiệp.
Nguồn vốn dài hạn = Vốn chủ sở hữu + Nợ dài hạn
Nguồn vốn ngắn hạn( NV tạm thời): là NV có thời hạn trong vòng 1 năm,
bao gồm các khoản vay ngắn hạn ngân hàng và các tổ chức tín dụng, các
khoản nợ ngắn hạn khác phát sinh trong quá trình kinh doanh: nợ phải trả
nhà cung cấp, các khoản phải trả người lao động,các khoản phải nộp Nhà
nước,…
c. Căn cứ vào phạm vi huy động vốn:
Nguồn vốn bên trong: là NV được huy động từ chính hoạt động của DN, thể
hiện khả năng tự tài trợ của doanh nghiệp. Khi nguồn vốn bên trong không
đáp ứng đủ nhu cầu vốn cho đầu tư thì phải tìm kiếm nguồn vốn từ bên
ngoài. Bao gồm:
• Nguồn lợi nhuận giữ lại để tái đầu tư
• Tích lũy tái đầu tư
- Nộp tiền sử dụng vốn ngân sách nhà nước theo quy định
- Trả các khoản phải quy định
- Lập các quỹ đặc biệt
• Điều chỉnh cơ cấu tài sản
phương thức cung ứng từ bên ngoài
• Cung ứng từ ngân sách nhà nước
• Gọi hùn vốn qua phát hành cổ phiếu
• Vay tiền bằng phát hành trái phiếu trên thị trường vốn
• Vay vốn của các ngân hàng thương mại
• Tín dụng thương mại từ các nhà cung cấp
• Tín dụng thuê mua
• Vốn liên doanh, liên kết
• Nguồn vốn ODA
• Nguồn vốn nước ngoài đầu tư trức tiếp FDI
II. Trái phiếu
1.Định nghĩa:
Trái phiếu là một chứng nhận nghĩa vụ nợ của người phát hành phải trả cho
người sở hữu trái phiếu đối với một khoản tiền cụ thể (mệnh giá của trái
phiếu), trong một thời gian xác định và với một lợi tức quy định. Người phát
hành có thể là doanh nghiệp(trái phiếu trong trường hợp này được gọi
là trái phiếu doanh nghiệp'), một tổ chức chính quyền như Kho bạc nhà
nước (trong trường hợp này gọi là trái phiếu kho bạc), chính quyền (trong
trường hợp này gọi là công trái hoặc trái phiếu chính phủ). Người mua trái
phiếu, hay trái chủ, có thể là cá nhân hoặc doanh nghiệp hoặc chính phủ.Tên
của trái chủ có thể được ghi trên trái phiếu (trường hợp này gọi là trái phiếu
ghi danh) hoặc không được ghi (trái phiếu vô danh).Trái chủ là người cho
suất trái phiếu thường được mỗi năm hai hoặc một lần.
•
Giá phát hành là giá bán ra của trái phiếu vào thời điểm phát hành. Thông
thường giá phát hành được xác định theo tỷ lệ phần trăm (%) của mệnh giá.
Tùy theo tình hình của thị trường và của người phát hành để xác định giá phát
hành một cách thích hợp. Có thể phân biệt 3 trường hợp: giá phát hành bằng
mệnh giá (ngang giá), giá phát hành dưới mệnh giá (giá chiết khấu)và giá phát
hành trên mệnh giá (giá gia tăng).
•
Dù trái phiếu được bán với giá nào (ngang giá, giá chiết khấu hay giá gia
tăng), thì lợi tức luôn được xác định theo mệnh giá của trái phiếu và khi đáo
hạn, người có trái phiếu sẽ được thanh toán theo mệnh giá của trái phiếu.
3.Phân loại trái phiếu
Phân loại theo người phát hành
•
Trái phiếu của Chính phủ: Đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Chính phủ, chính
phủ phát hành trái phiếu để huy động tiền nhàn rỗi trong dân và các tổ
chức kinh tế, xã hội. Chính phủ luôn được coi là Nhà phát hành có uy tín
nhất trên thị trường; Vì vậy, Trái phiếu Chính phủ được coi là loại chứng
khoán có ít rủi ro nhất.
Trái phiếu bảo đảm là loại trái phiếu mà người phát hành dùng một tài sản
có giá trị làm vật đảm bảo cho việc phát hành. Khi nhà phát hành mất khả
năng thanh toán, thì trái chủ có quyền thu và bán tài sản đó để thu hồi lại
số tiền người phát hành còn nợ. Trái phiếu bảo đảm thường bao gồm một
số loại chủ yếu sau:
•
-
Trái phiếu có tài sản cầm cố là loại trái phiếu bảo đảm bằng việc
người phát hành cầm cố một bất động sản để bảo đảm thanh toán
cho trái chủ. Thường giá trị tài sản cầm cố lớn hơn tổng mệnh giá của
các trái phiếu phát hành để đảm bảo quyền lợi cho trái chủ.
Trái phiếu bảo đảm bằng chứng khoán ký quỹ là loại trái phiếu được
bảo đảm bằng việc người phát hành thường là đem ký quỹ số chứng
khoán dễ chuyển nhượng mà mình sở hữu để làm tài sản bảo đảm.
Trái phiếu không bảo đảm là loại trái phiếu phát hành không có tài sản làm
vật bảo đảm mà Trái phiếu bảo đảm là loại trái phiếu mà người phát hành
dùng một tài sản có giá trị làm vật đảm bảo cho việc phát hành. Khi nhà
phát hành mất khả năng thanh toán, thì trái phiếu không bảo đảm là loại
trái phiếu phát hành không có tài sản làm vật bảo đảm mà chỉ bảo đảm
bằng uy tín của người phát hành.
Phân loại dựa vào hình thức trái phiếu
Trái phiếu vô danh là loại trái phiếu không ghi tên của người mua và trong
sổ sách của người phát hành. Trái chủ là người được hưởng quyền lợi.
Trái phiếu ghi danh là loại trái phiếu có ghi tên của người mua và trong sổ
1.
2.
Trái phiếu thông thường
Trái phiếu thông thường là loại trái phiếu thông dụng nhất, còn gọi là trái phiếu
liên tục , bởi đây là loại trái phiếu được ấn định trước tỉ lệ lợi tức khi phát hành,
không được chuyển đổi thành cổ phiếu và không có quyền mua cổ phiếu
Trái phiếu chuyển đổi
Trái phiếu chuyển đổi là loại trái phiếu có thể chuyển đổi thành cố phiếu thường
theo một tỉ lệ nhất định, tùy theo sự thỏa thuận của công ty phát hành.Khi mua
tái phiếu chuyển đổi, trái chủ nhận được trái phiếu liên tục kèm theo quyền
chuyển đổi trái phiếu thành cổ phiếu thường theo một tỉ lệ nhất định
• Sự khác biệt của trái phiếu chuyển đổi so với trái phiếu thông thường đó là
quyền chuyển đổi sang cổ phiếu theo một tỷ lệ cố định trong tương lai của trái
chủ.Do đó trái phiếu chuyển đổi có giá trị hơn trái phiếu thông thường, trái
phiếu chuyển đổi được coi là một công cụ lưỡng tính do có cả tính chất của trái
phiếu và cổ phiếu
• Về bản chất kinh tế, trái phiếu chuyển đổi được coi là một sản phẩm lồng ghép
“ 2 trong 1” giữa trái phiếu doanh nghiệp và quyền mua cổ phiếu do chính
doanh nghiệp phát hành
Đối với trái phiếu chuyển đổi , vấn đề quan trọng nhất là tỉ lệ chuyển đổi và giá
chuyển đổi
*Giá trị trái phiếu chuyển đổi
Giá trị của trái phiếu chuyển đổi = Giá trị của trái phiếu + Giá trị của quyền chuyển
đổi
(quyền
nội
tại
của
quyền
mua.
- Mức độ biến động thường xuyên của giá cổ phiếu: Giá cổ phiếu có mức độ biến
động mạnh thì cơ hội tăng giá (và giảm giá) càng cao, do đó giá trị quyền mua
càng
cao
và
ngược
lại.
- Lãi suất trên thị trường: Lãi suất càng giảm thì giá trị quyền mua càng cao và
ngược lại, do tỷ lệ chiết khấu để tính giá trị hiện tại của giá trị nội tại sẽ tăng.
4. Đặc điểm của trái phiếu
_ Trái phiếu thể hiện mối quan hệ con nợ-chủ nợ giữa ngươì phát hành và người đi
đầu tư:Trái phiếu là chứng nhận quy định nghĩa vụ người phát hành(người đi
vay)phải hoàn trả cho người sở hữu trái phiếu(người cho vay)khoản tiền gốc khi
đến hạn và một khoản tiền lãi nhất định trong khoảng thời gian nhất định.
+,Người phát hành trái phiếu có thể là chính phủ,chính quyền địa phương hoặc
doanh nghiệp.
+,Người mua trái phiếu có thể là cá nhân,doanh nghiệp hoặc chính phủ.Người
+ Mức rủi ro của mỗi nhà phát hành và của từng đợt phát hành:mức rủi ro càng
lớn, lãi suất càng cao
+Thời gian đáo hạn của trái phiếu. Nếu các trái phiếu có mức rủi ro như nhau,
nhìn chung thời gian đáo hạn càng dài thì lãi suất càng cao
III.Phát hành trái phiếu( Căn cứ theo Nghị định về phát hành trái phiếu
doanh nghiệp-số 90/2011/NĐ-CP)
1. Nguyên tắc và điều kiện phát hành trái phiếu
a.Nguyên tắc phát hành trái phiếu
-Doanh nghiệp phát hành trái phiếu theo nguyên tắc tự vay,tự trả và tự chịu trách
nhiệm về hiệu quả sử dụng vốn.
-Các hoạt động phát hành trái phiếu phải đảm bảo công khai ,minh bạch,công
bằng,bảo vệ lợi ích của các nhà đầu tư.
-Việc phát hành trái phiếu để cơ cấu lại nợ phải đảm bảo nguyên tắc không phát
hành trái phiếu ra thị trường quốc tế để cơ cấu lại nợ bằng đồng Việt nam.
-Đối với phát hành trái phiếu để đầu tư cho các chương trình,dự án,doanh nghiệp
phát hành phải đảm bảo duy trì tỷ lệ vốn chủ sở hữu tối thiểu là hai mươi phần
trăm(20%)trong tổng mức đầu tư của chương trình,dự án.
-Đối với trường hợp doanh nghiệp phát hành trái phiếu ra thị trường quốc
tế,ngoài việc tuân thủ quy định phát hành trái phiếu của,còn phải tuân thủ quy
định của pháp luật về vay và trả nợ nước ngoài.
b.Điều kiện phát hành trái phiếu
*,Đối với trái phiếu không chuyển đổi
-Doanh nghiệp có thời gian hoạt động tối thiểu là 01 năm kể từ ngày doanh
nghiệp chính thức đi vào hoạt động.
-Kết quả hoạt động sản xuất,kinh doanh của năm liền trước năm phát hành phải
có lãi theo báo cáo tài chính được kiểm toán bởi Kiểm toán Nhà nước hoặc tổ
chức kiểm toán độc lập được phép hoạt động hợp pháp tại Việt Nam.Báo cáo tài
3 Hình thức phát hành trái phiếu
Trái phiếu được phát hành dưới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc
dữ liệu điện tử
a)
Chứng chỉ trái phiếu có 2 phần:
- Phần thân giao cho tổ chức, cá nhân mua trái phiếu (gọi tắt là
người mua trái phiếu);
- Phần cuống lưu tại doanh nghiệp phát hành trái phiếu.
* Chứng chỉ trái phiếu do Bộ Tài chính quy định mẫu và có các nội dung
chính sau:
- Tên cơ quan phát hành;
- Mệnh giá, số sê ri;
- Thời hạn, lãi suất trái phiếu;
- Tên tổ chức hoặc cá nhân sở hữu trái phiếu (trường hợp trái phiếu có ghi
tên);
- Ngày phát hành, ngày đến hạn thanh toán;
- Chữ ký của Tổng giám đốc cơ quan phát hành.
Căn cứ vào kế hoạch phát hành trái phiếu Chính phủ đã được phê duyệt,
Kho bạc Nhà nước Trung ương có trách nhiệm tổ chức in và quản lý thống
nhất chứng chỉ trái phiếu trong phạm vi cả nước.
b)
Dữ liệu điện tử
c)
Bút toán ghi sổ là hình thức phát hành không sử dụng chứng chỉ trái
phiếu. Đơn vị được ủy nhiệm mở sổ theo dõi việc mua trái phiếu của
- Phí bảo lãnh phát hành trái phiếu được tính vào chi phí phát hành trái phiếu và
hạch toán vào chi phí kinh doanh hoặc giá trị dự án, công trình sử dụng nguồn thu
từ phát hành trái phiếu.
4.2.Đại lý phát hành trái phiếu
- Là phương thức phát hành trái phiếu mà doanh nghiệp phát hành ủy thác cho
một tổ chức khác thực hiện bán trái phiếu cho các đối tượng mua trái phiếu
*Tổ chức đại lý phát hành trái phiếu
- Tổ chức đại lý phát hành trái phiếu là các công ty chứng khoán, tổ chức tín dụng
và các định chế tài chính khác theo quy định của pháp luật
- Bộ tài chính quy định tiêu chuẩn của tổ chức làm đại lý phát hành trái phiếu
doanh nghiệp.
* Phương thức đại lý phát hành trái phiếu
-Tổ chức phát hành trái phiếu có thể ủy thác cho một hoặc một số tổ chức cùng
làm nhiệm vụ đại lý phát hành trái phiếu
_Đại lý phát hành thực hiện bán trái phiếu cho các các nhà đàu tư theo đúng cam
kết với tổ chức phát hành.Trường hợp không bán hết,đại lý được trả lại cho tổ
chức phát hành số trái phiếu còn lại
* Phí đại lý phát hành trái phiếu
-Phí đại lý phát hành trái phiếu do tổ chức phát hành thỏa thuận với đại lý phát
hành trái phiếu.
- Phí đại lý phát hành trái phiếu được tính vào chi phí phát hành trái phiếu và hạch
toán vào chi phí kinh doanh hoặc giá trị dự án, công trình sử dụng nguồn thu từ
phát hành trái phiếu.
4.3.Đấu thầu phát hành trái phiếu
- Là phương thức phát hành trái phiếu mà doanh nghiệp phát hành lựa chọn các
tổ chức đủ điều kiện mua trái phiếu đáp ứng yêu cầu của DN phát hành
- Tổ chức phát hành trái phiếu được lựa chọn một trong các phương thức đấu
thầu sau:
- Bí mật về thông tin của các tổ chức, cá nhân tham gia dự thầu
- Bảo đảm sự bình đẳng giữa các tổ chức tham gia dự thầu
- Cạnh tranh về lãi suất giữa các tổ chức tham gia đấu thầu.
* Đối tượng tham gia đấu thầu trái phiếu
-Đối tượng tham gia đấu thấu là các tổ chức, cá nhân quy định tại Điều 8 Nghị
định 52-2006-ND-CP
- Các đối tượng tham gia đấu thầu trái phiếu thông qua Trung tâm Giao dịch
chứng khoán (Sở Giao dịch chứng khoán) phải đáp ứng đủ các điều kiện theo quy
định của pháp luật.
* Phí đấu thầu trái phiếu
- Phí đấu thầu trái phiếu do tổ chức phát hành thoả thuận với tổ chức được ủy
quyền tổ chức đấu thầu trái phiếu.
- Phí đấu thầu trái phiếu được tính vào chi phí phát hành trái phiếu và hạch toán
vào chi phí kinh doanh hoặc giá trị dự án, công trình sử dụng nguồn thu từ phát
hành trái phiếu (kể cả trường hợp tổ chức phát hành tự tổ chức đấu thầu trái
phiếu).
4.4.Bán lẻ trái phiếu
- Là phương thức phát hành trái phiếu mà DN phát hành trực tiếp bán trái phiếu
cho từng đối tượng mua trái phiếu
IV.Ưu ,nhược điểm của việc huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu
1. Ưu điểm
* So với vay ngân hàng,
- Huy động vốn qua trái phiếu có một số ưu điểm như không cần có tài sản thế
chấp và được chủ động sử dụng số tiền huy động mà không có sự giám sát của
ngân hàng.
- Doanh nghiệp chỉ phải trả lãi theo kì hạn 6 tháng hoặc 1 năm và chỉ trả gốc vào
cuối kì.
- Lãi suất trái phiếu không bị khống chế bởi trần lãi suất nên có tính hấp dẫn với
trìnhdoanh nghiệp sử dụng vốn vay,dù doanh nghiệp đạt lợi nhuận tăng
vượt trội thì cũng không phải trả thêm cho chủ sở hữu trái phiếu một khoản
tiền nào
• Chủ sở hữudoanh nghiệp không bị chia sẻ quyền quản lí và kiểm soát doanh
nghiệp cho các tái chủ: Với trái phiếu thông thường, trái chủ là chủ nợ của
doanh nghiệp,trái chủ không có quyền biểu quyết.Do vậy, việc phát hành
trái phiếu để huy động tăng vốn không ảnh hưởng gì tới quyền quản lí và
kiểm soát doanh nghiệp của các chủ sở hữu doanh nghiệp hiện hành
• Giúp doanh nghiệp chủ động điều chỉnh cơ cấu vốn một cách linh hoạt:Khi
doanh nghiệp làm ăn thuận lợi, doang nghiệp có thể tăng huy động vốn vay
nhằm mở rộng thị trường và tăng tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu.Ngược
lại, khi thị trường biến động theo hướng bất lợi, doanh nghiệp có thể chủ
động giảm vốn bằng cách mua lại trái phiếu trước thời hạn( nếu doanh
nghiệp phát hành loại trái phiếu có thể mua lại).Vì vậy, trái phiếu được
doanh nghiệp sử dụng một cách linh hoạt trong việc điều chỉnh cơ cấu vốn
kinh doanh,
*Đặc biệt, nếu là trái phiếu chuyển đổi :
-Chi phí phát hành và lãi suất phải trả thấp hơn so với phát hành trái phiếu thông
thường cũng như so với lãi suất ngân hàng và điều này đồng nghĩa với việc giảm
rủi
ro
đối
với
tổ
chức
phát
hành.
- Tăng vốn cổ phần trong tương lai khi chuyển từ trái phiếu nợ thành vốn cổ phần
- Giá cổ phiếu thường không bị sụt giảm do tránh được tình trạng tăng số lượng
cổ
phiếu đã niêm yết trên thị trường chứng khoán.
- Khả năng làm pha loãng sở hữu khi có thêm nguồn vốn: Trái phiếu là vốn
nợ nên phát hành trái phiếu không làm pha loãng quyền sở hữu của chủ
doanh nghiệp, trừ trường hợp trái phiếu chuyển đổi thành cổ phiếu. Doanh
nghiệp phát hành trái phiếu, trừ trái phiếu chuyển đổi thành cổ phiếu có
thêm nguồn vốn lớn mà không làm thay đổi cơ cấu sở hữu.
- Chi phí sử dụng vốn: Chi phí lãi từ trái phiếu phải trả cho trái chủ là chi
phí trước thuế, được khấu trừ khi tính thuế. Ngược lại, cổ tức của cổ phiếu
là phần trích từ lợi nhuận sau thuế. Đây là yếu tố cho thấy phát hành trái
phiếu có chi phí vốn thấp hơn so với cổ phiếu.
- Tính linh hoạt trong việc trả lãi cho nhà đầu tư: Khi huy động vốn bằng
trái phiếu, doanh nghiệp phải trả lãi theo lãi suất theo thời hạn xác định
trước. Dòng tiền dùng để thanh toán lãi có thể làm doanh nghiệp mất đi
nhiều cơ hội đầu tư khác. Trái lại, những người chủ sở hữu doanh nghiệp
có thể quyết định thay đổi mức cổ tức phải trả, dừng, trì hoãn hay không
trả cổ tức.
- Thời hạn sử dụng nguồn vốn: Đối với trái phiếu, trừ trái phiếu chuyển đổi
thành cổ phiêúdoanh nghiệp phải trả lại số tiền gốc khi trái phiếu đáo hạn,
điều này có thể sẽ ảnh hưởng rất mạnh đến dòng tiền và tình hình tài
chính của doanh nghiệp.
- Rủi ro phá sản doanh nghiệp: Nếu doanh nghiệp không trả được lãi hay
gốc thì các trái chủ có thể tuyên bố phá sản doanh nghiệp.
.- Rủi ro của đầu tư trái phiếu : Trên thị trường chứng khoán, trái phiếu
được đánh giá là loại hàng hóa ít rủi ro nhất. Tuy nhiên, đầu tư vào trái
phiếu vẫn có rủi ro, mặc dù mức độ rủi ro ít hơn so với cổ phiếu. Sau đây
là một số rủi ro điển hình có thể xảy ra với trái phiếu
+Rủi ro lãi suất Giá của một trái phiếu điển hình sẽ thay đổi ngược chiều
với sự thay đổi của lãi suất : khi lãi suất tăng thì giá trái phiếu sẽ giảm; khi
1. Thực trạng
Hiện nay thị trường trái phiếu Việt Nam mới trong giai đoạn đầu phát
triển với sự tồn tại của thị trường trái phiếu Chính phủ. Dư nợ trái phiếu
còn rất thấp (khoảng 7% GDP) so với các thị trường trong khu vực (Trung
Quốc 21%, Thái Lan 33%, Malaysia 62%), chủ thể phát hành không đa
dạng, chưa có hệ thống các nhà tạo lập thị trường và hệ thống giao dịch,
thanh toán còn nhiều hạn chế. Hơn nữa, một thị trường để giúp hai đối
tượng rất quan trọng là doanh nghiệp và chính quyền địa phương huy
động vốn thì hầu như chưa tồn tại.
* Trái phiếu doanh nghiệp : Hiện nay Nhà nước rất ưu ái trong việc phát
hành trái phiếu doanh nghiệp nên chỉ mất khoảng 6 đến 8 tuần doanh
nghiệp có thể hoàn tất hồ sơ phát hành. Tuy nhiên, nếu đi vay ngân hàng
hay phát hành cổ phiếu, doanh nghiệp sẽ mất nhiều thời gian hơn cho
khâu chuẩn bị và xét duyệt hồ sơ. Phát hành trái phiếu cho phép doanh
nghiệp huy động được lượng vốn lớn. Nếu doanh nghiệp có nhu cầu trên
1.000 tỉ đồng thì họ có thể tiếp cận nguồn vốn từ phát hành trái phiếu dễ
dàng hơn so với việc đi vay hay phát hành cổ phiếu.
Từ những thực trạng trên, có thể rút ra vài nhược điểm của thị trường trái
phiếu:
- Thứ nhất: Quy mô nhỏ, thanh khoản thấp Thị trường trái phiếu Việt Nam
có quy mô quá nhỏ. Chủ yếu trái phiếu Chính phủ đang ''thống lĩnh'' thị
trường, trong khi trái phiếu của các DN phát hành rất hạn chế. Tính thanh
khoản của các loại trái phiếu còn thấp.
-Thứ hai: Hệ thống các nhà đầu tư chưa phát triển Hệ thống các nhà đầu
tư chưa phát triển, nhất là các nhà đầu tư tổ chức. Hiện nay thiết lập được
hệ thống các nhà tạo lập thị trường; các thể chế trên thị trường chưa hoàn
chỉnh. Nhiều định chế tài chính trung gian như các quỹ đầu tư tương hỗ,
quỹ đầu tư mạo hiểm, công ty định mức tín nhiệm... chưa được thành lập.
Thị trường trái phiếu vẫn chưa thực sự hấp dẫn các nhà đầu tư và có rất
-Thứ sáu: Từ phía các công ty, chưa quen với kênh huy động vốn thông
qua phát hành trái phiếu Thị trường trái phiếu công ty kém phát triển do
các công ty chưa quen với việc huy động vốn vay trực tiếp qua phát hành
trái phiếu mà vẫn dựa vào nguồn vốn vay của ngân hàng, đặc biệt là các
Tổng công ty lớn, các DN Nhà nước do có khả năng tiếp cận các nguồn
vốn vay ngân hàng, vay ưu đãi. Các đơn vị này cũng thiếu tổ chức định
mức tín nhiệm giúp cho việc xác định tín nhiệm và làm tăng tính minh bạch
cho các trái phiếu phát hành; chưa xây dựng được đường cong lợi suất phi
rủi ro cho trái phiếu Chính phủ phát hành làm tiêu chuẩn cho việc định lãi
suất phát hành các công cụ nợ khác như trái phiếu công ty, trái phiếu đô
thị...
- Thứ bảy: Thông tin thị trường Theo đánh giá của các chuyên gia tài
chính, nguyên nhân quan trọng khiến thị trường trái phiếu của Việt Nam
kém hấp dẫn chính là việc thiếu một hệ thống cung cấp thông tin đầy đủ.
Thể hiện rõ nhất là cho đến nay vẫn chưa có những công ty định mức tín
nhiệm.
Cụ thể:
1.Giai đoạn trước năm 2006
Trong giai đoạn 1994 - 2006, dù Nhà nước đã ban hành những quy định tạo điều kiện cho
các DN phát hành trái phiếu để huy động vốn nhưng trên thực tế phương thức này vẫn
chưa được các DN quan tâm và vận dụng một cách phổ biến, giá trị vốn huy động thông
qua trái phiếu trong giai đoạn này vẫn còn quá ít so với nhu cầu và tiềm lực của các DN.
Thị trường TPDN trong giai đoạn này chỉ mới ở mức khởi đầu và còn rất sơ khai. Tổng giá
trị TPDN lưu hành trên thị trường trong năm 2005 chỉ đạt 110 triệu USD, chiếm tỷ trọng
2,48% toàn thị trường và 0,2% GDP. Tuy nhiên, sự ra đời của thị trường TPDN trong giai
đoạn này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bước đầu mở ra và giúp các DN làm quen với
một kênh huy động vốn mới với nhiều tiện ích, là tiền đề để từng bước hoàn thiện và phát
triển thị trường vốn nói chung và thị trường TPDN nói riêng trong những giai đoạn tiếp theo.
với tổng mệnh giá 850 tỷ đồng. Trong tháng 2/2008 Ngân hàng thương mại cổ phần Á
Châu cũng phát hành ra thị trường trái phiếu với tổng trị giá 1350 tỷ đồng. tiếp nối thành
công trong năm 2007 công ty cổ phần Vincom cũng công bố phát hành trái phiếu trong
tháng 4/2008 với tổng mệnh giá đạt 2000 tỷ đồng. trong năm 2008 có 2 gương mặt mới lần
đầu tiên xuất hiện trên thị trường TPDN là công ty cổ phần du lịch vsf thương mại
Vinpearl(5/2008) và công ty cổ phần hoàng anh gia lai(tháng 9/2008). Hai công ty này chính
thức gia nhập thị trường TPDN bàng việc phát hành ra thị trường 1000 tỷ đồng trái phiếu
cho mỗi công ty.
Tiếp đà phát triển, năm 2009, trên thị trường có khoảng 39 giao dịch phát hành TPDN với
tổng khối lượng vốn huy động đạt gần 45500 tỷ đồng.
Năm 2011 tổng khối lượng phát hành TPDN đạt trên 6000 tỷ đồng, giảm 10% tổng giá trị
phát hành năm 2010. Phần lớn các tổ chức phát hành là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, sử
dụng trái phiếu như sản phẩm thay thế cho khoản vay và người mua là tổ chức tín dụng
không chào bán ra thị trường. Hoạt động trầm lắng của thị trường TPDN năm 2011 là do
chính phủ áp dụng chính sách tiền tệ và tài khóa thắt chặt tác động không nhỏ tới hoạt
động sản xuất và kinh doanh của doanh nghiệp từ đó hạn chế khả năng phát hành trái
phiếu. hơn thế nữa trong năm qua hàng loạt quy định mới nhằm kiểm soát chặt chẽ hơn
hoạt động phát hành TPDN được đưa ra cũng là yếu tố hạn chế lượng trái phiếu phát
hành.
Năm 2012 do tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vẫn chưa được cải thiện ,
nhưng DN lại gặp khó khăn trong việc tiếp cận với nguồn vốn tín dụng ngân hàng. Do đó
nhiều doanh nghiệp quan tâm hơn tới kênh huy động vốn bàng phát hành TPDN. Thị
trường trong nước tổng khối lượng phát hành là 16.144 tỷ đồng
Năm 2014 các doanh ngiệp lớn đang đổ xô đi tìm vốn thông qua TPDN ,tận dụng thực
trạng khối ngân hàng tiếp tục dư thừa thanh khoản và mặt bằng lãi suất thấp kỉ lục.
2.Giải pháp
*Về phía nhà nước
nước ngoài. Vì vậy, nếu muốn thu hút nhà đầu tư nước ngoài vào Việt
Nam, ngoài một số ưu đãi về thuế để khuyến khích họ tham gia cần tập
trung phát triển thị trường về chiều sâu, đa dạng hóa sản phẩm, cũng như
dịch vụ trên thị trường nhằm giúp các nhà đầu tư tổ chức giảm thiểu rủi ro
khi đầu tư vào Việt Nam.
-Khuyến khích sự phát triển của các tổ chức định mức tín nhiệm. Kinh
nghiệm của các quốc gia ASEAN chỉ ra rằng sự có mặt của những tổ chức
định mức tín nhiệm tốt là một yếu tố quan trọng trong việc định giá. Tuy
nhiên, những tổ chức định mức tín nhiệm địa phương lại sử dụng phương
pháp đánh giá có nhiều khác biệt so với quốc tế, chưa xây dựng được
những chi tiết như lịch trình hoạt động của doanh nghiệp, trong khi các tổ
chức định mức tín nhiệm quốc tế chỉ thực hiện đánh giá các doanh nghiệp
lớn phát hành ở phạm vi quốc tế. Vì vậy, các cơ quan chức năng có thể
nghiên cứu việc áp dụng một chuẩn mực chung về phương pháp đánh giá,
so sánh việc đàu tư vào các quốc gia trong khu vực. Ngoài ra, cũng có thể
nghiên cứu xây dựng một tổ chức định mức tín nhiệm khu vực. Việc giám
sát các công ty kiểm toán(CTKT) bởi một tổ chức độc lập cũng đang
được thực hiện tại nhiều quốc gia.
-Ngoài ra, kinh nghiệp thực tế cho thấy, khi kinh tế càng khó khăn thì nhà
đầu tư sẽ tìm đến với các kênh đàu tư an toàn như TPCP thay vì TPDN.
Do vậy, để có thể phát triển thị trường TPDN, cần phải tạo lập môi trường
kinh tế vĩ mô ổn định, tạo điều kiện cho các doanh nghiejp kinh doanh có
hiệu quả bởi nếu doanh nghiệp không có tiềm lực kinh tế, hoạt động kinh
doanh thua lỗ và không tạo dựng được lòng tin đối với giới đầu tư thì việc
huy động vốn qua thị trường trái phiếu của doanh nghiệp vẫn sẽ gặp khó
khăn, thị trường TPDN theo đó cũng sẽ không thể phát triển được.
-Thị trường trái phiếu của Việt Nam cần phát triển theo hướng thị trường
hóa với sự đa dạng hóa các chủ thể tham gia và hàng hóa giao dịch để tạo
nền tảng cho phát triển lâu dài của thị trường vốn nói chung và thị trường
cổ phiếu nói riêng.