Thế nào là một mặt hàng sử dụng nhiều lao động hoặc vốn trong trưởng hợp nào thì một quốc gia được coi là tương đối dồi dào về lao động hoặc vốn trong điều kiện thương mại quốc tế hiện nay cần phải có những giải pháp gì để kh - Pdf 43

ĐỀ TÀI:
Thế nào là một mặt hàng sử dụng nhiều lao động hoặc vốn? Trong trưởng hợp nào thì
một quốc gia được coi là tương đối dồi dào về lao động hoặc vốn trong điều kiện thương
mại quốc tế hiện nay? Cần phải có những giải pháp gì để khai thác có hiệu quả những lợi
thế của Việt Nam theo quan điểm H-O trong điều kiện hội nhập KTQT hiện nay?


CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
I. Các giả thuyết H-O
Lý thuyết H-O được xây dựng dựa trên một loạt các giả thiết đơn giản sau đây:
-

-

-

-

-

Thế giới bao gồm 2 quốc gia (Nhật Bản và Việt Nam), 2 yếu tố sản xuất (lao động
và vốn), và 2 mặt hàng (thép và vải), mức độ trang bị các yếu tố ở mỗi quốc gia là
cố định, và mức độ trang bị các yếu tố ở hai quốc gia là khác nhau.
Công nghệ sản xuất là giống nhau giữa hai quốc gia: nếu giá cả các yếu tố sản xuất
là như nhau thì để sản xuất 1 m vải các nhà sản xuất vải ở Việt Nam và ở Nhật Bản
sẽ sử dụng lượng lao động như nhau và lượng vốn như nhau.
Các mặt hàng khác nhau sẽ có hàm lượng các yếu tố sản xuất khác nhau, và không
có sự hoán vị về hàm lượng các yếu tố sản xuất tại bất kỳ mức giá cả yếu tố tương
quan nào (vải luôn là mặt hàng có hàm lượng lao động cao, còn thép- mặt hàng có
hàm lượng vốn cao).
Cạnh tranh hoàn hảo tồn tại trên cả thị trường hàng hóa lẫn thị trường yếu tố sản

thiết để sản xuất ra một đơn vị sản lượng.
Tương tự, nước A được coi là dồi dào tương đối về lượng lao động nếu:
LA
L
> B
K A KB

LA và LB là lượng lao động ở các nước A và B một cách tương ứng.
KA và KB là lượng vốn ở các nước A, B
-

Mức độ dồi dào của một yếu tố sản xuất của một quốc gia được đo không phải
bằng số lượng tuyệt đối mà bằng tương quan giữa số lượng yếu tố đó với các yếu
tố sản xuất khác của quốc gia.

III. Định lý Heckscher-Ohlin:
Với các giả thiết quan trọng nêu trên, đặc biệt là dựa trên 2 khái niệm về hàm lượng các
yếu tố và mức độ dồi dào các yếu tố sản xuất, nội dugn của lý thuyết H-O có thể được
phát biểu qua định lý sau đây:
Một nền kinh tế có lợi thế so sánh trong việc sản xuất, và do đó sẽ xuất khẩu những mặt
hàng sử dụng nhiều tương đối yếu tố sản xuất mà nó dồi dào, và nhập khẩu những mặt
hàng sử dụng nhiều tương đối yếu tố mà nó khan hiếm.
IV. Đánh giá lý thuyết Heckscher-Ohlin:
1. Ưu điểm
- Giải thích khoa học chặt chẽ và có tính logic cao về nguồn gốc lợi thế so sánh và

thương mại giữa các quốc gia.


-

giống nhau mâu thuẫn với dự đoán của lý thuyết H-O là lợi thế so sánh xuất phát
từ sự khác biệt về mức độ trang bị các yếu tố sản xuất giữa các quốc gia.
V.

Điều kiện một quốc gia được coi là dồi dào về lao động hoặc vốn
theo lý thuyết củ H-O

Lý thuyết H-O cho rằng lợi thế tương đối xuất phát từ sự khác nhau của các yếu tố sản
xuất. Đó chính là các nguồn lực cần thiết cho quá trình sản xuất: đất đai, lao động và tư
bản. Do mức độ sẵn có của các yếu tố này ở các quốc gia là khác nhau nên điều này tạo
ra sự khác biệt trong chi phí sản xuất. Một quốc gia được coi là dồi dào tương đối về lao
động (hay về vốn) nếu tỷ lệ giữa lượng lao động (hay lượng vốn) và các yếu tố sản xuất
khác của quốc gia đó lớn hơn tỷ lệ tương ứng của các quốc gia khác.
Chẳng hạn, quốc gia A được coi là dồi dào tương đối về lao động so với quốc gia B nếu
LA
L
> B
K A KB

Trong đó:


LA, LB là lượng lao động cần thiết để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm tại hai quốc gia A
và B
KA, KB lần lượt là lượng vốn cần thiết để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm tại 2 quốc
gia A và B.
Sự dồi dào của một yếu tố sản suất của một quốc gia theo lý thuyết H-O dễ dàng được
minh chứng trên thực tế. Ví dụ như nước Hoa Kỳ trong một thời gian dài là một nước
xuất khẩu lớn trên thế giới về hàng nông sản, và điều này phản ánh một phần về sự dồi
dào khác thường của Hoa Kỳ về diện tích đất có thể canh tác. Hay ngược lại, Trung Quốc

rẻ… Nhưng hiện nay việt nam đang tích cực và chủ trương thu hút vốn, công nghệ và
kinh nghiệm quản lý tiên tiến từ bên ngoài để thay thế mặt hàng xuất khẩu theo hướng
tăng tỷ trọng những mặt hàng có hàm lượng chất xám cao để tăng kim ngạch xuất khẩu,
đồng thời giảm các mặt hàng là nguyên liệu thô chưa qua sơ chế để sử dụng một cách có
hiệu quả hơn các nguồn lực để phát triển kinh tế một cách bền vững.
1. Vị trí địa lí

Vị trí của Việt Nam rất thuận lợi để trở thành trung tâm giao nhận vận tải biển
quốc tế. Nằm trên tuyến đường giao lưu hàng hải quốc tế từ các nước thuộc Liên Xô cũ,
Trung Quốc, Nhật Bản, Nam Triều Tiên sang các nước Nam Á, Trung Đông và châu Phí.
Ven biển Việt Nam, nhất là từ Phan Thiết trở vào có nhiều cảng nước sâu, khí hậu tốt,
không ccó bão, sương mù. Điều này cho phép tàu bè nước ngoài có thể thực hiện chuyển
tải hàng hóa, sửa chữa, tiếp nhiên vật liệu an toàn quanh năm.
Việt Nam nằm trên trục đường bộ và đường sắt từ châu Âu sang Trung Quốc qua
Campuchia, Lào, Thái Lan, Mianma, Pakistan, Ấn Độ,...
Vận tải hàng không nước ta có nhiều sân bay đặt biệt: sân bay Tân Sơn Nhất nằm
ở vị trí rất lí tưởng, cách đều thủ đô các thành phố quan trọng trong vùng ( Băng Cốc,
Giacacta, Manila, Singapore,...)
Vị trí địa lí thuận lợi của Việt Nam tạo khả năng phát triển các hoạt động trung
chuyển, tái xuất khẩu, và chuyển hàng hóa qua các khu vực lân cận. Đây chính là nguồn
tài nguyên vô hình rất quan trọng
2. Nguồn nhân lực

Lợi thế lớn nhất của Việt Nam là có lực lượng lao động dồi dào và cơ cấu lao động
trẻ. Việt Nam có một nguồn lao động dồi dào; tư chất con người thông minh, cần cù,
sáng tạo, tiếp thu nhanh ngành nghề và khoa học công nghệ, có khả năng ứng xử linh
hoạt; mặt khác, giá nhân công lại rẻ.
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tính đến hết năm 2016, quy mô lực lượng lao
động từ 15 tuổi trở lên ở Việt Nam là 71.03 triệu người, trong đó số người trong độ tuổi
lao động là 54.43 triệu người. Lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế năm 2016

của mình so với một số nước NIEs, Đông A' (những nước có thị trường xuất nhập khẩu
lớn ở nước ta)
Việt Nam có diện tích tự nhiên khoảng 331.698km2, bờ biển dài hơn 3.260km,
được xếp ở quy mô trung bình, đứng thứ 59 trong tổng số 200 quốc gia và vùng lãnh thổ
10 trên thế giới. Việt Nam có sự đa dạng về địa chất, địa hình, tài nguyên khoáng sản
tương đối phong phú về chủng loại, một số loại có trữ lượng, tiềm năng tài nguyên lớn có
thể phát triển thành các ngành công nghiệp, như dầu khí, bô-xít, ti-tan, than, đất hiếm...;
tiềm năng năng lượng tái tạo lớn, đặc biệt năng lượ ng gió, mặt trời, địa nhiệt, sinh khối .
Mặc dù tổng lượng nước mặt (khoảng 830-840 tỷ m3/năm), nước dưới đất (khoảng 63 tỷ
m3/năm) khá lớn, nhưng do địa hình hẹp, nhiều vùng dốc ra biển, hơn 60% lượng nước
mặt có nguồn gốc từ nước ngoài, nên tình trạng thiếu nước cục bộ theo vùng và theo mùa


vẫn xảy ra, có lúc, có nơi gay gắt. Trải dài trên nhiều vĩ tuyến, từ nhiệt đới ẩm đến á nhiệt
đới, với nhiều vùng núi cao, Việt Nam có nhiều hệ sinh thái rừng với sự đa dạng và
phong phú về các loài động vật, thực vật. Với diện tích vùng biển thuộc chủ quyền, quyền
chủ quyền và quyền tài phán trên 1 triệu km2, Việt Nam thực sự là một quốc gia biển với
nhiều loại hình tài nguyên đa dạng và phong phú, nhất là nguồn lợi thủy sản, tiềm năng vị
thế phát triển giao thông, cảng biển, du lịch... Lượng khách đi du lịch trên toàn cầu liên
tục gia tăng tiếp tục tăng trong những năm tới với xu hướng chuyển dịch dòng khách từ
Châu Âu sang khu vực Đông Á - Thái Bình Dương trong thế kỷ 21. Du lịch các nước
Đông Nam Á (ASEAN) giữ vị trí quan trọng trong khu vực Đông Á - Thái Bình Dương,
trong đó Việt Nam là một trong những quốc gia thu hút được lượng khách lớn khách du
lịch quốc tế.
Việt Nam có những điều kiện tài nguyên thuân lợi và tiềm năng để phát huy lợi thế
của mình. Nhưng điều quan trọng là chúng ta phải sử dụng nguồn tài nguyên đó như thế
nào cho hợp lí. Tài nguyên thiên nhiên là yếu tố mà các quốc gia phát huy thế mạnh, lợi
thế của mình trong khi mở cửa giao lưu với các nước khác trên thế giới, chính vì vậy việc
khai thác sử dụng bừa bãi tài nguyên thiên nhiên dẫn đến sự cạn kiệt tài nguyên. Do đó
trong thời đại ngày nay, cùng với sự phát triển của cách mạng khoa học công nghệ, cho


Nếu tính cả vốn đăng ký bổ sung của các dự án đã cấp phép từ các năm trước và
góp vốn, mua cổ phần thì tổng vốn FDI vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo năm
2016 đạt hơn 15,53 tỉ đô la Mỹ, chiếm 63,8% tổng vốn đăng ký; ngành bán buôn và bán
lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác đạt gần 1,9 tỉ đô la Mỹ, chiếm
7,8%; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt hơn 1,686 tỉ đô la Mỹ, chiếm 6,9%; các
ngành còn lại đạt 5,24 tỉ đô la Mỹ, chiếm 21,5%.
Sự gia tăng mạnh mẽ của vốn đầu tư nước ngoài được thể hiện rõ nét qua các thời
kỳ. Từ khoảng 30,67 tỷ USD, chiếm 24,32% tổng vốn đầu tư xã hội giai đoạn 2005-2010
đã tăng lên 53,47 tỷ USD, chiếm 22,75% tổng vốn đầu tư xã hội giai đoạn 2010-2015.
Ngoài ra, luồng vốn FDI còn góp phần quan trọng vào xuất khẩu. Chủ trương
khuyến khích đầu tư nước ngoài hướng vào xuất khẩu đã tạo thuận lợi cho nước ta trong
việc nâng cao năng lực và mở rộng thị trường xuất khẩu. Và còn góp phần làm thay đổi
cơ cấu mặt hàng xuất khẩu theo chiều hướng giảm tỷ trọng sản phẩm khai khoáng, mặt
hàng sơ cấp, tăng dần tỷ trọng hàng chế tạo.
Khu vực FDI còn góp phần ổn định thị trường trong nước, hạn chế nhập siêu
thông qua việc cung cấp cho thị trường nội địa các sản phẩm chất lượng cao do doanh
nghiệp trong nước sản xuất, thay vì phải nhập khẩu như trước đây.
5. Hội nhập kinh tế quốc tế giúp Việt Nam tiếp thu được khoa học - công nghệ mới

Trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay, hội nhập quốc
tế về khoa học và công nghệ đóng vai trò quan trọng trong việc góp phần thiết lập vị thế
mới của Việt Nam và được xác định là một động lực thúc đẩy các hoạt động khoa học và
công nghệ nước ta. Đây là cơ hội để các doanh nghiệp trong nước học hỏi cách thức quản


lý mới, sử dụng công nghệ mới trong sản xuất và hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu.
Cải tiến và hoàn thiện các dây chuyền sản xuất theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hóa
sẽ giúp các doanh nghiệp giảm được chi phí, tạo ra những sản phẩm mới có chất lượng,
đa dạng về mẫu mã, bao bì… tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước đủ sức cạnh



Cụm ngành điện tử gia dụng ở Bình Dương; Cụm ngành điện tử nghe nhìn ở
khu vực các tỉnh/thành phố Thái Nguyên, Bắc Ninh, Bắc Giang, thành phố Hà Nội, Hải
Dương; cụm sản phẩm công nghệ thông tin và dịch vụ liên quan ở Hà Nội, thành phố Hồ
Chí Minh, Đà Nẵng.

Cụm ngành dệt sợi và may mặc ở khu vực các tỉnh Thái Bình, Nam Định,
Ninh Bình, Bắc Giang; cụm ngành may mặc ở thành phố Hồ Chí Minh (chuyên về cung
ứng nguyên phụ liệu và dịch vụ) và khu vực miền Trung (chuyên về ODM).

Cụm ngành chế biến sản phẩm thủy sản ở các tỉnh vùng Tây Nam Bộ; cụm ngành
chế biến thủy sản và nông sản ở các tỉnh duyên hải và cao nguyên miền Trung; cụm
ngành chế biến nông sản ở các tỉnh trung du phía Bắc.

Cụm ngành máy và thiết bị nông nghiệp ở khu vực các tỉnh/thành phố: Hà Nội,
Hải Dương, Hải Phòng và cụm ngành tại khu vực các tỉnh/thành phố Hồ Chí Minh, Long
An, Đồng Nai.

Cụm du lịch Hải Phòng – Quảng Ninh phát triển các sản phẩm du lịch tham quan
thưởng ngoạn thắng cảnh và sinh thái biển; Cụm du lịch Đà Nẵng – Thừa Thiên Huế –
Quảng Nam phát triển cụm sản phẩm du lịch nghỉ dưỡng biển gắn với vui chơi giải trí,
tham quan thắng cảnh, tìm hiểu di sản văn hoá; Cụm du lịch Khánh Hoà – Bình Thuận
phát triển các sản phẩm du lịch nghỉ dưỡng biển dài ngày, vui chơi giải trí đô thị, tham
quan khám phá cảnh quan, thể thao biển; Cụm du lịch Bình Định – Phú Yên – Ninh
Thuận phát triển theo các sản phẩm du lịch nghỉ dưỡng biển gắn với thiên nhiên hoang
sơ; Cụm du lịch thành phố Hồ Chí Minh – Bà Rịa – Vũng Tàu phát triển dịch vụ nghỉ
dưỡng biển và giải trí đô thị; Cụm du lịch đảo Phú Quốc với các sản phẩm du lịch nghỉ
dưỡng biển, khám phá đảo.
2. Khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên

Đầu tư mạnh cho nghiên cứu khoa học (giống cây trồng và vật nuôi, kể cả
những giống có gien chuyển đổi thích nghi với điều kiện canh tác khắc nghiệt của nông
dân vùng sâu, vùng xa); công nghệ sau thu hoạch.

-

Cần đánh giá cụ thể sức cạnh tranh của từng loại nông sản chủ yếu để có biện pháp khắc
phục những yếu kém, bảo đảm nông sản của nước ta chiếm lĩnh thị trường trong nước
vươn mạnh ra thị trường quốc tế. Trong đó:
Chú trọng các giải pháp đồng bộ về kỹ thuật và kinh tế làm cho sản phẩm thích
ứng với thị trường. - Xác định rõ chủng loại và thị trường xuất khẩu chủ yếu, bảo đảm
giống tốt cho cây trồng xuất khẩu.

-

Xây dựng và phát triển thương hiệu cho các mặt hàng nông sản Việt Nam. Muốn vậy,
điều quan trọng nhất là phải bảo đảm chất lượng của nông sản đúng theo yêu cầu của
người tiêu dùng và của thị trường. Việc hình thành các doanh nghiệp sản xuất, kinh


-

doanh hàng nông sản có quy mô lớn, tăng cường xây dựng các chuỗi cung ứng nông
sản... sẽ là cơ sở ban đầu để hình thành các thương hiệu mạnh của Việt Nam.
Hoàn thiện tổ chức và nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống thông tin thị trường từ
trung ương đến các địa phương:
- Có chính sách khuyến khích các địa phương, các doanh nghiệp sản xuất, kinh
doanh hàng nông sản tham gia các hội chợ nông sản trong nước và quốc tế, xây dựng các
trung tâm giao dịch và giới thiệu sản phẩm nông nghiệp Việt Nam ở nước ngoài..
- Nỗ lực thực hiện tự do hóa và thuận lợi hóa thương mại, đầu tư thông qua đẩy

-

-

Đầu tư phát triển vùng nguyên liệu, con giống; điều chỉnh và giám sát thực hiện tốt quy
hoạch nuôi trồng, khai thác, chế biến thủy sản. Trên cơ sở quy hoạch đề ra, cần tăng
cường kiểm tra, giám sát thực hiện quy hoạch, tăng cường tính công khai, minh bạch đối
với các loại quy hoạch.
Tái cơ cấu ngành thủy sản, chuyển dịch cơ cấu mặt hàng thủy sản xuất khẩu sang các sản
phẩm chế biến sâu, đầu tư phát triển sản phẩm mới có giá trị gia tăng; đa dạng hóa sản
phẩm thủy sản chế biến và phát triển thương hiệu thủy sản Việt Nam. Tập trung chuyển
dịch cơ cấu mặt hàng thủy sản xuất khẩu theo hướng nâng nhanh tỷ trọng sản phẩm chế
biến sâu, chế biến tinh, ứng dụng công nghệ sinh học, hạn chế tối đa xuất khẩu sản phẩm
thô, giảm nhanh tỷ trọng sản phẩm sơ chế trong cơ cấu mặt hàng thủy sản xuất khẩu, góp
phần bảo tồn và phát huy nguồn lợi thủy sản.

-

Đa dạng hóa và phát triển thị trường mới cho xuất khẩu, tăng cường xúc tiến thương mại,
nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức xúc tiến thương mại tại các thị trường trọng
điểm. Trước hết, thực hiện tốt các biện pháp giữ vững thị trường truyền thống, tạo bước
đột phá mở rộng các thị trường xuất khẩu mới có tiềm năng và thực hiện đa dạng hóa thị
trường xuất khẩu. Hoàn thiện hệ thống thông tin thương mại để hỗ trợ cho các doanh
nghiệp xuất khẩu nắm bắt các kênh thông tin về thị trường xuất khẩu; thường xuyên cung
cấp, cập nhật thông tin về thủ tục, quy định nhập khẩu, cũng như nguy cơ bị đánh thuế
chống bán phá giá cho các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản.

-

Nâng cao khả năng đáp ứng các quy định và tiêu chuẩn kỹ thuật môi trường, đảm bảo

việc làm.

-

Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, hậu cần dịch vụ thủy sản phục vụ xuất khẩu; đơn giản
hóa thủ tục kiểm nghiệm và hải quan, từ đó giảm thời gian, tiết kiệm chi phí và tăng khả
năng cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản.
Du lịch dịch vu
Việt Nam có nhiều danh lam thắng cảnh đẹp kết hợp với di tích lịch sử và văn hóa
ở từng vùng miền nên triển khai mở rộng dịch vụ du lịch. Mỗi vùng trên nước ta đều có
những địa điểm và thắng cảnh đẹp. Để tận dụng được lợi thế này các địa phương nên áp
dụng các dich vụ du lịch này, quảng bá địa phương mình với các tỉnh, thành phố khác
trong cả nước và nước ngoài. Thu hút khách du lịch đến tham quan và mang lại lợi ích
kinh tế cho địa phương, đất nước. Tuy nhiên việc xây dựng và quảng bá hình ảnh du lịch
Việt Nam còn rất hạn chế về cả kinh phí và nhất là cách thức tổ chức thực hiện. Để du
lịch trở thành ngành mũi nhọn, du lịch Việt Nam cần triển khai một số vấn đề trọng tâm
sau:
- Tiếp tục nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò quan trọng của Ngành du lịch
trong điều kiện hiện nay. Mặc dù đã có chuyển biến rõ nét bước đầu trong thời gian qua,
song cần tiếp tục tuyên truyền làm chuyển biến nhận thức sâu rộng trong xã hội về tầm
quan trọng và sự cần thiết của việc phát triển du lịch, nhất là nhận thức tư tưởng của cán
bộ quản lý của các cấp các ngành từ Trung ương đến địa phương. Tạo ra sự chuyển biến
thực chất trong việc ban hành ban hành chính sách phát triển du lịch, nâng cao hiệu lực
quản lý nhà nước về du lịch ở các địa phương trọng điểm phát triển du lịch.
- Tiếp tục đổi mới và hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách, luật pháp có
liên quan đến du lịch, đặc biệt là các chính sách có liên quan đến tháo gỡ khó khăn cho
các doanh nghiệp du lịch để nâng cao sức cạnh tranh của du lịch như: Điều chỉnh và bổ


sung Luật Du lịch, các Nghị định thông tư hướng dẫn Luật; chính sách về thuế nhập khẩu

lượng cho đội ngũ cán bộ trong ngành là nhiệm vụ trong tâm trong định hướng phát triển
du lịch trong thời gian tới. Đối với đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước cần phải trang bị
kiến thức về chuyên môn nghiệp vụ du lịch vì phần nhiều cán bộ, công chức ở cấp Tổng
cục Du lịch và các địa phương từ các ngành khác, hoặc học các ngành khác nhau, chưa
nắm vững được kiến thức chuyên ngành du lịch; nâng cao trình độ nghiệp vụ quản lý nhà


nước, đặc biệt là quản lý kinh tế. Đối với nguồn nhân lực các doanh nghiệp và cộng đồng
dân cư chú trọng bồi dưỡng kiến thức thị trường, ngoại ngữ và nghiệp vụ chuyên sâu,
nâng cao ý thức bảo vệ tài nguyên và môi trường.
- Nâng cao hơn nữa vai trò quản lý nhà nước đối với sự nghiệp phát triển du lịch
theo hướng hoàn thiện tổ chức bộ máy chuyên ngành du lịch cấp Trung ương và một số
địa bàn trọng điểm; xây dựng, hoàn thiện các cơ chế chính sách, luật pháp nhằm tạo ra
môi trường kinh doanh thông thoáng hấp dẫn cạnh tranh giữa các doanh nghiệp thuộc
mọi thành phần kinh tế. Tăng cường công tác chỉ đạo để đảm bảo thực hiện tốt các nội
dung, chỉ tiêu phát triển du lịch được phê duyệt trong chiến lược và quy hoạch, chú trọng
các chỉ tiêu phát triển vùng, liên vùng và các địa bàn trọng điểm
2.4. Tài nguyên khoáng sản, năng lượng.
Để khai thác được lợi thé về nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú, chúng ta
cần giảm khối lượng xuất khẩu khoáng sản thô, chuyển dần sang xuất khẩu sản phẩm chế
biến, tận dụng cơ hội thuận lợi về thị trường và giá cả để tăng giá trị nhóm hàng nhiên
liệu và khai khoáng.
Những nguồn tài nguyên khoáng sản của nước ta ngày càng trở nên khan hiếm
hơn, mặc dù ngày nay, các doanh nghiệp với các công nghệ hiện đại đã sử dụng nguyên
liệu tiết kiệm hơn trước đây rất nhiều. Với mức dân số ngày càng tăng nhanh, sự lạm
dụng tài nguyên thiên nhiên đã gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng. Để khắc phục tình
trạng này, cần áp dung một số giải pháp sau:
- Tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức về vai trò, tầm quan trọng và yêu cầu
khai thác, sử dụng hợp lý, hiệu quả và bền vững tài nguyên
- Tăng cường năng lực tổ chức thực hiện và cơ chế giám sát, đánh giá việc thực thi

chúng ta cần thực hiện phổ cập PTCS, một số nơi có điều kiện có thể thực hiện phổ cập
PTTH. Theo báo cáo của WB về tình trạng đói nghèo ở nước ta, mức chi nhà nước cho
một học sinh ở cấp giáo dục tiểu học thấp và gia đình phải trả chừng 45% tổng mức chi
phí cấp đào tạo tiểu học, chi phí của Nhà nước bình quân cho một học sinh cấp 3 cao hơn
cấp tiểu học 13 lần. Tình trạng này hoàn toàn khác so với các nền kinh tế khác. Bởi vì hệ
thống nộp phí thường thấp ở mức tiểu học và tăng dần ở các mức đào tạo cao hơn. Vì vậy
để có thể phổ cập giáo dục ở các cấp, trước hết là cấp tiểu học, nhà nước cần tăng chi
ngân sách cho giáo dục tiểu học và thực hiện công bằng trong chi tiêu cho giáo dục. Đối
với một số tỉnh giảu, thành phố lớn, nên đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục để tăng nguồn lực
cho giáo dục, qua đó, Nhà Nước có thể ưu tiên NSNN cho vùng nghèo, vùng sâu, vùng
xa.
Thứ hai, cần nâng cao chất lượng nguồn lao động ở nước ta. Trong thời gian qua,
nhận thức được tầm quan trọng của nguồn nhân lực, Đảng và Nhà nước ta đã tập trung
đầu tư phát triển nhân tố con ngừoi. Tuy nhiên, chúng ta mới chỉ chú trọng số lượng,


chưa đầu tư thích đáng để nâng cao chất lượng. Vì vậy, trong thời gian tới, vấn đề chất
lượng phải được chú trọng nhièu hơn bằng cách biện pháp sau đây:
Biện pháp ngắn hạn
Trong lĩnh vực đào tạo, Nhà nước cần ưu tiên ngân sách và huy động ngoài ngân sách để
củng cố các trường dạy nghề tại các địa phương, thực hiện đào tạo có mục tiêu. Các
trường này phải phối hợp với các doanh nghiệp, cơ quan quản lí nhà nước để xác định
nhu cầu đào tạo, xây dựng chương trình đào tạo để làm căn cứ tuyển chọn và đào tạo cá
nhân đấp ứng nhu cầu theo ngành nghề mà nền kinh tế đang cần. Đồng thời thực hiện
chương trình giới thiệu các em học sinh trung học cơ sở hiểu biết về các trường dạy nghề
(thông qua quảng cáo tới tạn trường học hoặc thuyết trình...) để giúp học sinh tự chọn lựa
và quyết định nghề nghiệp phù hợp với khả năng bản thân
- Nghiên cứu xây dựng quỹ đào tạo chung cho các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh
tế nhằm đào tạo lại nghề cho lao động bị thất nghiệp do chuyển đổi cơ cấu, do chuyển
giao công nghệ. Chúng ta biết rằng, lao động ngoài quốc doanh chiếm phần lớn trong lực

Sớm đưa ra chiến lược tổng thể về đổi mới công nghệ làm cơ sở cho việc thiết kế cụ thể
chiến lược phát triển công nghệ gắn với chiến lược sẩn phẩm của doanh nghiệp
Lựa chọn chiến lược đúng đắn giữa vai trò quyết định trong quá trình phát triển
của mỗi nước. Đối với Việt Nam, là nước lạc hậu về công nghệ, Việt Nam nên lựa chọn
chiến lược kết hợp chuyển giao công nghệ và phát triển năng lực công nghệ trong nước.
Tận dụng lợi thế của nước đi sau, Việt Nam cần có sự tập trung cho việc thu hút và
vận dụng sáng tạo các thành phần khoa học kỹ thuật của thế giới, ứng dụng, làm chủ và
mở rộng công nghệ tiến bộ đi đôi với quản lí chặt chẽ công nghệ nhập, lường trước và
ngăn chặn hậu quả tiêu cực lâu dài. Đồng thời phải biết dành nỗ lực nhất định cho những
mũi nhọn phát triển, tìm cách đi tắt, đón đầu tạo nên lợi thế cạnh tranh về các phương
điện khoa học và công nghệ để đảm bảo tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế, gắn với việc
xử lí tốt các vấn đề công bằng và tiến bộ xã hội, môi trường sinh thái. Vì vậy, chiến lược
phát triển khoa học công nghệ của đất nước phải xác định rõ các vấn đế sau:



Các quan điểm mục tiêu về đổi mới công nghệ
Các định hướng ưu tiên phát triển công nghệ
Các giải pháp, chiến lược đổi mới và phát triển công nghệ.
Lộ trình đổi mới công nghệ
Phát triển nhân tố con người trong chuyển giao công nghệ để có thể tiếp nhận và làm chủ
công nghệ mới, cải tiến công nghệ nhập cho phù hợp với điều kiện Việt Nam, tiến tới
từng bước sáng tạo công nghệ mới.
Thực tế ở Việt Nam hiện nay, việc đào tạo lực lượng cán bộ quản lí công nghệ
nhìn chung còn nhiều hạn chế. Để khắc phục tình trạng này, một mặt, chúng ta cần sử
dụng tối đa đội ngũ hiện có, mặt khác, đẩy nhanh hình thức hợp tác về khoa học công
nghệ với nước ngoài và các tổ chức quốc tế để cán bộ công nghệ Việt Nam có cơ hội tiếp
xúc, bổ sung, tìm hiểu và học hỏi để bổ sung, nâng cao trình độ kiến thức chuyên môn và
kinh nghiệm nghề nghiệp của mình.
Đồng thời, Nhà nước cần tạo điều kiện làm việc cần thiết cho các nhà khoa học

thấp nếu phương án khả thi hay trong điều kiện cần thiết, giảm thuế đối với mặt hàng sản
xuất bằng công nghệ mới.
5. Tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài
Để tăng hiệu quả thu hút FDI vào Việt Nam trong thời gian tới cần thực hiện cải
thiện môi trường đầu tư và nâng cao năng lực cạnh tranh của môi trường đầu tư Việt Nam
là một yêu cầu cấp thiết đối với công tác quản lý nhà nước về FDI, đòi hỏi được thực
hiện liên tục không chỉ hiện nay mà cả các giai đoạn phát triển sau này của đất nước. Cần
có chiến lược, có định hướng, có quy hoạch, có một bộ máy đủ mạnh về quản lý FDI để
xác định các bước đi dài hạn nhằm đạt tới mục tiêu đặt ra, tuy vậy chúng ta đều rõ các
vấn đề về chiến lược, quy hoạch, tổ chức lại bộ máy, nhất là vấn đề nhân sự cho bộ
máy… là những vấn đề tổng hợp, phức tạp không thể hoàn thành trong ngắn hạn một
năm. Khi thực hiện các bước đi dài hạn đó cần tổ chức thực hiện ngay các tác nghiệp nhỏ
trong các bước đi ngắn hạn hàng năm. Cụ thể là :

-

Giải pháp từ luật pháp, chính sách: Cần hoàn thiện hệ thống chính sách theo hướng đồng
bộ hơn, phù hợp với tiến trình hội nhập; các luật mới ra đời cần hạn chế sự ảnh hưởng


-

-

-

-

của các nhà đầu tư FDI, nhưng phải bảo vệ lợi ích chính đáng của các nhà đầu tư. Trong
đó, cần cải cách thủ tục hành chính theo hướng đơn giản, gọn nhẹ, thông thoáng, vừa tạo

thụ động ngồi chờ; đẩy mạnh tuyên truyền để DN tích cực hơn trong việc hội nhập và
nắm bắt cơ hội, đón đầu dòng vốn FDI nội khối từ ASEAN; nâng cao hiệu quả hoạt động
xúc tiến đầu tư; tăng cường cơ quan đại diện xúc tiến đầu tư tại một số địa bàn trọng
điểm. Phối hợp với các bộ ngành và địa phương tiếp tục rà soát, xây dựng danh mục bổ
sung các dự án kêu gọi đầu tư với tiêu chí rõ ràng cụ thể.


-

-

Giải pháp về nguồn nhân lực: Nâng cao năng suất chất lượng nguồn lao động cũng là
yêu cầu quan trọng trong thu hút các dự án FDI, Việt Nam phải cải thiện nguồn nhân lực
để có thể duy trì và tăng cường thêm các dự án FDI.
Giải pháp về phối hợp quản lý trong quản lý nhà nước: Để giúp các DN FDI tháo gỡ
vướng mắc thủ tục hành chính nhanh chóng, cần có sự phối hợp can thiệp giữa Trung
ương và địa phương trong việc cấp phép và quản lý các dự án đầu tư nước ngoài. Đẩy
mạnh việc phân cấp quản lý giữa Trung ương và địa phương trong công tác kiểm tra,
giám sát thực hiện Luật của các địa phương, tránh ban hành chính sách ưu đãi vượt
khung; rà soát lại tính khả thi và tính phù hợp của các dự án FDI chưa thực hiện; tăng
cường năng lực đào tạo, bồi dưỡng các bộ quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài, nâng cao
năng lực thực thi và hiệu quả quản lý nhà nước về đầu tư trực tiếp nước ngoài của cơ
quan chức năng.

Về phía DN: Ngoài các giải pháp để thúc đẩy đầu tư nước ngoài thì các DN trong nước
phải chuẩn bị kỹ cho hội nhập. Nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm và của DN
trong nước nhằm hấp thụ được dòng vốn đầu tư nước ngoài, gắn kết chặt chẽ, học hỏi, tận
dụng cơ hội từ khu vực này. Các DN trong nước cần chủ động trong việc tham gia sản
xuất, đa dạng nguồn cung nguyên liệu nhằm tận dụng ưu đãi từ các hiệp định thương mại;
đồng thời, có chiến lược nghiên cứu, nắm bắt thị hiếu tiêu dùng để cung cấp các sản


-

-

Chính sách ưu đãi:
Chính sách hỗ trợ thông tin: Chính sách ưu đãi phải có tác dụng đinh hướng đầu tư và
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh của nền
kinh tế. Vì vạy, cần tiến hành rà soát, bổ sung, sửa đổi các chính sách ưu đãi đầu tư theo
hướng:
+ Tập trung các hình thức ưu đãi thuế về một đầu mối là luật thuế, xóa dần tình
trạng ban hành tran lan cái ưu đãi thuế tại nhiều văn bản khác nhau, dẫn đến khó điều
hành và tùy tiện trong thực hiện.
+ Các chính sách ưu đãi phải nhằm vào mục đích phát triển rõ ràng, mang lợi ích
lâu dài cho nền kinh tế.
+ Hình thành hệ thống thông tin về kinh tế- tài chính trong phạm vi cả , nước để
tạo điều kiện cho các nhà đầu tư, các doanh nghiệp, các nhà quản lí có khả năng tiếp cận
với những thông ttin cần thiết về doanh nghiệp, mà trước hết là những thông tin có liên
quan đến việc đăng kí kinh doanh, báo cáo tài chính của các doanh nghiệp. Nhà nước
thiết lập và công bố công khai những thông tin cần thiết về định hướng đầu tư và phát
triển của từng ngành, vùng và lãnh thổ.
Chính sách thương mại: cần tiếp tục cải cách theo hướng tự do hóa. Lộ trình cho việc cải
cách chính sách này cần phải phù hợp với chính sách đổi mới kinh tế theo hướng mở cửa
để hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới. Trên cơ sở đó cần xem xét lại vấn đề bảo hộ
kinh tế trong chính sách thương mại mà ta vẫn thực hiện từ trước đến nay. Phải phân biệt
được sự khác nhau giữa bảo hộ các ngành sản xuất còn non trẻ, nhạy cảm trong nước vì
vấn đề quốc kế dân sinh với bảo hộ mậu dịch để có một thị trường khép kín hơn. Căn cứ
vào đường lối đối ngoại của Đảng ta thì quan điểm sau là không thích hợp với những cải
cách mà chúng ta đã thực hiện, trên thực tế đã khẳng định điều đó. Trước mắt, chúng ta
chỉ thực hiện những biện pháp bảo hộ có điều kiện, có giới hạn về thời gian đối với một

phù
hợp
với
ngành
nào

VN
3. Lao động là 1 lợi thế so sánh của VN, nêu ví dụ. Nó ảnh hưởng ntn trong th ương m ại qu ốc t ế
Câu 4: Sự khác nhau giữa lý thuyết l ợi thế so sánh c ủa H-O và David Ricardo
Câu 5: Hiện nay, Nhật có đầu tư vốn ODA vào nước ta nh ưng l ại liên k ết, thực hiện chương trình
đường sắt tại nước ta với giá khá cao. Như vậy trong trường h ợp này n ước ta có l ợi hay không?
Câu 6: Theo như thực tế của nhóm đã nêu, nước ta có ngu ồn lao động d ồi dào nh ưng th ực t ế, lao
động nước ta chưa quen với các công nghệ sản xuất cao, hi ện đại, tiền công tr ả cho công nhân l ại
cao
=>
Nước
ta

lợi
thế
hay
không?
Nêu

biện
pháp
nhằm
nâng
cao
nguồn

́
TRẢ LỜI CỦA NHÓM

Câu 1 Nước ta là nước nhập khẩu công nghệ của các nước nước đi trước
nhưng chúng ta rất có thể sẽ trở thành bãi rác công nghệ nếu nhập khẩu
không đúng cách => cần có biện pháp gì để tránh tình trạng trên
Hiện nay, hoạt động chuyển giao công nghệ ở nước ta chưa thực sự phát triển, hoạt
động chủ yếu là nhập công nghệ tức là mua bán các trang thiết bị máy móc của các



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status