A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. Lí do chọn đề tài:
Hoá học là một bộ môn khoa học nghiên cứu về các chất, sự biến đổi của các chất và ứng
dụng của chúng. Ở chương trình THCS, Hoá học cung cấp cho học sinh một hệ thống kiến
thức phổ thông cơ bản và thiết thực. Là một môn học rất thiết thực với thực tế đời sống và lao
động sản xuất, chuyên nghiên cứu về các chất và sự chuyển hoá của các chất, giúp ta từ các
chất ban đầu tạo ra nhiều chất mới. Nhiều sản phẩm mới và quý không thể thiếu được trong
cuộc sống để từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống của con người và đáp ứng toàn bộ yêu
cầu của xã hội. Nhưng, thực tế cho thấy kết quả học tập môn Hoá học của phần lớn học sinh
còn thấp, tỉ lệ học sinh yếu kém còn cao. Vì sao?
Qua 5 năm trực tiếp giảng dạy bộ môn tôi nhận thấy có một số nguyên
nhân cơ bản sau: Là môn học được tiếp cận sau nhất trong chương trình giáo dục
phổ thông. Ban đầu mới làm quen với hàng loạt các khái niệm, định luật, học
thuyết và các chất nên học sinh không khỏi bỡ ngỡ. Không ít học sinh quan
niệm rằng là môn học trừu tượng, khó hiểu nên đã có thái độ mang tính tiêu cực
đối với bộ môn, nản lòng trước những bài tập yêu cầu có tính suy luận cao. Có
thể nói Hoá học là một môn học khó đối với học sinh THCS vì nó là một môn
khoa học tổng hợp kiến thức của các môn khoa học tự nhiên và xã hội khác. Cho
nên sau khi học xong chương trình lớp 7 các em mới có đủ điều kiện để lĩnh hội
kiến thức của môn học này. Bên cạnh đó một số em học sinh còn cho rằng đây là
một môn phụ, nhiều học sinh còn có tính ỷ lại, lười học nên các em chưa có ý
thức để học tập tốt bộ môn. Ngoài ra, theo tôi còn một nguyên nhân chủ quan
nữa đó là: Phải chăng giáo viên chưa thực sự trăn trở, tâm huyết với từng tiết
dạy, chưa phân loại cụ thể các đối tượng học sinh, chưa thực sự quan tâm đến
đối tượng học sinh yếu kém trong lớp, chưa làm cho học sinh nhận thấy được
tầm quan trọng của bộ môn, và chưa tạo ra được những tiết học thực sự lôi cuốn
học sinh?
Tôi đã trăn trở rất nhiều bởi câu hỏi đó và trách nhiệm nghề nghiệp thôi thúc tôi phải
làm thế nào để nâng cao chất lượng học tập của đối tượng học sinh yếu kém. Vì vậy tôi quyết
định tìm hiểu và nghiên cứu đề tài “Một số biện pháp nâng cao chất lượng học sinh yếu kém
Theo chủ nghĩa duy vật biện chứng của Mác - Lênin thì quá trình nhận thức thế giới khách
quan của con người là “từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng
đến thực tiễn”. Vận dụng vào môn Hoá học có thể thấy là học sinh sẽ xây dựng được các định
nghĩa, khái niệm, các tính chất của một chất... tốt nhất khi các em rút ra chúng từ các hiện
tượng thực tế, các thí nghiệm mà chính các em được làm, được quan sát từ đó áp dụng cho
các trường hợp khác tương tự và vận dụng để làm các bài tập định tính, định lượng, giải thích
các hiện tượng trong thực tiễn. Hoá học là khoa học tự nhiên nghiên cứu các chất có trong tự
nhiên và sự chuyển hoá của chúng. Tính ứng dụng của Hoá học gần với thực tế. Đối với mỗi
một vấn đề trong hoá học ta đều có thể cho học sinh liên hệ với cuộc sống, sản xuất và công
nghiệp.
Các lý thuyết về sự hiểu biết của học sinh như: Lý thuyết hành vi, lý thuyết nhận thức (lý
thuyết của Bruner, lý thuyết phát triển của Piaget, lý thuyết tạo dựng), lý thuyết xã hội. Sau
khi so sánh thì lý thuyết nào người thầy cũng phải đóng vai trò tổ chức, hướng dẫn và đánh
giá. Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh trung học cơ sở: Lứa tuổi học sinh lớp 8, 9 trường
trung học cơ sở trong khoảng từ 13 đến 16 tuổi. Là khoảng thời gian trong độ tuổi dậy thì, giai
đoạn này các em có những biến đổi quan trọng và phức tạp về tâm sinh lí. Tuy nhiên sự biến
đổi là không hoàn toàn như nhau ở mỗi học sinh. Điều đó làm cho thái độ của các em đối với
mỗi môn học cũng được phân hoá (có môn “hay”, môn “không hay, có môn “cần”, môn
“không cần thiết” ...). Ở lứa tuổi này tư duy trừu tượng phát triển mạnh, nhưng thành phần
của tư duy hình tượng – cụ thể vẫn tiếp tục phát triển và giữ vai trò quan trọng trong cấu trúc
tư duy. Do vậy các em vẫn rất cần đến sự hỗ trợ của những biểu tượng trực quan về đối tượng
để tìm hiểu những dấu hiệu bản chất, trừu tượng của đối tượng đó. Trong học tập, các em
muốn độc lập lĩnh hội tri thức, muốn có quan điểm và lập luận riêng. Các em thường thích
những gì mới lạ, thích các hoạt động phải liên hệ đến thực tiễn và có thể tạo môi trường cho
các em khẳng định mình.
Nâng cao chất lượng học sinh yếu kém là giáo viên phải bổ sung được những “lỗ hổng” kiến
thức cho học sinh (chủ yếu là những kiến thức có trong sách giáo khoa) để giải quyết, để
giành lại kiến thức mà các em chưa lĩnh hội hết trong tiết dạy chính trên lớp. Từ đó học sinh
có thể hòa nhập theo kịp với các bạn trong tiết học đang diễn ra trên lớp. Theo tôi học sinh
muốn làm tốt hoạt động này thì bản thân giáo viên cần phải nắm bắt chính xác và đánh giá
Nhà trường có, là bộ môn gắn liền với thực tế đời sống, giải thích được nhiều
hiện tượng trong thực tế cuộc sống hằng ngày. Đây là cơ sở quan trọng để học
sinh tìm thấy hứng thú và sự lôi cuốn trong môn học.
2. Khó khăn:
Do đặc trưng của bộ môn nên một số khái niệm, định nghĩa, định luật đối với học sinh là khá
mới mẻ, trừu tượng yêu cầu phải có sự tư duy, suy luận, sáng tạo và óc tưởng tượng cao. Là
một môn khoa học tổng hợp kiến thức của các môn khoa học tự nhiên và xã hội khác nên bắt
buộc học sinh phải có kiến thức của các môn liên quan, đặc biệt là Toán, Vật lí, Sinh học. Sĩ
số học sinh trong một lớp khá đông, mặt khác năng lực không đồng đều, do đặc thù là học
sinh dân tộc miền núi, vùng sâu, vùng xa nên một số học sinh khả năng lĩnh hội, tiếp thu kiến
thức còn yếu, chậm, chưa sáng tạo, linh hoạt, khả năng tư duy thấp. Vì vậy khi soạn giáo án
và tổ chức dạy học giáo viên thường bị động về thời gian, rất khó khăn để quan tâm đến tất cả
các đối tượng học sinh.
Mặt khác, học sinh do vẫn còn chịu ảnh hưởng của cách truyền thụ trước đây cho nên một số
học sinh ỷ lại, lười suy nghĩ, trong giờ học lơ là không tập trung, không học bài và làm bài
trước khi đến lớp… làm kiến thức bị thiếu hụt lâu dần tỏ ra sợ học, chán học từ đó bị hổng về
kiến thức. Bên cạnh đó thêm một tồn tại là khi giáo viên đưa ra câu hỏi thì lập tức học sinh
cắm cúi vào sách giáo khoa, không có sự linh động, sáng tạo trong tư duy, có khi còn sợ bị gọi
trả lời, làm tiết học trở nên trầm, rời rạc. Kết quả là giáo viên thường xuyên bị “cháy” giáo án,
học sinh nắm bài hời hợt trở thành yếu kém làm hiệu quả tiết dạy chưa cao.
Kết quả học tập môn Hoá học khối 8, 9 năm học 2008 – 2009
Khối Sĩ số
Giỏi
Khá
T bình
12,7
17
23,9
34
47,9
9
12,7
2
2,8
9
67
8
11,9
15
22,4
học sinh nhắc lại định nghĩa axit ở lớp 8, lấy ví dụ. Sau đó tìm hiểu tính chất hoá
học của axit qua các thí nghiệm, sau khi tìm hiểu xong tính chất hoá học của axit
cho xây dựng định nghĩa về axit dựa vào tính chất hoá học, tôi cho học sinh
nhắc lại định nghĩa axit ở lớp 8, từ đó hướng dẫn cho học sinh xây dựng định
nghĩa axit ở lớp 9. Đến đây tôi xác định cho học sinh định nghĩa về axit không
dừng lại ở đây mà lên lớp trên định nghĩa về axit còn được mở rộng hơn nữa
(dung dịch axit là một hợp chất có khả năng cho proton (phân li ra H +)). Hoặc
khi tìm hiểu định nghĩa về phản ứng oxi hoá - khử, định nghĩa về bazơ... cũng
tương tự.
1.2 Tiến hành soạn giáo án: Trước tiên tôi xác định hướng trọng tâm của bài dạy, mục tiêu,
phương pháp và sắp xếp các kiến thức của bài thành một hệ thống kiến thức lôgíc, chặt chẽ.
Chuyển tiếp giữa các mục trong bài dạy phải có sự dẫn dắt theo kiểu dạy học nêu vấn đề và
bằng phương pháp thầy thiết kế, trò thi công. Hệ thống câu hỏi phải lôgic theo hệ thống kiến
thức của bài và ngắn gọn, rõ ràng, phù hợp với 4 đối tượng học sinh để huy động nhiều học
sinh làm việc trên lớp (để các em thấy chương trình mà sách giáo khoa đưa ra không có gì là
quá tải, rất phù hợp). Luôn luôn xác định tạo không khí học tập thoải mái, hứng thú là một
trong những mục tiêu của tiết học. Giáo viên cần chú ý chuẩn bị thật kỹ càng cho các hoạt
động tạo không khí học tập, có như vậy mới không để xảy ra các tình huống ngoài dự kiến,
vừa không đạt mục đích lại có thể gây hiệu ứng ngược.
Vívàdụ:
Bài
24:
“Tính
chất
của
oxi”
lớp
8,nắm
kiến
nghiệm
thực
tế,
các
em
được
các
tính
chất
hoá
của
ôxi
hướng
dẫn
cho
các
em
hiện
kiến
thức
qua
từng
thí
nghiệm,
tôi
cho
học
sinh
thấy
rõ
sau
phản
ứng
và
dẫn
đến
kết
luận,
cụ
thể:
Tính
chất
ôxi
tác
dụng
với
sắt,
tôi
cho
học
sinh
quan
sát
thí
nghiệm
biểu
diễn,
học
sinh
sẽ
Ngoài việc hiểu đúng ý nghĩa của người viết sách còn giúp tôi vận dụng
thêm kiến thức của tài liệu tham khảo để mở rộng và nâng cao kiến thức cho học
sinh (ở những lúc cần thiết). Đồng thời tránh được tình trạng dạy sai kiến thức
cho học sinh. Đối với tôi soạn bài là một hình thức giảng thử để phân bố thời
gian cho phù hợp với từng phần kiến thức của bài và để bỏ bớt các ngôn ngữ
thừa, các câu hỏi vụng, giúp học sinh hiểu bài một cách chắt lọc, nhẹ nhàng.
Trong bài soạn, đối với các câu hỏi, tùy từng đặc điểm trình độ nhận thức của
học sinh, phương pháp lựa chọn mà quyết định số lượng, chất lượng các câu hỏi
thích hợp. Tránh khuynh hướng hình thức, tránh đặt câu hỏi mà không chuẩn bị
trước. Mỗi bài học có một vài câu hỏi then chốt và cần quan tâm đến tính lôgíc
của câu hỏi, câu hỏi phải vừa sức, phù hợp với đối tượng học sinh, đồng thời tạo
điều kiện cho học sinh hoạt động độc lập, theo cặp hoặc theo nhóm tạo điều kiện
cho học sinh tự đánh giá, và đánh giá lẫn nhau, kết hợp đánh giá của giáo viên
và đánh giá của học sinh. Đặc biệt với đối tượng học sinh yếu kém cần tạo điều
kiện cho các em tham gia hoạt động bằng cách có câu hỏi gợi mở, gợi ý dẫn dắt
cho học sinh trả lời giúp các em thêm tự tin và hoà nhập với lớp. Tuy nhiên để
tiết học có chiều sâu về mặt kiến thức thì trong mỗi bài dạy giáo viên phải tìm
được điểm nhấn của mỗi bài. Từ đó các em khắc sâu được kiến thức và hiểu sâu
hơn.
1.3 Chuẩn bị đồ dùng: Hoá học là một môn khoa học thực nghiệm, từ các thí nghiệm
thực hành để giúp học sinh hiểu bài, vì vậy cần thiết tôi chuẩn bị đầy đủ các dụng cụ, hoá chất
để làm thí nghiệm, bố trí thí nghiệm không cồng kềnh, mang tính chất thẩm mỹ khoa học thao
tác thí nghiệm của giáo viên phải thành thạo, nhẹ nhàng, khéo léo, giáo viên phải làm thử
trước để tránh các trường hợp do hoá chất bảo quản không tốt hoặc do bố trí thí nghiệm mà
dẫn đến thí nghiệm không thành công, giáo viên phải chuẩn bị để giải thích cho học sinh các
tình huống bất trắc xẩy ra khi làm thí nghiệm. Các thí nghiệm hoá chất và dụng cụ dễ kiếm tôi
giao cho học sinh chuẩn bị trước ở nhà và yêu cầu các em phải đọc kỹ nội dung các thí
nghiệm có trong tiết học, chú ý phương pháp tiến hành, dự đoán trước hiện tượng và giải
làm nháp hoặc theo dõi bạn trả lời, tôi cho 1 học sinh khác nhận xét bổ sung,
cuối cùng giáo viên nhận xét, bổ sung và cho điểm học sinh. Ngoài ra giáo viên
có thể đưa ra những câu hỏi để phục vụ cho bài học mới mà không liên quan đến
kiến thức của bài học ngay trước đó.
Ví dụ: Khi dạy bài “Tính chất chung của phi kim” (Tiết 30 - lớp 9)
Ta có thể đưa ra các câu hỏi kiểm tra bài cũ như sau:
Câu 1: Nêu tính chất hoá học của kim loại
Câu 2: Nêu tính chất hoá học của ôxi mà em đã được học ở lớp 8. Viết các
phương trình phản ứng minh hoạ.
Như vậy có thể thông qua 2 câu hỏi trên mà các em đã hình thành nên tính
chất hoá học của phi kim là: Tác dụng với kim loại tạo thành muối hoặc axit và
nhiều phi kim tác dụng với oxi tạo thành oxit axit
2. Xác định động cơ học tập cho học sinh
Khi thực hiện bất kể công việc gì đó nếu có động cơ, mục tiêu rõ ràng
chúng ta sẽ thấy được ỹ nghĩa của công việc mình đang và sẽ làm. Nếu không có
động cơ và mục tiêu rõ ràng sẽ không thể nỗ lực hết mình và vượt qua mọi khó
khăn. Bởi vây, việc xác định động cơ, mục tiêu học tập cho học sinh là một biện
pháp hết sức cần thiết, đặc biệt là đối với những học sinh dân tộc thiểu số vùng
sâu, vùng xa, học sinh yếu kém. Khi đó các em sẽ hình thành được ý thức học
tập đúng đắn, có thái độ đúng mực với việc học, các em sẽ tập trung, chú ý hơn,
dành nhiều thời gian hơn với việc học và kết quả học tập sẽ cao hơn. Bằng sự
hiểu biết của bản thân, thông qua các câu chuyện so sánh về kết quả học tập, về
cuộc sống của những người có động cơ học tập, đạt kết quả cao và những người
6
không được đi học, lười học, bỏ học... Các em dần dần hình thành được câu trả
lời: “Học để làm gì?”, “Học cho ai?”, “Học như thế nào?” ... Từ đó các em sẽ nỗ
lực hơn trong việc học.
3. Gây hứng thú học tập, hình thành sự yêu thích bộ môn
3.2 Dùng câu hỏi tạo tình huống gây hứng thú, kích thích sự tò mò cho
học sinh: Trong một số bài giáo viên sử dụng những câu hỏi nhằm kích thích sự
tò mò của học sinh và tạo điểm nhấn của bài, gây sự chú ý để học sinh tập trung
chủ động tư duy sẽ làm khả năng ghi nhớ kiến thức của học sinh dễ dàng hơn.
Ví dụ : Khi dạy bài: Tính chất hoá học của axit ( Tiết 5 - Lớp 9)
Trong khi làm thí nghiệm giữa axit HCl và bazơ NaOH của các nhóm .
Cho quỳ tím vào sản phẩm thu được ta thấy có những trường hợp sau :
* Quỳ tím vẫn màu tím
* Quỳ tím chuyển sang màu xanh
* Quỳ tím chuyển sang màu đỏ
Vì sao?
Giải thích kết quả của các nhóm như thế nào? GV cho các em thảo luận
nhóm. Điều đó được giải thích là nếu axit và bazơ tham gia hết (Trường hợp 1),
axit phản ứng hết, bazơ dư (Trường hợp 2), bazơ phản ứng hết, axit dư (Trường
hợp 3). Trước đó các em đã biết bazơ làm quỳ tím chuyển sang màu xanh và axit
làm quỳ tím chuyển sang màu đỏ. Như vậy các em đã giải thích được những
hiện tượng quan sát được của thí nghiệm. Nên khi làm phần bài tập có liên quan
đến thiếu thừa, bài tập về lượng chất dư các em nhập cuộc rất dễ dàng.
Bài 1: Đem 19,6g H2SO4 tác dụng với 12g NaOH. Cho quỳ tím vào sản
phẩm thu được? Theo em màu của giấy quỳ thay đổi như thế nào. Giải thích?
Giải :
H2SO4 + 2NaOH Na2SO4 + 2H2O
Số mol H2SO4 tham gia phản ứng là :
n H2SO4 = 19,6/98 = 0,2 mol
Số mol NaOH tham gia phản ứng là :
n NaOH = 12/40 = 0,3 mol
Ta có tỷ lệ : 0,2/1 > 0,3/2. Điều đó chứng tỏ H2SO4 dư. Nên ta cho giấy
quỳ tím vào sản phẩm thu được, giấy quỳ sẽ chuyển sang màu đỏ (như
Nitơ (N) 14 tròn
Oxi (O) trăng 16.
Natri (Na) hay láu táu
Nhảy tót lên 23
Khiến Magie (Mg) gần nhà
Ngậm ngùi nhận 24.
27 Nhôm (Al) la lớn
Kali (K) thích 39
Canxi (Ca) tiếp 40
(55) Mangan (Mn) cười
Sắt (Fe) đây rùi: 56.
64 Đồng (Cu) nổi cáu
Bởi kém kẽm (Zn) 65
80 Brom (Br) nằm
Xa Bạc (Ag) 108.
Bari (Ba) buồn chán ngán
9
Lưu huỳnh (S) giành 32
Khác người thật là tài
Clo (Cl) ba nhăm rưỡi (35,5).
(137) Một ba bẩy ích chi
kém người ta còn gì!
Thủy ngân (Hg) hai linh mốt(201)
Còn tôi..., đi sau rốt...!
Ví dụ 2: Bài 10: Hoá trị – lớp 8
thiệu bảng tính tan, cho học sinh tìm hiểu cách sử dụng bảng tính tan, tìm hiểu
tính tan của các hợp chất, giáo viên có thể cho học sinh tham khảo bài thơ sau:
TÍNH TAN CỦA MUỐI
Loại muối tan tất cả
Là muối nitrat (-NO3)
Và muối acetat (-COOH)
Bất kể kim loại nào
Những muối hầu hết tan
Là clorua (-Cl), sulfat (=SO4)
Trừ bạc chì clorua
Bari, chì sulfat
Những muối không hòa tan
Carbonat (=CO3), photphat (PO4)
Sulfur (=S) và sulfit (=SO3)
Trừ kiềm, amoni
Sau đó cho học sinh đối chiếu với bản tính tan, tìm các loại hợp chất:
Muối nitrat (-NO3), clorua (-Cl), sunfat (=SO4), cacbonat (=CO3), photphat
(PO4), sunfur (=S) và sulfit (=SO3), là dãy nào, là những muối nào trong bảng
tính tan …
Ví dụ 4: Bài 17 Hoá học 9 “Dãy hoạt động hoá học của kim loại”
Giáo viên cho học sinh học thuộc các câu văn sau:
DÃY ĐIỆN HÓA (I)
K
Na
Li
Ba
Dõi Phương
Cu
Bi
Al
Co
Ni
Cũ
Nhớ Thương Chờ
Hg
Ag
Pt
Au
11
Hi Cú
Bit
Hay
trng 30 thc hin trong mt lp, i no m ti th t chc thi gia 2
lp ... vi h thng cõu hi khụng nhng liờn quan n kin thc b mụn m cũn
liờn h gii thớch cỏc hin tng thng gp trong i sng hng ngy, ỳng vi
tinh thn hc m chi chi m hc, mi ngy n trng l mt ngy
vui... Ngy nay, khoa hc hin i vic ỏp dng cỏc cụng ngh thụng tin vo
nhng tit hc l rt cn thit v quan trng. Nú to hng thỳ cho cỏc em tip
cn thụng tin v khỏm phỏ tit hc mt cỏch say mờ, nh nhng v hiu qu cao.
ú l vic ging dy bng giỏo ỏn in t, s dng cỏc phn mm nh
powerpoint, violet, flash...
Ví dụ: Tiết 47, Bài 38 Axetilen. Hoá học 9
Để củng cố bài và kiểm tra kiến thức cũ, tôi đã thiết kế
một trò chơi ô chữ bằng phần mềm powerpoint nh sau:
12
- Hµng ngang 1: Tªn cña mét hi®rocacbon cã 1 liªn kÕt ®«i
trong ph©n tö
- Hµng ngang 2: Loại đơn chất mà tính chất của chúng là không dẫn điện,
dẫn nhiệt hoặc dẫn điện dẫn nhiệt kém.
- Hàng ngang 3: Tên của loại phễu chiết trùng với 1 loại quả (có hình ảnh quả lê)
- Hàng ngang 4: Loại phản ứng đặc trưng của hợp chất hiđro cacbon có liên kết
bội.
- Hàng ngang 5: Trạng thái của các hợp chất hiđro cacbon đã học.
- Hàng ngang 6: Loại phản ứng đặc trưng của các hợp chất hiđro cacbon có toàn
liên kết đơn trong cấu tạo phân tử.
- Hàng ngang 7: Tên của một hiđrocacbon còn gọi là khí đá (bơm vào bóng
bay).
- Hàng ngang 8: Hoá trị của nguyên tố Cacbon trong các hợp chất hữu cơ.
- Hàng ngang 9: Tên một loại hiđro cacbon đã học.
dụng ngăn không cho vật cháy tiếp xúc với không khí. Do đó khí CO 2 được
dùng để dập tắt đám cháy.
Ngoài ra còn rất nhiều bài viết về phần “em có biết ” rất hay, giáo viên
không nên bỏ qua phần này và có thể phân tích thêm cho các em hiểu những
điều điệu kỳ có ở xung quanh mình và thêm yêu môn học.
4. Dạy phụ đạo vào các buổi ngoại khoá
4.1 Tổ chức các buổi phụ đạo: Khâu chuẩn bị, soạn giáo án của giáo viên
kỹ lưỡng, cẩn thận, trau chuốt. Không khí học tập trên lớp sôi nổi, phương pháp
phù hợp, học sinh hoạt động tích cực. Song, với đối tượng học sinh yếu kém, các
em vẫn chưa thể nắm vững trọng tâm kiến thức, chưa thể vận dụng kiến thức.
Thời gian một tiết học không thể đủ để giáo viên quan tâm sâu sắc đến tất cả
mọi đối tượng học sinh. Đặc biệt với những lớp có sự phân hoá khả năng, năng
lực học sinh rõ rệt. Vậy, phụ đạo học sinh yếu kém ngoài các tiết dạy chính khoá
là một biện pháp không thể thiếu để nâng cao kết quả học tập, giúp học sinh vá
14
lại lỗ hổng kiến thức để các em bắt kịp những kiến thức mới, hoà nhịp cùng các
bạn trong lớp. Hoạt động này được tổ chức vào những buổi các em tự học tên
lớp. Thời gian từ một đến hai tuần hoặc học xong hai, ba bài sẽ tổ chức phụ đạo
một buổi. Các bước thực hiện biện pháp phụ đạo học sinh yếu kém là:
- Lên danh sách học sinh của từng lớp, từng khối.
- Yêu cầu học sinh xem lại kiến thức đã học.
- Giáo viên nắm bắt những kiến thức cần bổ sung lại cho học sinh.
- Giáo viên soạn bài, chuẩn bị cho buổi phụ đạo.
- Tổ chức phụ đạo và kiểm tra kết quả, khả năng tiếp thu bài của học sinh
cuối mỗi buổi phụ đạo.
Trong mỗi buổi phụ đạo cần giải đáp ngay những nghi vấn của học sinh
giúp học sinh xác định chính xác kiến thức. Giảng lại, giảng kỹ những kiến thức
khó, phức tạp, dễ nhầm lẫn. Chữa và hướng dẫn giải các bài tập trong sách giáo
15
giá lại những kiến thức mà mình đã học ,qua đó xác định lần nữa thật chính xác kiến thức để
vận dụng và làm kiến thức cơ sở cho các bài học tiếp theo.
Nội dung
GV
HS
I.Phương trình hóa HĐ1:Tìm hiểu và xác định và hiểu rõ được các ngôn
học.
ngữ : chất tham gia ,tạo thành, biểu diễn PTHH như thế
nào.
Treo bảng phụ một số phương
-PTHH dùng để biểu trình chữ của phản ứng
diễn ngắn gọn PƯHH. Bảng 1:
a.Khí hidro + khí ôxi - -> nước
Các chất tham gia -> - đọc nội dung bảng phụ
các chất tạo thành.
b. Canxi cacbonat
- ->
và thảo luận nhóm:
Canxioxit + cacbonđioxit
Nêu tên được các chất
tham gia và các sản
c.kẽm + axít clohiđric - -> kẽm phẩm ,ghi CTHH của
clorua + khí hidro.
các chất.
-Hãy cho biết tên các chất tham
gia ,các chất tạo thành , CTHH
Vẫn dùng kết qủa bảng trên.
-Hãy đếm số nguyên tử của mỗi -số nguyên tử ở sơ đồ
nguyên tố trong các sơ đồ phản phản ứng a,c là không
ứng trên và cho nhận xét?
bằng nhau.
-Vậy ta phải làm như thế nào để
cho các nguyên tử mỗi nguyên tố -Cho thêm hệ số .
bằng nhau?
Giáo viên yêu cầu học sinh tìm hệ Thảo luận dưới sự
số thích hợp của sơ đồ phản ứng hướng dẫn của giáo
a,c bằng thảo luận nhóm.
viên.
Lưu ý một số vấn đề học sinh hay
lầm lẫn : cách viết hệ số ,chỉ số
- viết sơ đồ phản ứng của công thức hóa học không
- tìm hệ số thích
được thay đổi trong PTPƯ…
hợp…
-Khi cho kim loại Na tác dụng với
- viết thành PTHH. khí Oxi tạo thành Natrioxit (Na2O) -suy nghĩ trả lời : viết sơ
để biểu diễn phản ứng này ta làm đồ phản ứng, tìm hệ số
như thế nào?
thích hợp…, viết thành
Yêu cầu học sinh làm luôn.
PTHH.
-Sơ đồ phản ứng khác với PTPƯ ở
điểm nào?
- PTHH đầy đủ hệ số với
số lượng nguyên tử mỗi
CO2
c.kẽm + axít clohiđric - -> kẽm clorua + khí hidro.
- Zn
HCl
ZnCl2
H2
- Zn
+
HCl
-->
ZnCl2 + H2
- Zn
+ 2HCl
ZnCl2
+ H2
----------------------------------------Các chất tham gia
các chất tạo thành
4.Củng cố: Giáo viên cho học sinh làm trắc nghiệm 10 câu (5 phút) đánh giá khả năng của
học sinh tiếp thu bài như thế nào:
Hãy khoanh tròn câu trả lời đúng:
I. Cho phương trình phản ứng sau: 4Al
+ 3O2
2 Al2O3
1.Các chất tham gia là:
a. O2 ,
b. Al2O3
c. Al. O2.
d. Al
2.Các chất tạo thành (sản phẩm) là:
dẫn các bạn trong nhóm tự học, làm bài tập, giải đáp các thắc mắc của các bạn
trong nhóm, kiểm tra việc tự học ở nhà của các bạn trong nhóm và báo cáo lại
với giáo viên bộ môn, từ đó giáo viên sẽ có kế hoạch bồi dưỡng, phụ đạo kịp
thời. Vì phần lớn các em học sinh ăn ở sinh hoạt trong khu ký túc xá của trường
18
nên việc hình thành và quản lý các nhóm học tập là khá thuận lợi. Đối với những
học sinh ở ngoại trú tôi sắp xếp phân nhóm gồm những em ở gần nhà nhau.
4.3 Sưu tầm hệ thống bài tập tương tự, cùng dạng cho học sinh làm ở nhà:
Sau các buổi phụ đạo, giáo viên phải có các bài tập, câu hỏi tương tự các
bài tập vừa hướng dẫn trên lớp giao về nhà để học sinh làm. Mục đích để các em
một lần nữa tái hiện lại kiến thức và vận dụng để làm bài tập giúp ghi nhớ và
khắc sâu kiến thức. Đến buổi phụ đạo hôm sau giáo viên sẽ kiểm tra bài làm của
học sinh.
Những học sinh làm tốt phải được khen, khích lệ kịp thời. Tôi đã phối hợp
với giáo viên chủ nhiệm các lớp và đề nghị tuyên dương các em có tiến bộ trước
lớp trong các buổi sinh hoạt lớp. Khi sự cố gắng của mình có kết quả và được
giáo viên ghi nhận, động viên, khích lệ kịp thời các em sẽ thêm tự tin vào bản
thân, tinh thần học tập sẽ tốt hơn.
C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
I. Kết quả thu được
Trong năm học 2009 – 2010 tôi đã áp dụng đề tài này vào giảng dạy, sau
một năm tôi thấy chất lượng học sinh được nâng cao rõ rệt, đặc biệt là đối tượng
học sinh yếu kém, kiến thức “hổng” của các em được bổ sung đáng kể. Các em
đã rất hứng thú mỗi khi học, hoà nhập cùng các bạn, trong lớp hăng say phát
biểu xây dựng bài và luôn hoàn thành tốt những nội dung mà tôi đưa ra. Có thể
nói biện pháp này đã trở thành một yếu tố quan trọng để hình thành ở học sinh
thói quen học tập tốt.
%
SL
%
8
71
9
12,7
17
23,9
34
47,9
9
12,7
2
2,8
Khá
T bình
Yếu
Kém
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
8
15
22,1
41
60,2
1
1,5
0
0
Qua bảng kết quả chúng ta nhận thấy rõ rằng, sau khi áp dụng đề tài, tỷ lệ học sinh yếu giảm
rõ rệt, thay vào đó là tỷ lệ học sinh TB tăng lên. Nói chung chất lượng của học sinh yếu kém ở
các lớp thực nghiệm đã có sự chuyển biến tích cực khá rõ nét so với khi chưa áp dụng đề tài
này, thể hiện qua kết quả học tập của các em.
II. Bài học kinh nghiệm
Trong quá trình giảng dạy, giúp đỡ, nâng cao chất lượng học sinh yếu kém của bộ môn Hoá
học, tôi đã vận dụng đề tài này và rút ra một số kinh nghiệm như sau:
Giáo viên phải nhiệt tình, năng nổ, phải luôn tự bồi dưỡng nâng cao tay nghề để cải tiến
phương pháp giảng dạy nhằm lôi cuốn học sinh học tập tích cực, tạo hứng thú cho các em
trong từng tiết học, phải phối kết hợp chặt chẽ với gia đình học sinh, với giáo viên chủ nhiệm,
với các giáo viên bộ môn có liên quan, với các tổ chức đoàn thể trong nhà trường, với chính
quyền địa phương, tạo môi trường giáo dục tốt nhất cho các em.
Phải tạo sự đoàn kết, yêu thương giúp đỡ của học sinh trong lớp thông qua các phong trào,
các hoạt động ngoài giờ, tạo cho các em động cơ ham học. Trong việc uốn nắn các em, giáo
Trên đây là một số biện pháp tôi đã áp dụng để nâng cao chất lượng học sinh yếu kém tại đơn
vị. Trong quá trình thực hiện đề tài tôi nhận thấy các biện pháp này có tác dụng rõ rệt, tạo
được hứng thú cho học sinh, thể hiện rõ nét tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của các
em trong học tập. Học sinh thực sự là chủ thể, là trung tâm của hoạt động dạy học. Thay đổi
nhận thức của học sinh với việc học, đang từng bước nâng cao chất lượng học tập của học
sinh nói chung, đặc biệt là học sinh yếu kém - là vấn đề đang được đặt ra cấp thiết trong hoạt
động dạy và học. Tôi xin mạnh dạn trao đổi cùng đồng nghiệp kinh nghiệm này. Kính mong
sự phê bình, góp ý của Hội đồng khoa học và bạn đọc để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn.
Lang Chánh, ngày 15 tháng 4 năm 2011
Người viết
Nguyễn Khắc Kiên
Ý KIẾN ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC
21
TÀI LIỆU THAM KHẢO
01. SGK Hoá học 8 – NXB GD năm 2006
02. SGV Hoá học 8 – NXB GD năm 2004
03. SBT Hoá học 8 – NXB GD năm 2006
04. SGK Hoá học 9 – NXB GD năm 2005
05. SGV Hoá học 9 – NXB GD năm 2004
06. SBT Hoá học 9 – NXB GD năm 2005
07. Bồi dưỡng hoá học THCS
Tác giả Vũ Anh Tuấn – NXBGD
08. Tài liệu BDTX Cho GV THCS Chu kì III (04 – 07) – NXBGD
09. Phương pháp giảng dạy bộ môn hóa học THCS (Chương trình mới)
Tác giả: Lê Xuân Trọng - Nguyễn Cương - Đỗ Tất Hiển - Nguyễn Phú Tuấn
2
B. NỘI DUNG ................................................................................................................................................
3
I. Cơ sở lý luận ......................................................................................................................................................................
3
II. Thực trạng ..........................................................................................................................................................................
4
III. Những biện pháp thực hiện ..............................................................................................................................
6
1. Soạn giáo án chi tiết, chuẩn bị kỹ cho tiết dạy ........................................................................
6
2. Xác định động cơ học tập cho học sinh ..........................................................................................
9
3. Gây hứng thú học tập, hình thành sự yêu thích bộ môn .................................................
10
28
23
24