PGS. TS. Xuõn ỡnh
NHữNG BàI HọC KINH NGHIệM XÂY DựNG,
PHáT TRIểN QUAN Hệ ĐốI NGOạI
SONG PHƯƠNG Và ĐA PHƯƠNG
TRONG THờI Kỳ ĐổI MớI ở VIệT NAM
NH XUT BN I HC QUC GIA H NI
1
2
MỤC LỤC
Chương I
CHỦ TRƯƠNG XÂY DỰNG,
PHÁT TRIỂN QUAN HỆ SONG PHƯƠNG
VÀ ĐA PHƯƠNG CỦA VIỆT NAM (1986-2012) .............................7
I.1. Chủ trương đối ngoại rộng mở, xây dựng, phát triển quan hệ song
phương và đa phương (1986-1995).................................................7
I.1.1. Sự chuyển biến của tình hình khu vực, thế giới và yêu cầu
đổi mới về đối ngoại của Việt Nam .......................................7
I.1.2. Chủ trương đối ngoại rộng mở, xây dựng, phát triển quan hệ
song phương và đa phương .................................................23
I.2. Chủ trương đối ngoại đa dạng hoá, đa phương hoá - tích cực, chủ động
phát triển quan hệ song phương và đa phương (1996-2012) ........49
I.2.1. Những động thái mới của tình hình khu vực và thế giới ....49
I.2.2. Chủ trương đối ngoại độc lập tự chủ, đa dạng hoá, đa
phương hoá, tích cực, chủ động phát triển quan hệ song
phương và đa phương .........................................................56
4
LỜI MỞ ĐẦU
Thời kỳ đổi mới, qua mỗi nhiệm kỳ Đại hội đánh dấu sự chuyển
biến nhận thức của Đảng về quan hệ chính trị quốc tế; về yêu cầu,
nhiệm vụ trong nước. Từ đó dẫn tới đổi mới tư duy trên các lĩnh vực
đối ngoại, mà nổi bật là sự chuyển biến từ tư duy đối ngoại thời kỳ
chiến tranh lạnh sang tư duy chính trị thực tế - từ nhận thức về thế giới
và xu thế quốc tế dưới lăng kính ý thức hệ, duy ý chí trước đó, được
thay bằng thái độ khách quan, tôn trọng sự thật; từ quan niệm cũ về
“bạn, thù” sang quan niệm “đối tác, đối tượng”; từ quan hệ “theo phe”
sang đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế phục vụ thiết thực
cho lợi ích quốc gia Việt Nam. Trên cơ sở nhận thức mới, tư duy mới,
Đảng đề ra chủ trương, đối sách đối ngoại rộng mở, phát triển mạnh
mẽ quan hệ đối ngoại song phương và đa phương, chủ động, tích cực
tham gia vào đời sống quốc tế. Kết quả đối ngoại trên nền tảng đổi
mới tư duy là nhân tố quan trọng đưa đất nước thoát khỏi thế bị bao
vây, cấm vận; ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, nâng cao vị thế
của nước Việt Nam trên trường quốc tế.
Nội dung cuốn sách làm rõ các vấn đề cơ bản như: 1) Hệ thống chủ
trương, chính sách đối ngoại của Việt Nam trong tiến trình mở rộng
quan hệ quốc tế, thời kỳ đổi mới; 2) Trình bày tiến trình bình thường
hóa quan hệ và xây dựng, phát triển quan hệ đối ngoại song phương với
các nước lớn có quan hệ không bình thường trong lịch sử với Việt Nam,
như: Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc, quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ,
Quan hệ Việt Nam - Nhật Bản, Quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga…;
3) Trình bày tiến trình Việt Nam xây dựng, phát triển quan hệ đối ngoại
đa phương, như: Việt Nam gia nhập ASEAN, Việt Nam gia nhập
về đối ngoại của Việt Nam
Từ giữa thập kỷ 80, thế kỷ XX, trong khu vực và trên thế giới
diễn ra sự chuyển biến sâu sắc. Quan hệ chính trị quốc tế có những
thay đổi và tác động mạnh mẽ đến chiến lược đối ngoại của các quốc
gia dân tộc, trong đó có Việt Nam.
Trước hết, sự tiến bộ nhanh chóng với những thành tựu to lớn của
cuộc cách mạng khoa học công nghệ trên thế giới thúc đẩy lực lượng
sản xuất toàn cầu phát triển vượt bậc. Yếu tố kinh tế và tiềm lực khoa
học công nghệ trở thành nhân tố quyết định sức mạnh tổng hợp và vị
thế của các quốc gia trên trường quốc tế.
Thứ hai, sự kiện chủ nghĩa xã hội sụp đổ ở các nước Đông Âu
cuối thập kỷ 80; tiếp đến, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô sụp đổ
(tháng 12-1991). Từ các sự kiện này dẫn đến những biến đổi cơ bản
nền chính trị thế giới và quan hệ quốc tế. Trật tự thế giới được hình
thành từ sau chiến tranh thế giới thứ hai trên cơ sở hai khối đối lập do
Liên Xô và Mỹ đứng đầu (trật tự hai cực) tan rã, mở ra thời kỳ quá độ
hình thành một trật tự thế giới mới.
Thời kỳ chiến tranh lạnh, sự phân biệt, đối đầu, thù địch về ý thức
hệ, về chế độ chính trị - xã hội là cơ sở cho sự tồn tại của thế giới hai
cực và là nhân tố chi phối lớn đến quan hệ quốc tế, đặc biệt là quan hệ
7
Bắc - Nam. Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, việc tập hợp lực lượng
không còn cơ bản dựa trên lăng kính ý thức hệ tư tưởng, chính trị mà chủ
yếu dựa trên lợi ích chung của các quốc gia, của khu vực và toàn cầu.
Một đặc điểm lớn trên chính trường quốc tế sau khi Liên Xô tan
rã, là Mỹ với vị trí siêu cường duy nhất về kinh tế, chính trị và quân
sự, có ý đồ muốn thiết lập một trật tự thế giới mới dưới sự chi phối
xung đột như vấn đề hạt nhân ở Bán đảo Triều Tiên; vấn đề Đài Loan;
vấn đề tranh chấp lãnh hải ở biển Đông và việc các nước trong khu vực
tăng cường vũ trang, nhưng châu Á - Thái Bình Dương sau chiến tranh
lạnh vẫn được đánh giá là khu vực yên tĩnh và ổn định của thế giới.
Ba là, châu Á - Thái Bình Dương trở thành khu vực có tiềm lực
lớn và năng động về phát triển kinh tế. Xu thế hoà bình và hợp tác
trong khu vực phát triển mạnh, sự tuỳ thuộc lẫn nhau ngày càng gia
tăng. Tuy nhiên, quá trình hợp tác phát triển kinh tế của khu vực cũng
đang gặp những khó khăn trở ngại. Đó là, sự chênh lệch về trình độ và
tốc độ tăng trưởng kinh tế giữa các nền kinh tế trong khu vực; xuất
hiện những nhân tố mới có thể gây mất ổn định khu vực, trong đó có
nhân tố xuất phát từ sự tranh giành lợi ích kinh tế, ảnh hưởng chính trị
giữa một số nước lớn.
Tình hình một số nước tư bản chủ nghĩa thuộc khu vực châu Á Thái Bình Dương
Về Hoa Kỳ: Để khắc phục hậu quả của cuộc khủng hoảng trên
nhiều lĩnh vực diễn ra từ giữa thập kỷ 70, Hoa Kỳ buộc phải điều
chỉnh chiến lược đối nội và đối ngoại của mình. Cụ thể: tập trung ưu
tiên giải quyết các vấn đề bên trong như, cắt giảm thuế, cắt giảm các
chi phí một số hoạt động của Chính phủ; tập trung xây dựng phát triển
kinh tế, củng cố, gia tăng vị thế của Hoa Kỳ trong các nước đồng
minh thuộc hệ thống tư bản chủ nghĩa. Tuy nhiên, bước vào giữa thập
kỷ 80, nước Mỹ tiếp tục lún sâu vào khó khăn, Tổng thống Mỹ đã phải
kêu gọi tiến hành cuộc “Cách mạng nước Mỹ lần thứ 2”, với nội dung
chủ yếu là tập trung nguồn lực cho phát triển kinh tế. Đồng thời, Mỹ
buộc phải thực hiện giảm cam kết với bên ngoài, rút quân đội khỏi
Đông Nam Á...; đàm phán với Liên Xô về các vấn đề vũ khí chiến
lược và bình thường hoá quan hệ với Liên Xô. Trong hoàn cảnh đó,
các đồng minh của Mỹ có những bước phát triển vượt bậc, Tây Âu và
Nhật Bản vươn lên trở thành các nền kinh tế hùng mạnh, hình thành 3
trung tâm kinh tế của thế giới, xác lập vị thế cạnh tranh với Mỹ. Trong
Khi tái đắc cử nhiệm kỳ hai, Tổng thống Mỹ B. Clintơn thực hiện
chuyến công du ra nước ngoài đầu tiên là châu Á - Thái Bình Dương.
Tại đó, Tổng thống Mỹ khẳng định, khu vực châu Á - Thái Bình
Dương có tầm quan trọng ngày càng tăng về chiến lược và kinh tế. Mỹ
1
Trong tuyên bố nhậm chức ngày 20-1-1993, B.Clintơn khẳng định lại mục tiêu
nhất quán của nước Mỹ là "Mỹ vẫn có trách nhiệm trên khắp thế giới... Dân tộc
chúng ta (Mỹ) sẵn sàng lãnh đạo một thế giới đang bị thách thức ở khắp mọi nơi"
(Viện Nghiên cứu bảo vệ hoà bình và an ninh vùng biển: Vấn đề an ninh ở khu
vực Đông Nam Á, Nxb Chính trị Quốc gia, H.1994, tr 35)
10
cam kết sẽ tiếp tục là một lực lượng duy trì hoà bình và ổn định tại
khu vực và duy trì khoảng 100.000 quân tại đây2.
Về Nhật Bản, vào những năm 80, Nhật Bản trở thành cường quốc
kinh tế đứng sau Mỹ. Năm 1992, kinh tế Nhật Bản bằng 60% tổng sản
phẩm kinh tế quốc dân của Mỹ; thu nhập quốc dân tính theo đầu người
của Nhật Bản khoảng 38.750 USD (Mỹ khoảng 25.900 USD); tài sản
nước ngoài của Nhật hơn 600 tỷ USD; Nhật là nước xuất khẩu tư bản,
và là chủ nợ lớn nhất thế giới; năm 1993, viện trợ phát triển (ODA)
của Nhật là 13 tỷ USD; Nhật là nước cung cấp viện trợ phát triển lớn
nhất thế giới. Thủ tướng Thái Lan cho rằng, Nhật Bản đã chiến thắng
trong cuộc chiến tranh kinh tế3.
Sau khi Liên Xô sụp đổ, vai trò của Mỹ đối với khu vực bị suy
giảm, Nhật Bản tận dụng cơ hội này để thể hiện vị trí, vai trò độc lập
hơn với Mỹ và phương Tây trong việc giải quyết các vấn đề của khu
lạnh thể hiện qua các sự kiện: Canađa, Ôxtrâylia nối lại viện trợ cho
Việt Nam trong năm 1990-1991, ngay cả khi Mỹ đang thi hành cấm
vận đối với Việt Nam; việc Ôxtrâylia đưa ra những sáng kiến cho giải
pháp về Campuchia; việc các nước đều tham gia ARF do ASEAN chủ
đạo bàn về an ninh châu Á - Thái Bình Dương...
Tình hình các nước xã hội chủ nghĩa
Về Liên Xô: Từ cuối thập kỷ 70, Liên Xô ngày càng gặp nhiều
khó khăn. Nền kinh tế Liên Xô lún sâu vào trì trệ, khủng hoảng và tụt
hậu về kinh tế, kỹ thuật so với các nước tư bản chủ nghĩa (Liên Xô lạc
hậu hơn các nước Phương Tây 15-20 năm). Trong khi đó, cuộc chạy
đua vũ trang và các chi phí quốc phòng mấy thập kỷ trước đó tiêu tốn
của Liên Xô hàng trăm tỉ đô la, càng làm cho kinh tế Liên Xô thêm
kiệt quệ.
Hội nghị toàn thể Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô (4-1985)
đề xướng “Cải tổ”, coi đây là quá trình cải tạo toàn diện, triệt để xã
hội Xô Viết trên cơ sở đường lối đẩy nhanh phát triển kinh tế - xã hội.
Để cải tổ, Đảng Cộng sản Liên Xô đề ra chiến lược tăng tốc kinh tế
trên cơ sở khoa học kỹ thuật nhằm tăng gấp đôi GDP trong vòng
15 năm. Chiến lược này không thành công, vì tăng tốc kinh tế mà
không thay đổi mô hình, cơ cấu và cơ chế quản lý kinh tế, nên sản
xuất tiếp tục sa sút. Theo đề nghị của Goócbachốp, Tổng Bí thư Đảng
Cộng sản Liên Xô, Hội nghị lần thứ 19, Uỷ ban Trung ương Đảng
Cộng sản Liên Xô (7-1988) thông qua phương án tổng thể cải tổ chính
trị với những nội dung căn bản như: công khai phê bình và tự phê bình
trong tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội; đẩy mạnh dân chủ hoá đời
sống xã hội... Trong thực tế, càng về sau chủ trương “công khai” trở
thành “những mưu đồ phủ nhận thành tựu lý luận và thực tiễn của 70
năm xây dựng chủ nghĩa xã hội; “Phê bình và tự phê bình” trở thành
phê phán những thế hệ tiền bối một cách không thương xót; “Đẩy
mạnh dân chủ hoá toàn diện” trở thành sự thoán quyền của một số
Trung Quốc rất coi trọng khu vực châu Á - Thái Bình Dương và
tích cực tham gia hội nhập các diễn đàn chính trị, kinh tế, an ninh khu
vực, bởi lẽ sự nghiệp mở cửa và 4 hiện đại hoá của Trung Quốc phụ
thuộc rất lớn vào vốn, khoa học - công nghệ, đầu tư và thị trường của
khu vực, trong đó đặc biệt là của Mỹ và Nhật Bản.
4
5
Nguyễn Phú Trọng (Chủ biên): Đổi mới và phát triển ở Việt Nam-Một số vấn đề
lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị Quốc gia, H.2008, tr17-18
Phạm Cao Phong: “Vài tư liệu về tình hình Trung Quốc năm 1995”, Nghiên cứu
Quốc tế, (4), 12/1995, tr 45.
13
Tình hình các nước xã hội chủ nghĩa khác: Vào thập kỷ 80, các
nước thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa (ngoài Liên Xô và Trung Quốc)
đều lâm vào khủng hoảng: nền kinh tế lạc hậu, trì trệ, năng suất lao
động thấp, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, tình hình chính trị xã hội mất ổn định; các thế lực đối lập tăng cường hoạt động; quan hệ
giữa các nước xã hội chủ nghĩa phát sinh nhiều phức tạp, bất đồng. Từ
cuối thập kỷ 80, cuộc khủng hoảng trở nên sâu sắc, dẫn đến sự tan rã
chủ nghĩa xã hội ở các nước Đông Âu (Ba Lan: tháng 6-1989; Tiệp
Khắc: tháng 12-1989; Bun ga ri: tháng 2-1990; Cộng hoà Dân chủ
Đức: tháng 3-1990; Rumani: tháng 12-1990). Đến đầu thập kỷ 90, chế
độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô sụp đổ (tháng 12-1991).
Từ những khó khăn dẫn đến tan rã của hệ thống các nước xã hội
chủ nghĩa, trong phong trào cộng sản quốc tế nảy sinh các ý kiến khác
nhau, thậm chí mâu thuẫn về phương hướng và mục tiêu đấu tranh.
tác, trao đổi những giá trị, những hoạt động, về chính trị, kinh tế, thương mại,
khoa học kỹ thuật và văn hoá trên phạm vi khu vực, thế giới.
Ban chỉ đạo các lớp nghiên cứu, quán triệt Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX:
Đề cương các bài giảng: Nghiên cứu, quán triệt Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ
IX, H. 2001, tr102.
15
Tính khách quan của toàn cầu hoá bắt nguồn từ sự phát triển của
lực lượng sản xuất, của hàng hoá và dịch vụ đòi hỏi phải phá bỏ các
rào cản về thị trường; sự phát triển của khoa học và công nghệ làm
cho nền sản xuất vật chất có điều kiện vượt biên giới quốc gia và khu
vực; sự phát triển sản xuất đòi hỏi phân công lao động sâu rộng, gia
tăng hợp tác phát triển giữa các nền kinh tế; nhiều vấn đề toàn cầu
xuất hiện như, tội phạm, ma tuý, dịch bệnh... đòi hỏi phải hợp tác toàn
cầu mới giải quyết được.
Toàn cầu hoá, khu vực hoá về kinh tế phản ánh bản chất của nền
kinh tế thị trường yêu cầu ngày càng cao về độ mở cửa trong hoạt
động sản xuất, kinh doanh, không bị giới hạn bởi các biên giới quốc
gia, chủng tộc, tôn giáo và không phân biệt các nước có chế độ chính
trị - xã hội khác nhau. Trên cơ sở đó thúc đẩy hình thái quan hệ liên
kết, hợp tác và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia dân tộc.
Từ giữa thập kỷ 80, có hai nhân tố rất quan trọng tác động trực
tiếp, mạnh mẽ đến sự gia tăng tốc độ và chiều sâu của quá trình toàn
cầu hoá và khu vực hoá.
Trước hết, sự đổi mới tư duy về lợi ích dân tộc, quan hệ quốc tế,
an ninh và phát triển của các quốc gia, về nhận thức vai trò, vị trí của
kinh tế trong việc xác lập vị thế của các quốc gia dân tộc. Tiềm lực và
sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia có vai trò quan trọng trong việc
quốc gia cũng phải đối mặt với những khó khăn, thách thức to lớn.
Những tác động tích cực của toàn cầu hoá được thể hiện: Trên cơ
sở thị trường mở rộng, hàng rào thuế quan và phi thuế quan thuyên
giảm, giao lưu hàng hoá thông thoáng hơn, trao đổi hàng hoá tăng
mạnh, thúc đẩy sản xuất của các nước phát triển; nguồn vốn, khoa học
công nghệ, kinh nghiệm quản lý cùng các hình thức đầu tư, hợp tác
khác mang lại lợi ích cho các bên tham gia hợp tác; về chính trị, toàn
cầu hoá làm tăng tính tuỳ thuộc lẫn nhau, nâng cao sự hiểu biết lẫn
nhau, thuận lợi cho việc xây dựng môi trường hoà bình, hợp tác song
phương và đa phương. Nhìn chung, toàn cầu hoá tạo điều kiện phát
huy hiệu quả nguồn lực trong nước và khai thác, tận dụng các nguồn
lực bên ngoài phục vụ cho phát triển của các quốc gia.
Những tác động tiêu cực của toàn cầu hoá, xuất phát từ nguyên
nhân các nước công nghiệp phát triển thao túng quá trình toàn cầu hoá
tạo nên sự phân cực giữa nước giàu và nước nghèo. Theo Báo cáo về
sự phát triển nhân loại 1999 của Chương trình phát triển Liên hợp
quốc (UNDP) thì, dân số ở 85 quốc gia trên thế giới có mức sống thấp
hơn cách đây 10 năm... Trong khi các nước công nghiệp phát triển với
khoảng 1,2 tỷ người chiếm 1/5 dân số thế giới, hiện đang chiếm 86%
GDP toàn cầu, 4/5 thị trường xuất khẩu, 1/3 đầu tư trực tiếp nước
17
ngoài8; nền kinh tế toàn cầu hoá là nền kinh tế rất dễ bị biến động. Sự
biến động, nhất là những biến động tiêu cực có thể lây lan rất nhanh ra
phạm vi toàn cầu, gây thiệt hại lớn cho các nước đang phát triển; việc
tự do hoá thương mại đem lại lợi ích lớn hơn cho các nước phát triển
vì hàng hoá của họ chất lượng cao, giá thành hạ, từ đó tạo thua thiệt
cho những nước mà nền kinh tế khả năng cạnh tranh yếu; toàn cầu hoá
kéo theo các tệ nạn như, tội phạm xuyên quốc gia, truyền bá văn hoá
18
Các xu thế quốc tế khác: Trước những diễn biến mới của tình hình
thế giới, các quốc gia thực hiện điều chỉnh chiến lược đối nội, đối ngoại,
trong đó nổi bật là nâng cao ý thức độc lập, tự chủ và tự lực tự cường,
chủ động trong tìm kiếm con đường phát triển của quốc gia mình.
Thời kỳ chiến tranh lạnh, thế giới tồn tại những điểm nóng,
những cuộc chiến tranh cục bộ, xung đột, tranh chấp... Sau chiến tranh
lạnh tình trạng này vẫn còn, nhưng xu thế chung của thế giới là hoà
bình, hợp tác và phát triển. Những vấn đề như ô nhiễm môi trường,
buôn bán ma tuý, hiểm hoạ AIDS và khủng bố quốc tế, đều ảnh hưởng
đến an ninh, phát triển của các nước, không kể là nước lớn hay nhỏ.
Để giải quyết những vấn đề toàn cầu, các quốc gia phải nỗ lực hợp tác
cùng hành động; các nước phải đổi mới tư duy đối ngoại, thực hiện
chính sách đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ quốc tế; mở rộng và
tăng cường liên kết, hợp tác với các nước phát triển để tranh thủ vốn,
kỹ thuật, công nghệ, mở rộng thị trường, học tập kinh nghiệm tổ chức,
quản lý sản xuất kinh doanh.
Sau chiến tranh lạnh, các nước đổi mới tư duy về quan niệm sức
mạnh, vị thế quốc gia. Thay thế cách đánh giá cũ, chủ yếu dựa vào sức
mạnh quân sự bằng các tiêu chí tổng hợp, trong đó sức mạnh kinh tế
và khoa học công nghệ được đặt ở vị trí quan trọng nổi bật. Vì vậy,
cuộc cạnh tranh giữa các quốc gia chuyển dần từ hình thức chạy đua
vũ trang, tăng cường sức mạnh quân sự trong chiến tranh lạnh sang
hình thức cạnh tranh sức mạnh tổng hợp quốc gia. Quan hệ quốc tế từ
thế đối đầu chuyển dần sang đối thoại, hợp tác và cạnh tranh.
Các quốc gia ưu tiên phát triển kinh tế, chạy đua về kinh tế. Kinh
tế trở thành nhân tố có ý nghĩa quyết định sức mạnh tổng hợp của mỗi
nước. Các nước đang phát triển (nước vừa và nhỏ) tăng cường thực
phải đương đầu với một kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt... đồng
thời, phải sẵn sàng đối phó với tình huống địch có thể gây chiến tranh
xâm lược quy mô lớn”10
Trong hoàn cảnh đó, vấn đề giải toả tình trạng căng thẳng, đối
đầu, thù địch, nhằm tiến tới bình thường hóa quan hệ với các nước, tạo
môi trường khu vực thuận lợi để xây dựng đất nước là yêu cầu cấp
bách đối với Việt Nam.
- Yêu cầu chống tụt hậu về kinh tế
Sau năm 1975, do sự tàn phá nặng nề của chiến tranh, nền kinh tế
Việt Nam vốn đã nghèo nàn, lạc hậu lại càng thêm khó khăn. Trong
khi chưa khắc phục hết hậu quả chiến tranh chống Mỹ, lại xảy ra hai
9
10
Furuta Motoo, "Thời đại mới của quan hệ Việt - Nhật", Tạp chí Nghiên cứu Nhật
Bản, (1), 1998, tr9.
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 43, Nxb Chính trị Quốc
gia, H 2006, tr 53.
20
cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc và phía Tây Nam. Những khó
khăn khách quan cùng với khuyết điểm chủ quan do duy trì quá lâu
cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu làm cho nền kinh tế Việt
Nam lâm vào khủng hoảng “Giai đoạn 1976-1980, tốc độ tăng
trưởng bình quân hàng năm của tổng sản phẩm xã hội chỉ đạt 1,4%,
thu nhập quốc dân chỉ tăng 0,4%, trong khi đó dân số tăng với tốc độ
bình quân 2,24%/năm. Tình hình đó đã khiến cho đời sống dân cư
thuộc mọi tầng lớp trong xã hội đều hết sức khó khăn (vào những
Thông tấn xã Việt Nam: tài liệu tham khảo, ngày 7/5/2008, tr1.
21
Báo cáo Chính trị tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá
VII của Đảng (1-1994) coi “nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với
nhiều nước trong khu vực và trên thế giới” là một trong bốn thách
thức lớn nhất đối với cách mạng Việt Nam. Đại hội Đảng lần thứ VIII
(6-1996) tiếp tục nhấn mạnh “nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với
nhiều nước trong khu vực vẫn là thách thức to lớn và gay gắt do điểm
xuất phát của ta quá thấp, lại phải đi lên trong môi trường cạnh tranh
quyết liệt”14.
Theo “World Development Indicators (các chỉ số phát triển của
thế giới) của WB, thì: Tốc độ tăng trưởng GDP và GDP tính theo đầu
người năm 1997 so với năm 1991 của một số nước như: Singapore
2,58 lần và 2,48 lần; Trung Quốc 2,48 lần và 2,32 lần; Malaysia 2,14 lần
và 1,81 lần; Indonesia 1,99 lần và 1,80 lần; Philippin 1,91 lần và 1,62 lần;
Thái Lan 1,85 lần và 1,73 lần; Việt Nam 1,60 lần và 1,44 lần.
Năm 1997 trong gần 200 nước trên thế giới, Việt Nam đứng thứ
62 về GDP và 186 về GDP tính theo đầu người (nếu tính theo phương
pháp so sánh giá cả thì đứng thứ 167).
Kim ngạch xuất khẩu tính theo đầu người (bằng USD) năm 1997
của Việt Nam là 149, của Indonesia là 316; của Philippin là 545, của
Thái Lan là 1.087, của Malaysia là 4.222 và của Singapore là
52.484”15.
Để thu hẹp khoảng cách phát triển giữa Việt Nam với các quốc
gia khác, ngoài việc phát huy tối đa các nguồn lực trong nước, cần
phải tranh thủ các nguồn lực bên ngoài thông qua hợp tác quốc tế song
và đa phương.
phải đổi mới chủ trương, điều chỉnh chiến lược và hoạt động đối ngoại
thích ứng với tình hình trong nước và quốc tế.
I.1.2. Chủ trương đối ngoại rộng mở, xây dựng, phát triển quan hệ song
phương và đa phương
Từ tư duy đối ngoại nặng về ý thức hệ, sang tư duy đối ngoại
rộng mở (1986-1990)
Tháng 12-1986, Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam
họp. Đây là thời điểm Việt Nam đang đối mặt với những khó khăn to
lớn cả về đối nội và đối ngoại. Nhận định về tình hình thế giới và xu
thế quốc tế, Báo cáo chính trị tại Đại hội cho rằng: Các lực lượng cách
mạng của thời đại đang không ngừng mạnh lên và ở thế chủ động, tiến
công. Lực lượng mọi mặt của hệ thống xã hội chủ nghĩa, do Liên Xô
làm trụ cột, ngày càng được tăng cường. Hệ thống xã hội chủ nghĩa
tiến vào giai đoạn phát triển mới với chất lượng mới. Những thành tựu
mọi mặt của cộng đồng xã hội chủ nghĩa, là nhân tố quyết định thắng
lợi của chủ nghĩa xã hội trong cuộc đấu tranh giữa hai hệ thống chính
trị - xã hội đối lập trên thế giới16. Nhận thức trên đây chưa phản ánh
đúng diễn biến phức tạp của công cuộc cải cách và cải tổ ở các nước
xã hội chủ nghĩa (thực tế thì, công cuộc cải tổ, cải cách ở các nước xã
16
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb
Sự thật, H.1987, Tr33.
23
hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô đang đi vào bế tắc, khủng hoảng
kinh tế, chính trị ở các nước này ngày càng nghiêm trọng); đồng thời
“sau thất bại của đế quốc Mỹ ở Việt Nam, cách mạng thế giới bước vào một thời
kỳ phát triển mới. Ba dòng thác cách mạng của thời đại lớn mạnh vượt bậc, kết
thành một sức mạnh hết sức to lớn, đã giành được những thắng lợi rực rỡ trong
cuộc đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội…Với
Liên Xô là trụ cột, hệ thống xã hội chủ nhĩa ngày càng phát huy mạnh mẽ tác
dụng là nhân tố quyết định chiều hướng phát triển của xã hội loài người, là thành
trì vững chắc của hoà bình, là chỗ dựa tin cậy cho cuộc đấu tranh cách mạng của
nhân dân thế giới”.
24
“xu thế quốc tế hoá” và một trật tự quốc tế”19. Ý nghĩa sâu xa của
nhận xét trên không dừng lại ở "xoá bỏ một số khái niệm cũ", "đưa
nhiều thuật ngữ mới" mà phản ánh một vấn đề rất lớn - sự chuyển biến
từ nhận thức về thế giới trên nền tảng ý thức hệ sang tư duy dựa trên
nền tảng thực tiễn.
Nhiệm vụ và chính sách đối ngoại được Đại hội VI xác định là:
Ra sức kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại, phấn
đấu giữ vững hoà bình ở Đông Dương, góp phần tích cực giữ vững
hoà bình ở Đông Nam Á và trên thế giới, tăng cường quan hệ đặc biệt
giữa ba nước Đông Dương, tăng cường quan hệ hữu nghị và hợp tác
toàn diện với Liên Xô và các nước trong cộng đồng xã hội chủ nghĩa,
tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng chủ
nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời tích cực góp phần vào cuộc
đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc,
dân chủ và chủ nghĩa xã hội.
Tăng cường đoàn kết và hợp tác toàn diện với Liên Xô luôn luôn
là hòn đá tảng trong chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước.
Phát triển và củng cố mối quan hệ đặc biệt giữa ba nước Đông