ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN ĐẢM BẢO CHẤT LƢỢNG GIÁO DỤC
HOÀNG THỊ MỸ DUNG
MÔI TRƢỜNG HỌC TẬP VÀ THÀNH TÍCH
CỦA HỌC SINH VIỆT NAM TRONG PISA 2012
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Hà Nội - Năm 2016
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN ĐẢM BẢO CHẤT LƢỢNG GIÁO DỤC
HOÀNG THỊ MỸ DUNG
MÔI TRƢỜNG HỌC TẬP VÀ THÀNH TÍCH
CỦA HỌC SINH VIỆT NAM TRONG PISA 2012
Chuyên ngành
: Đo lƣờng và Đánh giá trong giáo dục
Mã số
: 60140120
LUẬN VĂN THẠC SỸ
chức lớn hơn. Làm thế nào để chúng ta có thể cảm nhận về trường học và phát
triển xu hướng dạng học tập theo nhóm. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh
rằng môi trường học tập tích cực gắn liền với thành tích học tập, những nỗ lực
phòng ngừa rủi ro hiệu quả và phát triển tính tích cực học tập của học sinh.
PISA là Chương trình đánh giá học sinh quốc tế (Programme for
International Student Assessment) của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
(Organisation for Economic Cooperation and Development), viết tắt là
OECD. Chương trình này nhằm đánh giá chất lượng giáo dục của học sinh
các trường cơ sở của các quốc gia thành viên của tổ chức này và một số nước
khác trên thế giới. Chương trình được thực hiện theo chu kỳ 3 năm một lần
với học sinh ở độ tuổi 15. Mục đích của PISA là đánh giá việc tiếp nhận kiến
thức và kỹ năng cần thiết cho việc hòa nhập vào xã hội của học sinh năm cuối
cùng của bậc học cơ sở. Nội dung khảo sát, đánh giá tập trung vào các lĩnh
vực như đọc hiểu, toán và khoa học. Đây là những lĩnh vực được coi là cần
thiết cho cuộc sống sau khi kết thúc việc học ở trường học cơ sở.
Tham gia PISA là cơ hội để Việt Nam học tập, trao đổi kinh nghiệm
đánh giá quốc tế, tăng cường năng lực đội ngũ cán bộ đánh giá để có thể triển
khai thực hiện tốt các kỳ đánh giá quốc gia với tiêu chuẩn quốc tế, nhằm đổi
mới phương pháp dạy học, đổi mới thi, kiểm tra, đánh giá góp phần nâng cao
chất lượng giáo dục, đồng thời là bước chuẩn bị tích cực cho lộ trình đổi mới
giáo dục sau năm 2015.
Tháng 12/2013, kết quả thi PISA 2012 đã được công bố. Việt Nam
đã đạt được các kết quả cao hơn nhiều so với mong đợi: Toán học (lĩnh vực
chính) đứng ở vị trí 17/65, Khoa học đứng ở vị trí 8/65 và Đọc hiểu đứng
vị trí 19/65. Tuy nhiên, hiện tại, chúng ta mới chỉ có báo cáo chung của
OECD về kết quả thi cũng như các nhân tố tác động tới kết quả đó của tất
cả các quốc gia tham gia, chứ chưa có một báo cáo cụ thể về từng quốc gia
riêng biệt.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn đo lường, phân tích và đánh giá chi tiết, cụ thể theo vị trí
trường, loại trường, điều kiện kinh tế xã hội để làm rõ các yếu tố môi trường
và ảnh hưởng của các yếu tố đó đến thành tích học tập của học sinh qua dữ
liệu PISA 2012. Nhờ vậy luận văn có thể gợi mở suy nghĩ cho việc tìm kiếm
giải pháp phát huy những yếu tố có tác động thúc đẩy thành tích học tập và
kiểm soát những yếu tố có tác động cản trở đối với thành tích học tập của
học sinh Việt Nam. Luận văn có thể đóng góp những tri thức cần thiết cho
các bên tham gia giáo dục nhằm tìm cách đổi mới và và kiến tạo môi trường
học tập thân thiện, lành mạnh và tích cực để góp phần nâng cao thành tích
học tập của của học sinh Việt Nam.
4. Giới hạn nghiên cứu
Tìm hiểu, đo lường, đánh giá và phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới
việc học tập của học sinh là lĩnh vực rất rộng, vấn đề kết quả học tập của học
sinh cũng bao gồm nhiều khía cạnh khác nhau. Tuy nhiên, trong khuôn khổ đề
tài này, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu đánh giá sự ảnh hưởng của một số
yếu tố thuộc về môi trường học tập. Đó là năm yếu tố: (i) Cảm giác gắn kết
(Sense of Belonging to School), (ii) quan hệ thày trò (Student-Teacher
Relations), (iii) thái độ đối với nhà trường (Attitude towards School), (iv) sự
tham gia của phụ huynh học sinh (Parent participation), (v) những cản trở về
việc học (Learning Hindrance) tới thành tích của học sinh Việt Nam trong kỳ
đánh giá PISA 2012.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp phân tích tài liệu có sẵn để tổng quan
tình hình nghiên cứu và xây dựng cơ sở lý luận, thực tiễn của đề tài. Đồng
thời luận văn sử dụng các phương pháp đo lường và đánh giá để xác định các
tiêu chí, chỉ tiêu, chỉ báo cần đo lường, đánh giá. Đề tài sử dụng phương pháp
phân tích các dữ liệu có sẵn (PISA) để đánh giá yếu tố môi trường và ảnh
- Quan hệ thày trò càng tốt thì kết quả học tập của học sinh đó càng được cải
thiện?
- Thái độ với nhà trường càng tích cực thì kết quả học tập của học sinh càng
tốt?
- Cha mẹ học sinh nào tham gia vào các hoạt động của nhà trường thì những
học sinh ấy đạt thành tích cao trong học tập?
- Những học sinh không có những hành vi như: nghỉ học, bỏ tiết, đi muộn,
không tham gia các hoạt động của nhà trường, không tôn trọng giáo viên, gây nhiễu
trong giờ học, uống rượu hoặc các chất cấm, có hành vi bạo lực thì kết quả học tập
càng cao?
8. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
8.1. Khách thể nghiên cứu
Toàn bộ 4959 học sinh 15 tuổi của Việt Nam đã tham gia kỳ đánh giá PISA
năm 2012 của OECD.
8.2. Đối tƣợng nghiên cứu
Luận văn nhằm vào đối tượng nghiên cứu chính là ảnh hưởng của các
yếu tố môi trường học tập đến thành tích học toán của học sinh.
9. Cấu trúc của luận văn
Mở đầu
Chương 1. Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận của đề tài
Chương 2. Thiết kế và tổ chức nghiên cứu
Chương 3. Thực trạng và mối quan hệ giữa môi trường học tập và
thành tích toán học của học sinh Việt Nam trong PISA 2012
Kết luận
Các phụ lục
để chỉ thái độ của học sinh với trường lớp và sự tham gia của các em vào các
hoạt động ở trường. Theo kết quả trong nghiên cứu Sự gắn bó của học sinh ở
trường - Cảm giác gắn kết trường lớp và sự tham gia vào trường lớp - những
kết quả từ PISA 2000, tác giả phát hiện thấy có sự khác biệt về giới tính (giữa
nam và nữ) trong kết quả tìm được giữa các nước. Thứ hai, những học sinh
được sinh ra ở nước ngoài thường có cảm giác gắn kết trường lớp thấp hơn so
với những học sinh khác. Thứ ba, những học sinh ở các gia đình có điều kiện
kinh tế xã hội thấp thường không cảm thấy thỏa mãn với trường lớp. Nghiên
cứu cũng phát hiện ra rằng trong số các nước OECD, có khoảng 25% học sinh
được ghi nhận là có cảm giác gắn kết trường lớp thấp, khoảng 20% thường
xuyên nghỉ học.
Tuy nhiên, theo nghiên cứu Thái độ của học sinh về việc học tập và nhà
trường của một nhóm tác giả ở Đại học Évora (Bồ Đào Nha), trải nghiệm văn
hóa lại cho thấy nhiều kiểu thái độ khác nhau về điểm, về nhà trường và việc
học tập. Ngoài ra, kinh nghiệm xã hội và mức độ quan tâm của cha mẹ cũng
là một yếu tố quan trọng trong thái độ đối với nhà trường và việc học tập của
học sinh.
Nghiên cứu về mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh
Trong nghiên cứu Các mối quan hệ giáo viên - học sinh và kết quả học
tập của học sinh, tác giả Ruby Larson (Đại học Nebraska ở Omaha - Hoa Kỳ)
đã tổng hợp được nhiều nghiên cứu về vấn đề này. Những học sinh có mối
quan hệ tích cực với giáo viên cho thấy sự thích ứng tích cực đối với trường
lớp, không kể khối lớp hay giới tính, tính trên phạm vi độ tuổi tiểu học
(Baker, 2006). Ngoài ra, những học sinh là nữ, đến từ những gia đình có điều
kiện kinh tế cao thường mong muốn có mối quan hệ gần gũi và tích cực hơn
với giáo viên (Jerome và cộng sự, 2009). Nhiều nghiên cứu khác còn cho thấy
tác động tích cực của mối quan hệ giáo viên - học sinh tới việc học tập của
học sinh ở cả bậc tiểu học và mầm non.
tầng, sự quan tâm của cộng đồng, dòng họ bao gồm cả các hoạt động khuyến
học ở cộng đồng đều có tác động tích cực đến việc học tập và kết quả học tập
của học sinh các cấp bậc giáo dục. Truyền thống hiếu học ở cộng đồng có thể
trở thành động lực thúc đẩy trẻ em đến trường, những tấm gương học giỏi và
thành đạt trở thành động cơ cho học sinh nỗ lực, cố gắng đạt kết quả cao trong
học tập. Ngược lại những thói hư tật xấu ở cộng đồng kể cả lối sống lạc hậu
với những tệ nạn xã hội đều có thể cản trở cơ hội đến trường của trẻ em, ảnh
hưởng xấu đến thành tích học tập của học sinh.
Về mối tương quan giữa yếu tố nhà trường với thành tích học tập của
học sinh, trong nghiên cứu về Các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ học tập của
sinh viên trường Đại học Đà Lạt công bố trên Tạp chí phát triển KH&CN, tập
14, số Q2-2011, Phan Hữu Tín và Nguyễn Thúy Quỳnh Loan đã xác định
những yếu tố tác động đến thái độ học tập của sinh viên chính quy trường Đại
học Đà Lạt. Từ đó, hai tác giả đưa ra những hàm ý quản lý cho nhà trường
trong việc thúc đẩy thái độ học tập tích cực của sinh viên, từng bước nâng cao
chất lượng đào tạo đại học. Kết quả phân tích cho thấy có 7 yếu tố tác động
đến thái độ học tập của sinh viên, bao gồm: Giảng viên; Phương pháp giảng
dạy; Hệ thống cơ sở vật chất; Giáo trình, nội dung môn học; Thực hành, thực
tập thực tế; Động lực học tập; Điều kiện ăn ở, sinh hoạt. Trong đó, yếu tố
Động lực học tập và Giáo trình, nội dung môn học có tác động tích cực nhất.
Những kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo hữu ích cho nhà trường để
tiến hành những kế hoạch, chính sách chiến lược nhằm nâng cao thái độ học
tập tích cực cho sinh viên.
Một nghiên cứu của Nguyễn Quang Đông với đề tài Khảo sát về các
yếu tố ảnh hưởng đến việc tự học học phần Vật lý - lý sinh y học của sinh viên
chính quy trường Đại học Y - Dược Thái Nguyên, cụ thể như sau: việc xây
dựng mục tiêu cụ thể và xây dựng kế hoạch học tập, các yếu tố ảnh hưởng đến
chất lượng tự học, địa điểm tự học, thời gian giành cho tự học, việc ghi chép
luận về tính tích cực học tập của học sinh. Tác giả nghiên cứu sâu về những
nhân tố ảnh hưởng đến tính tích cực học tập của sinh viên đại học theo hai
nhóm: nhóm yếu tố liên quan đến cá nhân và nhóm yếu tố liên quan đến môi
trường. Từ đó, tác giả đề xuất nhiều giải pháp nhằm nâng cao tính tích cực
học tập của sinh viên. Bên cạnh đó, tác giả Phan Thị Quế Hương với Luận
văn Thạc sỹ Sự thích ứng với hoạt động học tập của học sinh lớp 6 người dân
tộc thiểu số huyện Đakrông - Quảng Trị, chuyên ngành Tâm lý học, Trường
Đại học Sư phạm - Đại học Huế đã tìm hiểu và đánh giá sự thích ứng với hoạt
động học tập của học sinh lớp 6 người dân tộc thiểu số ở huyện Đakrông, tỉnh
Quảng Trị. Từ việc đi sâu phân tích kết quả học tập của các học sinh dân tộc
thiểu số lớp 6 tại một địa bàn vùng cao tại tỉnh Quảng Trị, tác giả chỉ ra sự tác
động qua lại giữa kết quả học tập với các nhân tố như môi trường, nguồn gốc
xuất thân và điều kiện dạy và học hiện tại.
Tăng Thị Thuỳ (2014) đã nghiên cứu về “Những ẩn số đằng sau thành
tích của PISA Việt Nam”, tác giả đề cập đến những yếu tố về động cơ học tập,
sự tự tin vào khả năng của bản thân, sự lo lắng về điểm số của học sinh Việt
Nam có ảnh hưởng đến việc học môn Toán.
Về PISA tại Việt Nam, nhóm tác giả Nguyễn Thị Phương Hoa, Vũ
Thị Kim Chi, Nguyễn Thuỳ Linh (2009) đã tiến hành nghiên cứu về mục
đích, tiến trình thực hiện và các kết quả chính trong kỳ thi PISA. Ngoài
việc trình bày mục đích, phương pháp, tiến trình thực hiện, bài báo cũng đã
phân tích các kết quả chính của PISA qua các kỳ và nguyên nhân cơ bản
dẫn đến kết quả này. Sau khi Việt Nam tham gia Chương trình Đánh giá
học sinh quốc tế năm 2012, tác giả Nguyễn Thị Phương Hoa (2013) đã có
những trao đổi về PISA và những bài học rút ra cho giáo dục Việt Nam.
Nhìn chung, ở Việt Nam có khá nhiều công trình nghiên cứu các yếu tố
ảnh hưởng tới việc học tập của học sinh các bậc học. Tuy nhiên, những yếu tố
về cá nhân học sinh mà cụ thể là cảm quan trường học ảnh hưởng như thế
Các nghiên cứu về ảnh hƣởng của các yếu tố đến TTHT của HS
Tùy từng thời kỳ và từng hoàn cảnh kinh tế - xã hội cụ thể mà mục tiêu
giáo dục nhà trường nhấn mạnh trình độ nhất định của thang bậc TTHT. Thời
phong kiến khi xã hội còn nghèo nàn thì mục tiêu chính của giáo dục nahf
trường là bắt HS phải ghi nhớ những gì được giảng dạy. Khi đó TTHT của
HS được đo bằng các tiêu chí về số lượng của các tài liệu học tập được ghi
nhớ, được thuộc lòng với các mức độ chính xác nhất định.
Xã hội càng phát triển thì mục tiêu giáo dục nhà trường càng được nâng
cao. HS không chỉ học để biết, hiểu mà còn phải biết vận dụng, phân tích,
đánh giá và cao hơn nữa, HS phải biết sáng tạo ra những điều mới cho xã hội.
TTHT được đo lường thông qua tiêu chí kết quả học tập một môn học
nhất định, trong đó có môn toán.
TTHT nói chung và kết quả học tập môn học nhất định nào đó nói riêng
phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau từ yếu tố đặc điểm cá nhân HS, đến yếu
tố gia đình, nhà trường và yếu tố môi trường học tập và cả yếu tố địa phương,
vùng miền. TTHT của học sinh không chỉ phụ thuộc vào khả năng tinh thần
và thể chất của đưa trẻ mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác của môi
trường xung quanh. Điều này đã được kiểm chứng bởi nhiều công trình
nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam.
TTHT của HS phụ thuộc vào các yếu tố kinh tế xã hội. Những HS
nghèo, HS có hoàn cảnh khó khăn thiếu cơ hội đến trường và khi có cơ hội
đến trường cũng thường gặp phải nhiều khó khăn để đạt được TTHT cao.
Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa các yếu tố môi trường gồm gia
đình và cộng đồng với thành tích học tập đều cho thấy các yếu tố này có ảnh
hưởng lớn tới thành tích học tập của học sinh. Tuy nhiên, các nghiên cứu
cũng cho thấy mức độ ảnh hưởng của các yếu tố môi trường phụ thuộc vào
mức độ tương tác của các yếu tố và sự can thiệp của các điều kiện, hoàn cảnh
cụ thể. Ví dụ, trình độ học vấn của phụ huynh học sinh có thể làm tăng mối
học sinh như sự nỗ lực, và kiến thức, ky năng học tập của học sinh cũng
tương tác và làm tăng thành tích học tập của học sinh: ví dụ, học sinh nào
chăm chỉ, chịu khó, kỷ luật thường đạt thành tích cao trong học tập kể cả kết
quả môn toán.
Các nghiên cứu trong và ngoài nước đều cho thấy ảnh hưởng tích cực
của các điều kiện kinh tế - xã hội đối với việc học tập của học sinh. Trước hết,
các yếu tố kinh tế - xã hội thuận lợi có tác động làm tăng cơ hôi đến trường.
Tiếp đến do gia đình có điều kiện kinh tế nên học sinh cũng có thêm các điều
kiện học tập và nhất là được quan tâm đầu tư cho việc học tập. Nghề nghiệp
của phụ huynh học sinh có ảnh hưởng rõ rệt đến thành tích học tập. Gia đình
nông dân thường có ít điều kiện cho học tập hơn so với gia đình trí thức. Các
nghiên cứu cũng cho thấy mức độ ảnh hưởng của gia đinh đến việc học tập
của con cái phụ thuộc vào giới tính của học sinh: tỉ lệ đi học của trẻ em gái ở
một số nước thường ít hơn trẻ em trai. Tuy nhiên, ở Việt Nam điều này có lẽ
chỉ xảy ra ở những vùng khó khăn. Tính chung trong phạm vi cả nước, tỉ lệ đi
học của trẻ em gái ở bậc tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông gần
như đạt được sự bình đẳng so với tỉ lệ trẻ em trai. Nhưng đây là sự bình đẳng
ở cơ hội đến trường và điều này phụ thuộc chủ yếu vào yếu tố chính sách, cụ
thể là luật phổ cập giáo dục tiểu học và các quy định pháp lý thúc đẩy phổ cập
giáo dục trung học cơ sở. Yếu tố chính sách này có tác động nâng cao tỉ lệ
đến trường không phân biệt giới tính nhưng có thể không ảnh hưởng đáng kể
đến thành tích học tập của học sinh ở nhà trường.
Trên thế giới nghiên cứu của Femi Ogunshola & AM Adewale cho biết
các điều kiện kinh tế - xã hội không phải là những yếu tố quan trọng và do
vậy có tác động không lớn đến thành tích học tập của học sinh. Nghiên cứu
này phát hiện thấy trình độ học vấn của phụ huynh học sinh và tình trạng sức
khỏe của học sinh là hai yếu tố có ảnh hưởng quyết định đến thành tích học
tập của học sinh.
nghiên cứu này cho biết, mối tương tác tích cực giữa thày và trò có ảnh hưởng
tiêu cực đến học sinh Phần Lan nhưng ảnh hưởng không đáng kể đến kêt quả
học tập của học sinh ở Hàn Quốc và Nhật Bản.
Nghiên cứu cho biết số lượng thành viên gia đình, trình độ học vấn của
phụ huynh, lứa tuổi của người mẹ khi sinh con, nghề nghiệp của người mẹ và
tình trạng thu nhập của gia đình đều là những yếu tố có ảnh hưởng nhất định
đến kết quả học tập của học sinh. Tuy nhiên, các yếu tố thuộc về cấu trúc gia
đình, hình thức gia đình như gia đình đơn thân lại không phải là yếu tố có ảnh
hưởng đáng kể đến thành tích học tập của học sinh.
Nghiên cứu sánh gia đình đơn thân với gia đình đầy đủ cho biết có sự
khác nhau về thành tích học tập của học sinh xuất thân từ hai loại gia đình
này. Tuy nhiên, sự khác nhau đó có thể do các yếu tố khác thuộc về điều kiện
kinh tế chứ không phải yếu tố cấu trúc gia đình. Điều đó chứng tỏ các yếu tố
kinh tế - xã hội mới thực sự là yếu tố ảnh hưởng đến học tập chứ không phải
yếu tố thuần túy cấu trúc gia đình.
Các nghiên cứu đều giống nhau ở chổ chỉ ra được những yếu tố quan
trọng thuộc về cá nhân học sinh như sự nỗ lực và thái độ tích cực học tập của
học sinh, yếu tố kinh tế của gia đình, sự quan tâm của phụ huynh học sinh đối
với thành tích học tập. Đồng thời các yếu tố nhà trường như sự quan tâm của
giáo viên, quan hệ bạn bè trong nhà trường và cả yếu tố chính sách cũng đều
là những yếu tố quan trọng đối với việc học tập của học sinh ở nhà trường.
Các nghiên cứu về tình hình học tập của học sinh ở Phần Lan trong giai đoạn
1999-2001 đều khẳng định kết quả như vậy.
Nghiên cứu của Bayaga và Wadesango cho thấy: kiến tưhcs của học
sinh về toán học, đặc điểm gia đình và tinh thần thái độ học tập của học sinh
đền ảnh hưởng đến kết quả học môn toán với hệ số tương quan tuong ứng lần
lượt là 0.353, 0.302 và 0.216. Đồng thời mối tương quan giữa thái độ học tập
và kiến thức của học sinh cũng được phát hiện là đạt mức cao với hệ số tương
nhau. Đồng thời nghiên cứu này cho thấy các yếu tố như trình độ học vấn của
bố mẹ cũng làm cho kết quả học tập của học sinh khác nhau: thường con cái
của bố mẹ có trình độ học vấn cao thì kết quả học tập cũng cao.
Báo cáo quốc tế về kết quả PISA 2012 cho thấy thành tích toán học
không phải do năng lực hay năng khiếu bẩm sinh của học sinh mà chủ yếu là
do sự cần cù, chăm chỉ học tập của học sinh. Kết luận này có ý nghĩa thực tiễn
rất quan trọng để đổi mới phương pháp giảng dạy sao cho học sinh yêu thích
và nỗ lực học tập hơn là chỉ tập trung vào tìm kiếm tài năng bẩm sinh một
cách may rủi.
Để học sinh tích cực và nỗ lực học tập thì yếu tố môi trường học tập
của nhà trường, quan hệ thày - trò và sự quan tâm của phụ huynh học sinh là
rất quan trọng và cần thiết. Các nghiên cứu về học sinh ở Nhật Bản và Bồ
Đào Nha cho thấy việc cải tiến chương trình, nội dung và phương pháp giagnr
dạy đã góp phần thúc đẩy thái độ tích cực, sự tự tiên và nỗ lực của học sinh
trong việc học tập môn toán và các môn học khác trong nhà trường. Nhờ vậy
mà kết quả học tập của học sinh tăng lên.
Tóm lại các nghiên cứu quốc tế về học sinh các nước qua PISA và ácc
dữ liệu khác nhau đều phát hiện ra các yếu tố quan trọng từ môi trường xung
quanh trong đó nổi bật nhất là yếu tố nhà trường, quan hệ thày trò, yếu tố gia
đình và yếu tố cộng đồng. Ở đâu có điều kiện kinh tế thuận lợi, truyền thống
văn hóa hiếu học và sự ủng hộ của gia đình thì ở đó học sinh có nhiều cơ hội
đến trường và đạt được nhiều thành tích cao trong học tập. Ngược lại ở nơi
nào còn nghèo, gia đình có khó khăn, cộng đồng ít quan tâm tới giáo dục đào tạo và việc học được khoán cho nhà trường thì ở nơi đó thành tích học tập
của học sinh không cao.
Các nghiên cứu trong nước cũng đã phát hiện ra những yếu tố môi
trường gồm yếu tố gia đình, nhà trường và cộng đồng ảnh hưởng đến thành
tích học tập của học sinh. Tuy nhiên, chưa có nhiều nghiên cứu tập trung vào
năm nhóm yếu tố như luận văn này đã nêu ra và cũng chưa có nghiên cứu nào
xã hội (trong đó có gia đình, bạn bè, tập thể lớp, trường...), thông qua các mỗi
quan hệ đa dạng, có ý nghĩa quan trọng đặc biệt.
Mỗi con người ngay từ khi mới sinh ra đã phải sống trong một môi
trường, hoàn cảnh nhất định, có thể gặp thuận lợi hoặc khó khăn đối với quá
trình phát triển thể chất, tinh thần của cá nhân. Môi trường tự nhiên và xã hội
với các điều kiện kinh tế, thể chế chính trị, hệ thống pháp luật, truyền thống
văn hoá, chuẩn mực đạo đức... tác động mạnh mẽ đến quá trình hình thành và
phát triển động cơ, mục đích, quan điểm, tình cảm, nhu cầu, húng thú, chiều
hướng phát triển của cá nhân... Thông qua hoạt động và giao lưu trong môi
trường mà cá nhân chiếm lĩnh được các kinh nghiệm, giá trị xã hội loài người,
từng bước điều chỉnh, hoàn thiện nhân cách của mình.
Tác động của môi trường đối với sự phát triển của cá nhân là rất
mạnh, phức tạp, có thể là tác động tích cực hoặc tiêu cực, có thể cùng chiều
hay ngược chiều, chủ yếu là theo con đường tự phát. Mức độ ảnh hưởng tích
cực hay tiêu cực như thế nào, có được chấp nhận hay không trong quá trình
phát triển nhân cách tùy thuộc phần lớn vào trình độ được giáo dục. Đó là ý
thức, niềm tin, quan điểm, ý chí và xu hướng, năng lực hoạt động, giao lưu
góp phần cải biến môi trường của cá nhân. C. Mác đã nói: “Hoàn cảnh sáng
tạo ra con người, trong một mức độ con người sáng tạo ra hoàn cảnh".
Ngay cả trong cùng môi trường sống, hoàn cảnh gia đình, nhưng
nhân cách của từng cá nhân cũng phát triển theo hướng khác nhau. Như vậy,
trong sự tác động qua lại giữa nhân cách và môi trường, càng chú ý đến hai
mặt của vấn đề: tác động của môi trường, hoàn cảnh vào quá trình hình
thành, phát triển nhân cách; và ngược lại, tác động của nhân cách vào môi
trường, hoàn cảnh để điều chỉnh, cải tạo nó nhằm phục vụ nhu cầu, lợi ích
của mình.
Có thể khẳng định ảnh hưởng to lớn của yếu tố môi trường đến quá
trình hình thành và phát triển nhân cách. Tuy nhiên, nếu tuyệt đối hoá vai trò