i
LỜI NÓI ĐẦU
Để hoàn thành chương trình đào tạo sau đại học chuyên ngành lâm học
khóa học 2009 - 2011, được sự cho phép của Trường Đại học Lâm nghiệp,
khoa Đào tạo sau đại học tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu lựa chọn phương
pháp kiểm kê rừng phục vụ cho việc chi trả dịch vụ môi trường rừng tại xã
Miền Đồi – Huyện Lạc Sơn – Tỉnh Hòa Bình”
Trong quá trình thực hiện đề tài được sự hướng dẫn của thầy giáo
PGS.TS. Vương Văn Quỳnh đến nay đề tài đã hoàn thành. Nhân dịp này tôi
xin gửi lời cảm ơn chân thành đến thầy giáo PGS.TS. Vương Văn Quỳnh đã
hướng dẫn, chỉ bảo cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài này.
Tôi cũng gửi lời cảm ơn đến ban lãnh đạo, nhân dân xã Miền Đồi đã tạo
mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian tôi thực tập tại đây.
Do thời gian thực hiện không nhiều, bản thân còn có nhiều hạn chế nên
trong đề tài không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong nhận được sự đóng
góp ý kiến của các thầy cô giáo, bạn bè đồng nghiệp để bản luận văn trở nên
hoàn thiện hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tôi xin cam đoan, đây là công trình của cá nhân tôi, các số liệu, kết quả
trong bản luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa từng công bố ở bất kỳ
công trình nào khác.
Hà Nội, tháng 06 năm 2012
Tác giả
Hoàng Hưng
ii
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời nói đầu………………………………………………………………...…..i
Mục lục………………………………………………………………..………ii
3.1. Điều kiện tự nhiên .............................................................................. 26
3.1.1. Vị trí địa lý .................................................................................... 26
3.1.2. Địa hình, địa thế ........................................................................... 26
3.1.3. Địa chất và đất đai........................................................................ 26
3.1.4. Khí hậu, thuỷ văn ......................................................................... 27
3.1.5. Hệ động thực vật .......................................................................... 28
3.2. Điều kiện Kinh tế - Xã hội ................................................................. 29
3.2.1. Về kinh tế ...................................................................................... 29
3.2.2. Về xã hội ....................................................................................... 29
Chương 4. KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ ...................................... 31
4.1. Đặc điểm tư liệu ảnh và bản đồ sử dụng cho kiểm kê rừng ở khu
vực nghiên cứu ........................................................................................... 31
4.2. Nghiên cứu đánh giá kết quả kiểm kê rừng bằng tài liệu thống kê
và bản độ hiện trạng rừng ........................................................................ 34
4.3. Nghiên cứu phương pháp xây dựng bản đồ kiểm kê rừng từ ảnh vệ
tinh SPOT-5 ............................................................................................... 36
4.3.1 Xây dựng khóa giải đoán các trạng thái rừng trên khu vực nghiên
cứu. .......................................................................................................... 37
4.3.2. Nghiên cứu phương pháp phân loại ảnh vệ tinh tự động dựa
trên ngưỡng phân loại. .......................................................................... 40
4.3.2.1 Nghiên cứu phổ phản xạ của mộ số đối tượng sử dụng đất trên
ảnh SPOT-5. ........................................................................................ 40
4.3.2.2. Nghiên cứu phân loại các trạng thái rừng theo ngưỡng ....... 44
iv
4.3.3. Nghiên cứu phương pháp phân loại định hướng đối tượng
(Object based classification) dựa trên phần mềm Ecognition ............. 45
4.4. Nghiên cứu đề xuất phương pháp thành lập bản đồ kiểm kê rừng
có độ chính xác cao .................................................................................... 48
DVMTR
Dịch vụ môi trường rừng
GPS
Global Positioning System: Hệ thống định vị toàn cầu
Hvn
Chiều cao vút ngọn
IUCN
Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế
MS
Multi Spectral: Đa phổ
NDT
Nhân dân tệ (Trung Quốc)
NDVI
Normalized Diference Vegetation Index: Chỉ số thực vật
NIR
4.1
Một số thông số kỹ thuật của ảnh SPOT
4.2
4.3
4.4
4.5
4.6
4.7
4.8
Kết quả thống kê hiện trạng rừng theo bản đồ hiện trạng
rừng năm 2006
Kết quả thống kê hiện trạng rừng
Bộ khóa giải đoán các đối tượng có trong khu vực nghiên
cứu
Bảng thống kê giá trị NDVI trung bình cho các đối tượng
khu vực nghiên cứu
Ngưỡng phân loại theo chỉ số NDVI khu vực nghiên cứu
Bảng ma trận sai số phân loại theo NDVI khu vực nghiên
cứu
Bảng ma trận sai số phân loại theo phương pháp phân loại
định hướng đối tượng (Object based Classification)
Trang
4
33
4.2
Ảnh phân bố chỉ số NDVI khu vực nghiên cứu
4.3
4.4
4.5
4.6
Đồ thị biểu diễn sự biến đổi NDVI qua các đối tượng khu vực
nghiên cứu
Ảnh phân loại theo NDVI khu vực nghiên cứu
Kết quả tìm ngưỡng thích hợp cho trạng thái rừng khu vực
nghiên cứu
Kết quả phân loại định hướng đối tượng (Object based
classificaton)
Trang
32
41
42
45
46
47
4.7
Bản đồ phân hệ số K3 xã Miền Đồi - Lạc Sơn - Hòa Bình
63
4.13
Bản đồ phân hệ số K4 xã Miền Đồi - Lạc Sơn - Hòa Bình
64
4.14
Bản đồ phân hệ số K xã Miền Đồi - Lạc Sơn - Hòa Bình
65
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Từ những năm đầu của thập niên 90 thuộc thế kỷ trước, công tác bảo vệ
và phát triển rừng ở nước ta đã ngày càng được quan tâm, nhiều chương trình,
dự án được đầu tư, nhiều chính sách về rừng được ban hành. Vì vậy, diện tích
rừng nước ta đã tăng lên không ngừng, từ 33,2% năm 1999 lên 39,1% năm
2009. Nhiều khu rừng bảo tồn và vườn quốc gia được thiết lập đã góp phần
bảo vệ tính đa dạng sinh học, nhiều vùng rừng nguyên liệu tập trung đã hình
thành, đáp ứng được một phần cho nhu cầu trong nước và góp phần xuất
khẩu. Đồng thời với độ che phủ rừng tăng lên, diện tích rừng có chủ quản lý
thực sự cũng không ngừng mở rộng.
Tuy nhiên, từ đợt Tổng kiểm kê rừng toàn quốc theo Chỉ thị 286/CTTTg đến nay đã gần 15 năm, nhưng công tác kiểm kê rừng trên phạm vi cả
diện tích, trạng thái rừng và nguồn gốc của từng lô rừng. Tuy nhiên đây là
công việc phức tạp, đòi hỏi nhiều công sức. Nó đang là một trong những
nguyên nhân làm chậm việc triển khai Nghị định 99 ở các địa phương.
Xuất phát từ những lý do trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên
cứu lựa chọn phương pháp kiểm kê rừng phục vụ cho việc chi trả dịch vụ
môi trường rừng tại xã Miền Đồi – Huyện Lạc Sơn – Tỉnh Hòa Bình”.
3
Chương 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Trên thế giới
Nhận thức về giá trị môi trường rừng
Trên thế giới từ lâu người ta đã khẳng định được tác dụng nhiều mặt của
rừng với môi trường, đặc biệt là tác dụng điều tiết và làm sạch nguồn nước,
giảm thiểu hạn hán và lũ lụt, bảo vệ và phục hồi đất, điều hoà khí hậu, hấp thụ
các khí độc, ổn định thành phần khí quyển, chống lại biến đổi khí hậu v.v...
Hiểu biết của con người về ảnh hưởng của rừng đến môi trường đã trở thành
cơ sở khoa học của những giải pháp phát triển rừng phòng hộ đầu nguồn, ven
biển, rừng phục hồi đất, bảo vệ hồ đập, chắn gió, chắn cát, bảo vệ khu đô thị,
khu công nghiệp v.v...
Trên cơ sở nghiên cứu tác động của rừng đến môi trường, nhiều người đã
ước tính giá trị sinh thái môi trường của rừng. Ở Nga, Tarancop (1986) đã ước
lượng giá trị sinh thái cảnh quan của rừng ở vành đai xanh thành phố
Voronhez là khoảng 70% tổng giá giá trị của rừng. Ở Trung Quốc, Trương
Gia Bình (2003) đã ước tính giá trị giữ đất, giữ nước và cung cấp phân bón
của rừng ở Vân Nam là 4450USD/ha, chiếm 88% tổng giá trị của rừng. Khi
nghiên cứu khả năng hấp thụ carbon, Zhang (2000) cho rằng rừng nhiệt đới có
có giá trị hấp thụ carbon từ 500-2000USD/ha, còn rừng ôn đới là 100300USD/ha. Ở Nhật Bản, người ta ước tính rằng giá trị môi trường của rừng ở
Sản phẩm ngoài gỗ (thức ăn, thuốc, nguồn gen,...)
trực tiếp
Sử dụng cho mục đích giáo dục, nghỉ ngơi và văn hóa
Phòng hộ đầu nguồn
Chu trình dinh dưỡng
Giá trị sử dụng
Giảm ô nhiễm không khí
gián tiếp
Điều tiết tiểu khí hậu
Lưu trữ các bon
Giá trị các hàng hóa/dịch vụ có thể sử dụng trong tương
Giá trị lựa
lai bởi các bên liên quan
chọn
Giá trị
Giá trị sử
dụng
Giá trị
không sử
dụng
Giá trị để lại
Giá trị các hàng hóa/dịch vụ có thể sử dụng trong tương
lai bởi các thế hệ kế tiếp của các bên liên quan
5
27%, giá trị bảo tồn ĐDSH chiếm 25%, giá trị vẻ đẹp cảnh quan chiếm 17%
và giá trị khác chiếm 10%.
Ngày nay, các nhà khoa học đã đưa ra nhiều ví dụ và cả loạt các khuyến
nghị để việc áp dụng các phương pháp định giá rừng và định giá tài nguyên
6
nói chung đạt độ chính xác nhất định (Browder, 1988; Hodgson, 1988; Lal,
1990; Walsh, 1990; Baldares, 1990; Bennett, Saastamoinen, 1992; 1993;
Adger, 1995; Hadker, 1997; David, 2001).
Dịch vụ môi trường rừng và chi trả dịch vụ môi trường rừng.
Mặc dù giá trị môi trường đã được khẳng định và nghiên cứu từ lâu song
chúng thường được coi là thứ hàng hoá công cộng. Mọi người đều có thể tự do
tiếp cận, tự do sử dụng và hưởng lợi từ giá trị môi trường rừng. Tình trạng ấy,
nhất là ở những nước nghèo, đã không khuyến khích người lâm nghiệp bảo vệ
và phát triển những giá trị môi trường rừng, dẫn đến thiệt hại cho nhiều ngành
sản xuất và đời sống nói chung. Thực tế đó đã buộc người ta phải hợp tác với
nhau giữa người làm rừng và những người hưởng lợi chính từ giá trị môi
trường rừng, chia sẻ với nhau trách nhiệm trong việc bảo vệ và phát triển
những giá trị môi trường rừng. Trong quá trình đó những giá trị môi trường
rừng được phân tích, lượng giá, mua bán, trao đổi như những hàng hoá và dịch
vụ khác. Người ta gọi những lợi ích môi trường của rừng được đưa ra trao đổi,
mua bán như vậy là dịch vụ môi trường rừng. Những chính sách khuyến khích
việc trao đổi, mua bán giá trị dịch vụ môi trường rừng được gọi là chính sách
chi trả dịch vụ môi trường rừng.
Trên thế giới chi trả dịch vụ môi trường rừng đã được chú ý thực hiện từ
những năm 90 của thế kỷ 20, đến nay đã được đề cập và thực thi ở nhiều nước,
nhiều khu vực trên thế giới [9]. Các nước phát triển ở Mỹ La Tinh đã sử dụng
các mô hình chi trả dịch vụ môi trường rừng sớm nhất và chính phủ một số nước
Châu Âu cũng đã quan tâm đầu tư và thực hiện nhiều chương trình, mô hình chi
- Mexico: Chính phủ Mexico đã tài trợ cho một chương trình chi trả để
bảo vệ rừng đầu nguồn và cung cấp dịch vụ thủy văn. Chủ rừng ở bất cứ tiểu
bang nào cũng đều có thể nộp đơn xin tham gia chương trình miễn là họ đáp
8
ứng được các tiêu chí thực hiện. Ủy ban Lâm nghiệp Quốc gia đã ký hợp
đồng với chủ đất và hợp đồng có thể được ký lại hàng năm trong giai đoạn 5
năm. Tiền chi trả lần đầu sẽ được thanh toán trong vòng 16 ngày làm việc kể
từ ngày ký hợp đồng và các lần chi trả sau sẽ được thanh toán vào cuối năm
dựa vào ảnh vệ tinh và kiểm tra ngẫu nhiên tại hiện trường.
Mức giá chi trả cho chủ đất do nhà nước quyết định trên cơ sở chi phí
theo loại hình sử dụng đất, giả sử thu nhập từ trồng ngô là một hoạt động thay
thế trên diện tích đất đó (mức giá từ 30 đến 36 USD/ha/năm) [9].
- Mỹ: Chính phủ Mỹ đóng góp đáng kể vào hoạt động chi trả hệ sinh thái
được phát động bởi chính phủ trong các sáng kiến về chất lượng nước thông
qua việc tài trợ 5 chương trình bảo tồn liên bang, trong đó một chương trình
đầu tư vào cơ sở hạ tầng và bốn chương trình cấp độ địa phương về bảo vệ
nguồn nước uống với tổng đầu tư khoảng 1,35 tỷ USD trong năm 2008 [10].
Cùng với sự gia tăng của mô hình “cộng đồng thực thi” có nghĩa là thực
hiện các hoạt động nhằm tạo ra thị trường các hệ sinh thái từ những vùng đầm
lầy Florida đến môi trường sống cần thiết cho cá hồi ở vùng Tây Bắc Thái
Bình Dương để áp dụng hình thức quản lý rừng trong vùng Đông Bắc, Chính
phủ Mỹ đưa ra các sáng kiến của mình nhằm góp phần đáng kể đối với việc
tích lũy những bài học mới về ứng dụng các công cụ chi trả hệ sinh thái cho
quản lý các dịch vụ hệ sinh thái có liên quan tới nguồn nước [10].
- Châu Phi: Tổng số chương trình chi trả dịch vụ hệ sinh thái ở Châu Phi
là 20 với khoảng 10 chương trình đang hoạt động vào năm 2008 đem lại tổng
giá trị chi trả là 62,7 triệu USD với gần 200 ngàn ha đất [10]. Hầu hết các
trường hợp thực hiện ở theo các chương trình bảo tồn hệ sinh thái quốc gia,
Vittel Pháp (Perrot-Maître, 2006), và một số chương trình PES chính phủ như
chương trình bảo vệ đất dốc ở Trung Quốc (Bennett, 2008), Chương trình
PES ở Costa Rica (Pagiola, 2008), chương trình PES ở Mexico (Muñoz-Piña
10
et al., 2008-this issue), chương trình dịch vụ bảo tồn ở Mỹ (Claassen et al.,
2008), chương trình vùng nhạy cảm môi trường và sơ đồ quản lý quốc gia ở
Anh (Dobbs and Pretty, 2008), dự án mô hình Northeim ở Đức (Bertke and
Marggraf, 2004), chương trình Wimmera ở Úc (Shelton and Whitten, 2005),
chương trình tương tự chi trả dịch vụ môi trường ở CAMPFIRE, Zimbabwe
(Frost and Bond, 2008), chương trình hoạt động vì nước ở Nam Phi (Turpie et
al., 2008).
Từ các mô hình dịch vụ môi trường rừng ở các nước cho thấy, quản lý
và bảo vệ đầu nguồn đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý và bảo vệ tài
nguyên và đa dạng sinh học. Dịch vụ môi trường rừng được đánh giá là một
cơ chế có sự gắn kết với các mục tiêu thiên niên kỷ, được xem như một cơ
chế tài chính góp phần giảm nghèo, bảo vệ thiên nhiên và đa dạng sinh học vì
một thế giới phát triển bền vững hơn.
1.2. Ở Việt Nam
Nhận thức về giá trị môi trường rừng
Ở Việt Nam từ xa xưa người dân ở nhiều nơi đã biết bảo vệ những khu
rừng thiêng, rừng ma, rừng đầu nguồn để giữ nước sinh hoạt và nước tưới cho
cộng đồng. Hầu hết người dân miền núi đều hiểu rõ vai trò bảo vệ và phục hồi
đất của rừng. Họ đã sử dụng nó như một công cụ hiệu quả để bảo vệ và phục
hồi đất canh tác từ đời này sang đời khác.
Các nhà khoa học Việt Nam đã quan tâm đến hiệu quả môi trường của
rừng từ những thế kỷ trước trong nhiều lĩnh vực như lâm học, sinh thái học,
khí tượng thuỷ văn, trồng rừng, quản lý nguồn nước v.v... Kết quả nghiên cứu
về hiệu quả bảo vệ đất và giữ nước của rừng đầu nguồn đã trở thành căn cứ
mới 5 triệu ha rừng theo Quyết định số 661/QDD-TTg ngày 29/7/1998 của
Thủ tướng Chính phủ). Các chương trình này kéo dài cho tới tận ngày nay,
giúp bảo vệ hàng triệu ha rừng quý hiếm khỏi bị tàn phá.
12
Gần đây, Chính phủ cũng đang rất nỗ lực để phối hợp với các tổ chức
quốc tế xây dựng và thực hiện chương trình Giảm phát thải do mất rừng và
suy thoái rừng, nhằm góp phần giảm thiểu tác động tiêu cực do phát thải khí
CO2 gây ra. Việt Nam đã được chọn là một trong 9 quốc gia được Chương
trình giảm phát thải do mất rừng và suy thoái rừng của Liên Hợp Quốc trợ
giúp để xây dựng chương trình Quốc gia về giảm phát thải do mất rừng và
suy thoái rừng.
Quyết định số 18/2007/QĐ-TTg ngày 05/2/2007 của Thủ tướng Chính
phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai
đoạn 2006 - 2020 đã đề cập đến việc xây dựng cơ chế chính sách chi trả
dịch vụ môi trường rừng, coi đó là một trong những nguồn tài chính tiềm
năng đầu tư lại trực tiếp vào rừng.
Hiện tại, Quỹ Bảo tồn Hoang dã Thế giới (WWF) đang thực hiện một số
dự án về các mô hình chi trả dịch vụ môi trường rừng như bảo vệ đầu nguồn,
bảo tồn đa dạng sinh học, và du lịch sinh thái; tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên
Quốc tế (IUCN) còn thực hiện Dự án chi trả dịch vụ môi trường - ứng dụng
tại khu vực ven biển. Những dự án này được tổ chức thực hiện trong các
chương trình do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Tổ
chức Winrock International. Ngoài ra, Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế
(IUCN) còn thực hiện dự án chi trả dịch vụ môi trường - ứng dụng tại khu vực
ven biển. Dự án xây dựng cơ chế chi trả cho hấp thụ các-bon trong lâm
nghiệp, thí điểm tại huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình do Trung tâm Nghiên
cứu Sinh thái và Môi trường Rừng thực hiện [6].
Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và môi trường thuộc Bộ Tài
hiện tại giữa hai tình huống đã được ước lượng, cũng như giá trị ròng hiện tại
của các tổn thất. Cuối cùng, giá trị của các dịch vụ môi trường mà rừng cung
14
cấp trong việc giảm bồi lắng phù sa lòng hồ đã được ước lượng, làm cơ sở xem
xét ban hành Nghị định về chi trả môi trường cấp quốc gia [18].
Chương trình Bảo tồn Đa dạng Sinh học Vùng Châu Á đã hoàn tất một
số nghiên cứu tạo cơ sở cho việc lập kế hoạch du lịch bền vững ngắn hạn
và trung hạn tại Lâm Đồng. Các nghiên cứu này bao gồm Phương án chọn
lựa cho các cơ chế tạo tài chính cho đa dạng sinh học và du lịch; phân tích
chi phí - lợi ích của du lịch bền vững; gắn du lịch và chi trả dịch vụ môi
trường rừng ở Vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà, Lâm Đồng. Kết quả nghiên
cứu được đưa ra thảo luận, Chương trình Bảo tồn Đa dạng Sinh học Vùng
Châu Á đã đưa ra mức chi trả là 0,5 - 2% doanh thu ròng hàng năm của các
công ty du lịch [19].
Từ đầu năm 2008, chi trả dịch vụ môi trường rừng lần đầu tiên được
được thực hiện thí điểm tại 2 tỉnh Sơn La và Lâm Đồng theo quyết định
380/QĐ-TTg ngày 10 tháng 04 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ. Sau 2
năm thực hiện, kết quả đã thu được thành công nhất định, rừng được bảo vệ
tốt hơn.
Tại Sơn La, bên sử dụng dịch vụ được xác định là các nhà máy Thuỷ
điện Hoà Bình, nhà máy thuỷ điện Suối Sập, công ty Cấp nước Phù Yên và
công ty Cấp nước Mộc Châu, bên cung cấp dịch vụ là các chủ rừng trên địa
bàn 2 huyện thí điểm Mộc Châu và Phù Yên. Mức chi trả của từng công ty
được xác định dựa trên tổng lượng điện/tổng lượng nước kinh doanh hàng
năm trong đó đối với 1Kwh là 20 đồng, 1m3 nước là 30 đồng và bình quân/ha
là 100.432 đồng [4].
Chủ rừng đã nhận được mức chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng như
sau: rừng phòng hộ là rừng tự nhiên 140.243 đồng/ha/năm; rừng phòng hộ là
nguồn nước, bảo vệ đất, hạn chế xói mòn và bồi lắng lòng hồ cho thủy điện,
16
cho cấp nước sinh hoạt, dịch vụ bảo vệ cảnh quan và giá trị thiên nhiên cho
du lịch giải trí và nghỉ dưỡng, dịch vụ cung ứng bãi đẻ, nguồn thức ăn và
con giống cho nuôi trồng thuỷ sản, dịch vụ về hấp thụ và lưu giữ cac bon
(CO2) v.v...
Mặc dù được xã hội hưởng ứng tuyệt đối nhưng vẫn còn nhiều tranh luận
về các yếu tố kỹ thuật của chính sách, trong đó có khung giá trị dịch vụ môi
trường rừng, mức chi trả và mức chi trả dịch vụ môi trường rừng, các hệ số
hiệu chỉnh, diện tích rừng và số lượng các đối tượng chi trả và được chi trả dịch
vụ môi trường rừng v.v... Trong một số trường hợp, việc xác định thiếu chính
xác các yếu tố trên sẽ gây cản trở nhất định đến thực hiện chính sách chi trả
dịch vụ môi trường rừng. Tuy nhiên, việc xác định những yếu tố trên không
đơn giản, nó cần có những phương pháp khoa học phù hợp với điều kiện kinh
tế xã hội của Việt Nam..
17
Chương 2
MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
Lựa chọn được phương pháp kiểm kê rừng có độ tin cậy cao đáp ứng yêu
cầu của chi trả dịch vụ môi trường rừng tại xã Miền Đồi – Huyện Lạc Sơn –
Tỉnh Hòa Bình.
2.2. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
2.2.1. Phạm vi nghiên cứu:
các phương pháp đo tính diện tích. Vì vậy, phương pháp kiểm kê rừng đảm
bảo xác định được chính xác ranh giới các lô rừng sẽ đảm bảo xác định được
chính xác diện tích rừng.
Trạng thái rừng là mức giàu nghèo của rừng thường được đánh giá qua
trữ lượng rừng. Vì vậy, phương pháp kiểm kê rừng nào đảm bảo xác định
được trữ lượng rừng, hoặc phân loại được các trạng thái rừng theo trữ lượng
thì nó sẽ phù hợp với yêu cầu của chi trả dịch vụ môi trường rừng.
Nguồn gốc rừng là quá trình hình thành rừng bằng tự nhiên hay nhân tạo.
Nguồn gốc rừng của một lô rừng được thể hiện ở chỗ nó là rừng tự nhiên hay
rừng trồng. Vì vậy, phương pháp kiểm kê rừng nào đảm bảo xác định được
các lô rừng là rừng tự nhiên, hay rừng trồng sẽ phù hợp với yêu cầu của chỉ
trả dịch vụ môi trường rừng.
Phương pháp kiểm kê rừng thích hợp với yêu cầu của chi trả dịch vụ môi
trường rừng là phương pháp đảm bảo xác định được diện tích, trạng thái và
nguồn gốc của từng lô rừng.