MỤC LỤC
Nhóm 5
1
Doanh nghiệp huy động vốn qua phát hành trái phiếu
LỜI MỞ ĐẦU
Vốn là một trong các nhân tố quan trọng, có tính chất quyết định trong
việc mở rộng quy mô kinh doanh và tăng cường năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp. Để có vốn kinh doanh, ngoài nguồn vốn chủ sở hữu, doanh nghiệp phải
thực hiện huy động vốn từ bên ngoài dưới nhiều hình thức khác nhau như vay
ngân hàng, thuê tài chính, phát hành trái phiếu doanh nghiệp…
Ở các nước có nền tài chính phát triển, trong các hình thức huy động vốn
của doanh nghiệp thì phát hành trái phiếu là công cụ chủ yếu để huy động nguồn
vốn vay trung và dài hạn cho các dự án đầu tư. Đây là loại công cụ đáp ứng
được nhu cầu của cả người phát hành và các nhà đầu tư do tính chất ổn định về
nguồn vốn, có thể tính toán trước về mức lợi tức có thể mang lại, đồng thời có
tính thanh khoản do nó được tự do mua bán, chuyển nhượng trên thị trường
chứng khoán tập trung và phi tập trung.
Ở nước ta hiện nay, hình thức huy động vốn vay chủ yếu của các doanh
nghiệp vẫn là từ hệ thống ngân hàng. Sự phụ thuộc quá mức của các doanh
nghiệp vào nguồn vốn vay nợ ngân hàng đã dẫn đến sự mất cân bằng trong cơ
cấu tài chính của cả hai khu vực doanh nghiệp và ngân hàng. Điều này dẫn đến
tình trạng: Nhu cầu vay vốn đầu tư của nhiều doanh nghiệp không được đáp
ứng; Rủi ro trong hoạt động tín dụng của các ngân hang gia tăng do việc sử dụng
vốn ngắn hạn để thực hiện cho vay trung và dài hạn.
Từ thực trạng đó, một yêu cầu cấp thiết của doanh nghiệp Việt Nam hiện
nay là phải tìm kiếm giải pháp huy động vốn thay thế nguồn vốn ngân hàng. Vì
nước, công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn phát hành để tăng vốn
hoạt động. Trái phiếu doanh nghiệp có nhiều loại và rất đa dạng.
1.2.
Đặc trưng
Mệnh giá trái phiếu: hay còn gọi là giá trị danh nghĩa của trái phiếu là giá
trị ghi trên trái phiếu. Giá trị này được coi là số vốn gốc. Mệnh giá trái phiếu là
căn cứ để xác định số lợi tức tiền vay mà người phát hành phải trả. Mệnh giá
cũng thể hiện số tiền người phát hành phải hoàn trả khi trái phiếu đến hạn.
Nhóm 5
3
Doanh nghiệp huy động vốn qua phát hành trái phiếu
Lãi suất danh nghĩa: Lãi suất trái phiếu thường được ghi trên trái phiếu
hoặc người phát hành công bố được gọi là lãi suất danh nghĩa. Lãi suất này được
xác định theo tỷ lệ phần trăm so với mệnh giá trái phiếu và cũng là căn cứ để
xác định lợi tức trái phiếu.
Thời hạn của trái phiếu: là khoảng thời gian từ ngày phát hành đến ngày
người phát hành hoàn trả vốn lần cuối. Trái phiếu có thời hạn khác nhau, trái
phiếu trung hạn có thời gian từ 1 năm đến 5 năm. Trái phiếu dài hạn, có thời
gian từ 5 năm trở lên.
Kỳ trả lãi: Là khoảng thời gian người phát hành trả lãi cho người nắm giữ
trái phiếu. Lãi suất trái phiếu được xác định theo năm, nhưng việc thanh toán lãi
suất trái phiếu thường được mỗi năm hai hoặc một lần.
Loại hình và hình thức trái phiếu doanh nghiệp
1.3.1. Trái phiếu không chuyển đổi
điểm đăng ký phát hành là 10 tỷ VND.
Nhóm 5
4
Doanh nghiệp huy động vốn qua phát hành trái phiếu
Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký phát hành phải có lãi,
đồng thời không có lỗ lũy kế đến năm đăng ký chào bán, không có các khoản nợ
phải trả quá hạn trên 1 năm.
Có phương án phát hành, phương án sử dụng và trả vốn thu được từ đợt phát
hành trái phiếu.
Có cam kết thực hiện nghĩa vụ của tổ chức phát hành đối với nhà đầu tư về điều
kiện phát hành, thanh toán, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư
và các điều kiện khác.
Mục đích phát hành trái phiếu của doanh nghiệp
Thực hiện các chương trình, dự án đầu tư của doanh nghiệp.
Tăng quy mô vốn hoạt động của doanh nghiệp.
Cơ cấu lại các khoản nợ của doanh nghiệp.
1.5.
Độ rủi ro cao hơn Trái Phiếu.
Do công ty cổ phần phát hành.
Không có tính chuyển đổi thành Trái Phiếu.
Trái phiếu
Khả năng tiếp cận nguồn vốn: phát hành trái phiếu giúp doanh nghiệp chủ động
linh hoạt hơn trong tiếp cận những nguồn vốn. Doanh nghiệp có quyền chủ động
đưa ra những điều kiện phù hợp với điều kiện thị trường: loại trái phiếu phát
hành là trái phiếu trơn, trái phiếu chứng quyền, linh hoạt trong việc định lãi trái
phiếu (cố định, thả nổi, thả nổi theo kỳ), nên trái phiếu có tiềm năng hấp dẫn nhà
đầu tư hơn
Tính thanh khoản: Trái phiếu hiện nay ở Việt Nam chưa có thị trường giao dịch
thứ cấp nên tính thanh khoản của trái phiếu hạn chế hơn so với cổ phiếu đã niêm
yết trên thị trường chứng khoán.
Khả năng làm pha loãng sở hữu khi có thêm nguồn vốn: Trái phiếu là vốn nợ
nên phát hành trái phiếu không làm pha loãng quyền sở hữu của chủ doanh
nghiệp, trừ trường hợp trái phiếu chuyển đổi thành cổ phiếu. Doanh nghiệp phát
2.1.
o
o
o
o
o
o
o
o
o
o
phát hành cổ phiếu là nguồn vốn chủ sở hữu thuộc về doanh nghiệp mãi mãi.
Đối với trái phiếu, trừ trái phiếu chuyển đổi thành cổ phiếu doanh nghiệp phải
trả lại số tiền gốc khi trái phiếu đáo hạn, điều này có thể sẽ ảnh hưởng rất mạnh
đến dòng tiền và tình hình tài chính của doanh nghiệp.
Rủi ro phá sản doanh nghiệp: Nếu doanh nghiệp không trả được lãi hay gốc thì
các trái chủ có thể tuyên bố phá sản doanh nghiệp, buộc doanh nghiệp chấm dứt
hoạt động và bán tài sản để trả nợ cho các trái chủ. Các cổ đông thì không có
những quyền như vậy. Nếu doanh nghiệp hoạt động thua lỗ thì các cổ đông những chủ sở hữu doanh nghiệp phải chấp nhận mất tiền và các chủ sở hữu
doanh nghiệp là đối tượng được hưởng lợi cuối cùng trong trường hợp doanh
nghiệp bị tuyên bố phá sản.
Nhận xét: Giữa trái phiếu và cổ phiếu có một gạch nối liên kết, đó là
trường hợp trái phiếu chuyển đổi được. Khi bắt đầu, nhà đầu tư mua trái phiếu,
tức là cho doanh nghiệp vay một số tiền bằng trị giá mua trái phiếu (tất nhiên
phải tính trừ phí hoa hồng môi giới...), nhưng nhà đầu tư vẫn kỳ vọng rằng đây
là doanh nghiệp sẽ có lãi và có tương lai phát triển với mức thu nhập cao, nhà
đầu tư đưa ra điều kiện là từng phần hoặc toàn phần trị giá trái phiếu sẽ được
chuyển đổi thành cổ phiếu.
Khi đó từ vai trò chủ nợ, nhà đầu tư trở thành một trong các sở hữu chủ
của doanh nghiệp và chuyển chứng khoán nợ thành chứng khoán vốn.
Huy động vốn bằng trái phiếu và vay ngân hàng
Doanh nghiệp huy động vốn bằng phát hành trái phiếu không cần có tài sản thế
chấp và được chủ động sử dụng số tiền huy động mà không có sự giám sát của
ngân hàng. Doanh nghiệp chỉ phải trả lãi theo kỳ hạn 6 tháng hay 1 năm và chỉ
2.2.
Nhóm 5
7
42.769 tỷ đồng (-11% yoy) trái phiếu doanh nghiệp được phát hành trong
năm 2015, theo thống kê của Bộ Tài Chính. Mặc dù khối lượng phát hành của
toàn thị trường trái phiếu (TPCP, TPCPBL, CPCQĐP, TPDN) tăng 7% trong
năm 2015, lượng trái phiếu doanh nghiệp phát hành lại giảm 11%.
Tăng trưởng tín dụng để lại nhiều ấn tượng với mức tăng 17% cùng với đà
hồi phục của hệ thống ngân hàng. Sự quay trở lại của kênh huy động vốn truyền
thống, được đóng góp rất lớn từ ngành bất động sản, đã ảnh hưởng xấu đến thị
trường trái phiếu nói chung. Hoạt động bán lẻ của các ngân hàng có nhiều khởi
sắc trong khi hoạt động bán buôn chưa thực sự có đột phá.
Nhu cầu huy động vốn cho mở rộng kinh doanh sản xuất chưa thực sự bứt
phá. Sự cẩn trọng vẫn nắm thế chủ đạo mặc dù tăng trưởng GDP vượt xa kê
hoạch mục tiêu, đạt 6,68%. Sự phục hồi của các ngành công nghiệp chế biến chế
tạo tuy ở mức khá nhưng chủ yếu đến từ khối doanh nghiệp FDI.
Việc phát hành trái phiếu doanh nghiệp trong năm phần lớn nhằm mục
đích tái cơ cấu. Từ góc độ nhà đầu tư, chủ yếu là các ngân hàng, việc lựa chọn
nhà phát hành được diễn ra khá cẩn trọng, một phần do áp lực hạ thấp tỉ lệ nợ
xấu. Do vậy. các tổ chức tín dụng này chủ yếu chỉ đầu tư vào những doanh
nghiệp với nền tảng tài chính tốt.
Khối lượng trái phiếu doanh nghiệp hiện hành trong năm 2015 tăng lên
đến 140.000 tỷ đồng, tương ứng với mức tăng 9,38%, nếu tính theo số tuyệt đối.
Tuy nhiên, nếu tính theo tỉ lệ phần trăm GDP, khối lượng trái phiếu doanh
nghiệp hiện hành lại chỉ tăng rất khiêm tốn, từ 3,25% GDP lên 3,39% GDP
trong năm nay. Xét một cách tổng thể, thị trường chưa có nhiều thay đổi đáng kể
Nhóm 5
9
Doanh nghiệp huy động vốn qua phát hành trái phiếu
Doanh nghiệp huy động vốn qua phát hành trái phiếu
khai Nghị định 88/2014/NĐ-CP về dịch vụ xếp hạng tín nhiệm nhằm thúc đẩy
sự phát triển của thị trường TPDN. Đồng thời đề xuất xây dựng hệ thống thông
tin dữ liệu của thị trường TPDN để tăng cường tính công khai minh bạch, thúc
đẩy sự phát triển của thị trường TPDN.
Sự tham gia của các công ty niêm yết gia tăng kể từ năm 2012 đến nay.
Nói một cách khác, khối lượng trái phiếu được phát hành bởi các công ty niêm
yết đã không ngừng tăng lên và chiếm đa số.
Cụ thể:
CTCP Vàng bạc Đá quý Phú Nhuận (PNJ) vừa có thông báo hủy phát
hành cổ phiếu và thay vào đó là phương án phát hành TPDN để huy động vốn.
Cụ thể PNJ dự kiến phát hành tối đa 500.000 trái phiếu không chuyển đổi có
tổng giá trị 500 tỷ đồng, bán bằng mệnh giá 1 triệu đồng/trái phiếu. Trái phiếu sẽ
được chia làm nhiều đợt phát hành và hoàn tất trong năm 2015. Lý do thay đổi
kế hoạch theo PNJ vì việc phát hành trái phiếu sẽ huy động tiền mặt nhanh
chóng và dễ dàng hơn so với phát hành quyền mua cổ phiếu.
Cùng với PNJ, gần đây nhiều doanh nghiệp cũng chọn chọn kênh phát
hành trái phiếu để huy động vốn, như CTCP Khoáng sản và Đầu tư Visaco vừa
thông qua phương án phát hành giá trị 30 tỷ đồng trái phiếu chuyển đổi để cơ
cấu khoản vay và bổ sung vốn lưu động. Lãi suất trái phiếu năm đầu tiên
11%/năm, năm tiếp theo sẽ bằng lãi suất tham chiếu cộng thêm 4%/năm.
Các doanh nghiệp bất động sản cũng ráo riết thực hiện. Tập đoàn Hà Đô
(HDG) dự kiến sẽ phát hành 500 tỷ đồng trái phiếu và đây là đợt thứ 2 trong
năm nay của Hà Đô. Trước đó, tập đoàn này vừa hoàn thành phát hành trái phiếu
đợt 1 với giá trị 200 tỷ đồng vào đầu tháng 10-2015 vừa qua.
Trước đó, CTCP Hoàng Anh Gia Lai (HAG) đã phát hành thành công 850 tỷ
đồng TPDN kỳ hạn 5 năm trong tháng 8-2015. Vào giữa tháng 7-2015, đơn vị
Nhóm 5
toàn bộ 250 tỷ đồng trái phiếu riêng lẻ đợt I năm 2015 của công ty này, bao gồm
công ty bảo hiểm và NH uy tín.
Nhóm 5
12
Doanh nghiệp huy động vốn qua phát hành trái phiếu
Nếu như những năm qua, kênh TPDN không thật sự được nhiều doanh
nghiệp quan tâm thì gần đây nhiều doanh nghiệp bắt đầu tìm kiếm nguồn vốn
lớn qua kênh này.
Theo báo cáo của Bộ Tài chính về thị trường trái phiếu trong 8 tháng đầu
năm 2015 tính đến 14-8, khối lượng phát hành TPDN là 11.148 tỷ đồng. Một
thống kê khác của Công ty Chứng khoán VPBS cho thấy trong 6 tháng đầu năm
2015, TPDN đã phát hành được 19.515 tỷ đồng, gấp 1,4 lần lượng phát hành của
6 tháng đầu năm 2014 và chiếm 85,1% tổng khối lượng phát hành của cả năm
ngoái.
VPBS cho biết chỉ tính riêng các công ty niêm yết, tổng khối lượng TPDN
dự kiến phát hành trong năm 2015 chưa thực hiện còn khoảng 10.410 tỷ đồng.
Đơn vị này dự báo, tổng giá trị TPDN phát hành năm nay sẽ tăng mạnh so với
năm 2014, hầu hết TPDN được phát hành với kỳ hạn dưới 5 năm. Theo đơn vị
này, do Chính phủ đã dừng phát hành trái phiếu chính phủ kỳ hạn ngắn, nên
TPDN thu hút người mua.
Tại Diễn đàn M&A 2015 hồi tháng 8-2015, Công ty Chứng khoán
VietinbankSC đã chiến thắng tại hạng mục “Tư vấn phát hành trái phiếu riêng
lẻ” với số lượng và quy mô các thương vụ phát hành trái phiếu riêng lẻ lên đến
13 hợp đồng với tổng giá trị trái phiếu phát hành thành công lên đến 21.485 tỷ
đồng.
Rõ ràng, việc phát hành TPDN để huy động vốn của doanh nghiệp đang
có bảo đảm bằng tài sản mà Tập đoàn Thủy sản Minh Phú phát hành cho
VietinBank chi nhánh Cà Mau cố định 7,5%/năm. Tiền lãi trái phiếu được thanh
toán 6 tháng/lần và tiền gốc được thanh toán một lần khi đến hạn.
Hay trong đợt chào bán 250 tỷ đồng trái phiếu riêng lẻ đợt 1 năm 2015
của SHS cho các NH và công ty bảo hiểm với lãi suất 6 tháng đầu cố định
8,5%/năm. Lãi suất áp dụng cho các kỳ tính lãi tiếp theo được thả nổi với lãi
suất tối thiểu bằng trung bình cộng của 4 mức lãi suất áp dụng với tiền gửi tiết
kiệm bằng VNĐ áp dụng với cá nhân, kỳ hạn 12 tháng, loại trả lãi sau cuối kỳ,
được công bố tại 4 NHTM bao gồm BIDV, Vietcombank, VietinBank, SHB với
biên độ cộng 2-3%/năm.
Đối với trường hợp SSI phát hành đợt hai cho một tổ chức tài chính trong
nước với lãi suất lô trái phiếu kỳ đầu tiên 7,175%/năm, sau đó sẽ được điều
chỉnh 3 tháng một lần (lãi suất cố định 1,25% cộng thêm lãi suất bình quân kỳ
hạn 12 tháng của 4 NH BIDV, Vietcombannk, VietinBank và VIB.
Nhóm 5
14
Doanh nghiệp huy động vốn qua phát hành trái phiếu
Lãi suất Tập đoàn Hà Đô dự kiến phát hành 600 tỷ đồng trái phiếu áp
dụng cho kỳ tính lãi đầu tiên 9,7%/năm, các kỳ tiếp theo sẽ được xác định bằng
lãi suất tiền gửi tiết kiệm cá nhân VNĐ, trả sau, kỳ hạn 12 tháng công bố tại sở
giao dịch/chi nhánh của 4 NHTM Agribank, VietinBank, BIDV và Vietcombank
tại mỗi ngày xác định lãi suất cộng biên độ 3,2%/năm.
Còn đợt phát hành 850 tỷ đồng trái phiếu của Hoàng Anh Gia Lai áp dụng
cho kỳ tính lãi suất đầu tiên của trái phiếu 10%/năm, kỳ tính lãi tiếp theo được
xách định trung bình cộng lãi suất tiền gửi tiết kiệm cá nhân bằng VNĐ, trả sau,
kỳ hạn 12 tháng công bố tại Chi nhánh Gia Lai của 4 NHTM có vốn nhà nước
cộng thêm biên độ 4%/năm.
8% GDP, thị trường trái phiếu chính quyền địa phương đạt 1% GDP và thị
trường trái phiếu doanh nghiệp đạt 7% GDP.
Để triển khai các giải pháp phát triển thị trường theo đúng lộ trình phát
triển thị trường trái phiếu Việt Nam đến năm 2020 tại Quyết định số 261/QĐBTC ngày 1/2/2013 của Bộ trưởng Bộ Tài chính, cần tập trung triển khai thực
hiện đồng bộ nhóm giải pháp sau:
4.1.
Về nhóm giải pháp hoàn thiện khung khổ pháp lý
Bộ Tài chính tiếp tục hoàn thiện khung khổ pháp lý cho thị trường trái
phiếu, để đảm bảo phù hợp với sự phát triển của thị trường và thông lệ quốc tế
cụ thể như sau:
Nghiên cứu và xây dựng khuôn khổ pháp lý cho hệ thống đại lý cấp I để hỗ trợ
công tác phát hành trái phiếu trên thị trường sơ cấp và thanh khoản của thị
trường thứ cấp.
Tiếp tục hoàn thiện khung khổ pháp lý về phát hành TPCP, TPCPBL, TPĐP và
TPDN.
Đối với trái phiếu doanh nghiệp: Đánh giá triển khai thực hiện Nghị định số
90/2011/NĐ-CP về phát hành trái phiếu doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, Bộ Tài
chính sẽ trình Chính phủ Nghị định thay thế Nghị định số 90/2011/NĐ-CP với
các điểm sửa đổi, bổ sung đảm bảo phù hợp với sự phát triển của thị trường trái
Nhóm 5
Một là, phối hợp với Ngân hàng Nhà nước trong việc điều hành thị trường tài
khoá và thị trường tiền tệ, đảm bảo lãi suất phát hành trái phiếu và lãi suất tiền tệ
được ổn định, ít biến động lớn.
Hai là, phát triển hệ thống nhà đầu tư: Khuyến khích phát triển hệ thống nhà đầu
tư dài hạn trên thị trường như Quỹ Hưu trí, các công ty bảo hiểm... giảm dần sự
phụ thuộc vào hệ thống các ngân hàng thương mại. Tiếp tục xây dựng lộ trình
thu hút nhà đầu tư nước ngoài với các giải pháp căn bản để:
ii
Ổn định nền kinh tế vĩ mô;
Xây dựng và phát triển các sản phẩm trái phiếu phái sinh như hợp đồng, kỳ
iii
hạn... để phòng ngừa rủi ro trên thị trường trái phiếu;
Tăng cường tính công khai minh bạch trên thị trường thông qua xây dựng trang
i
thông tin điện tử chuyên biệt cho thị trường trái phiếu gồm đầy đủ dữ liệu thông
tin về thị trường.
Ba là, phát triển hệ thống nhà tạo lập thị trường trên cơ sở hệ thống thành viên
đấu thầu trái phiếu chính phủ với các giải pháp như:
Bốn là, phát triển hệ thống công nghệ thông tin: Tiếp tục hiện đại hóa hệ thống
công nghệ thông tin trên thị trường để đảm bảo hoạt động phát hành và giao dịch
trái phiếu diễn ra thông suốt; rút ngắn thời gian từ khâu phát hành đến niêm yết
trái phiếu tạo thanh khoản trên thị trường.
Năm là, xây dựng hệ thống thông tin dữ liệu của thị trường trái phiếu doanh
nghiệp để tăng cường tính công khai minh bạch, thúc đẩy sự phát triển của thị
trường trái phiếu doanh nghiệp.
4.3.
Thị trường cần có những thay đổi về mặt bản chất
Nhu cầu huy động vốn năm sau sẽ chưa có nhiều đột phá khi sự mở rộng
kinh doanh sản xuất của các doanh nghiệp chứa đựng nhiều lo ngại. Tuy nhiên,
trong các kênh huy động vốn truyền thống, việc phát hành trái phiếu doanh
nghiệp đã và đang đem lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp khi tiếp cận thị trường
vốn Dựa vào điều kiện thị trường, chúng tôi cho rằng khối lượng trái phiếu
doanh nghiệp phát hành năm sau nhiều khả năng sẽ chỉ tương đương với năm
2015. Áp lực lãi suất trong năm 2016 có thể sẽ chưa đủ lớn để khiến các doanh
nghiệp tái cấu trúc lại các khoản nợ dài hạn. Thêm vào đó nền kinh tế cần có
thêm thời gian để củng cố lại nội lực, đặc biệt các doanh nghiệp nội địa. Mặt
khác, những trở ngại cố hữu của thị trường cần phải được xử lý.
Nhóm 5
18
đến nguồn vốn hoạt động của doanh nghiệp.
Vì vậy doanh nghiệp phát hành trái phiếu là một trong những phương
thức huy động vốn mang lại hiệu quả cao, cung cấp một nguồn vốn lớn và dài
hạn đối với doanh nghiệp. Để phương thức huy động này được phổ biến và được
các nhà đầu tư quan tâm nhiều hơn đòi hỏi phải có những giải pháp vừa tổng thể
vừa chi tiết dựa trên sự nghiên cứu tương đối toàn diện về phát hành trái phiếu
đặt trong chiến lược phát triển thị trường vốn, thị trường tài chính ở nước ta.
Do đó đi sâu tìm hiểu doanh nghiệp huy động vốn thông qua phát hành
trái phiếu để phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp, trên cơ sở đó tạo ra
một kênh huy động vốn, hỗ trợ tích cực cho sự phát triển của doanh nghiệp.
Nhóm 5
20
Doanh nghiệp huy động vốn qua phát hành trái phiếu
Mặc dù đã rất cố gắng tìm hiểu nhưng do hạn chế về mặt thời gian, điều
kiện và kinh nghiệm nên bài tập nhóm chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót,
nhóm 5 mong được sự góp ý của các thầy, các cô để bài tập nhóm của nhóm 5
được hoàn thiện hơn.
Nhóm 5 xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 20 tháng 4 năm 2016
Nhóm 5
Nhóm 5
21