Chế độ bảo hiểm thai sản theo quy định của luật bảo hiểm xã hội năm 2014 với vấn đề bảo đảm quyền lợi của người hưởng bảo hiểm - Pdf 43

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
-----o0o-----

TRẦN THỊ KIM ANH

CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM THAI SẢN THEO QUY ĐỊNH
CỦA LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI NĂM 2014 VỚI VẤN ĐỀ
BẢO ĐẢM QUYỀN LỢI CỦA NGƢỜI HƢỞNG BẢO HIỂM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2016


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
-----o0o-----

TRẦN THỊ KIM ANH

CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM THAI SẢN THEO QUY ĐỊNH
CỦA LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI NĂM 2014 VỚI VẤN ĐỀ
BẢO ĐẢM QUYỀN LỢI CỦA NGƢỜI HƢỞNG BẢO HIỂM
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 60 38 01 07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Xuân Thu


1.1.4 Các nguyên tắc của chế độ bảo hiểm thai sản ....................................... 16
1.2. Điều chỉnh pháp luật đối với chế độ bảo hiểm thai sản ........................... 17
1.2.1. Khái niệm pháp luật về chế độ bảo hiểm thai sản ................................ 17
1.2.2. Nội dung pháp luật về chế độ bảo hiểm thai sản .................................. 18
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 .............................................................................. 25
Chƣơng 2:THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH CỦA LUẬT BẢO HIỂM XÃ
HỘI NĂM 2014 VỀ CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM THAI SẢN ............................ 26
2.1. Chế độ bảo hiểm thai sản theo Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 ............ 26
2.1.1. Đối tượng áp dụng chế độ bảo hiểm thai sản ....................................... 26
2.1.2 Điều kiện hưởng chế độ bảo hiểm thai sản ............................................ 28
2.1.3. Thời gian hưởng, mức hưởng bảo hiểm thai sản ................................ 34
2.1.4. Quỹ bảo hiểm ốm đau, thai sản............................................................. 50
2.2. Tác động của chế độ bảo hiểm thai sản đến quyền lợi của của người
hưởng bảo hiểm ............................................................................................... 54


KẾT LUẬN CHƢƠNG 2.............................................................................. 63
Chƣơng 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ
THỰC HIỆN CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM THAI SẢN Ở VIỆT NAM NHẰM
BẢO ĐẢM QUYỀN LỢI CỦA NGƢỜI HƢỞNG BẢO HIỂM ............... 65
3.1. Yêu cầu của việc hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện chế
độ bảo hiểm thai sản ........................................................................................ 65
3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện chế độ bảo
hiểm thai sản.................................................................................................... 70
3.2.1. Hoàn thiện pháp luật về chế độ bảo hiểm thai sản ............................... 70
3.2.2. Các giải pháp khác nâng cao hiệu quả thực hiện chế độ bảo hiểm thai
sản nhằm bảo đảm quyền lợi của người hưởng bảo hiểm .............................. 75
KẾT LUẬN CHƢƠNG 3.............................................................................. 86
KẾT LUẬN .................................................................................................... 88
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 90


Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Bảo hiểm thai sản là một bộ phận thuộc hệ thống an sinh xã hội. Là một

chế độ thực sự cần thiết cho NLĐ vì nó bảo đảm một phần thu nhập bị giảm
và chi phí tăng thêm cho NLĐ nói chung khi mang thai, thực hiện các biện
pháp tránh thai, nạo hút thai, thai chết lưu, sinh con, khi nhận nuôi con sơ
sinh. Điều 34 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Công dân có quyền được bảo
đảm an sinh xã hội”. Điều này đã cho thấy quyền được hưởng bảo hiểm thai
sản là một trong những quyền cơ bản của công dân.
Chế độ trợ cấp thai sản có vị trí quan trọng trong hệ thống chính sách
BHXH, không chỉ bởi tính nhân văn, nhân đạo sâu sắc mà còn góp phần
táisản xuất sức lao động xã hội. Hàng năm, trợ cấp thai sản góp phần bảo vệ
quyền lợi chính đáng cho hàng triệu phụ nữ, trẻ em, góp phần bảo đảm an
ninh, trật tự, an toàn xã hội.
Cũng như các chế độ BHXH khác, ngay từ khi giành được chính quyền
đến nay, chế độ bảo hiểm thai sản đã được Nhà nước ta quan tâm, xây dựng
và phát triển trong các văn bản pháp luật qua các thời kỳ. Trong nhiều năm
qua, chế độ bảo hiểm thai sản đã phần nào giảm bớt gánh nặng cho NLĐ, đặc
biệt là lao động nữ. BHXH Việt Nam đã giải quyết kịp thời, đúng chế độ,
chính sách cho NLĐ nghỉ sinh con và NLĐ nhận nuôi con nuôi qua đó bảo vệ
quyền lợi chính đáng cho hàng triệu NLĐ và trẻ em. Triển khai quy định của
Luật BHXH năm 2006 và các văn bản hướng dẫn, số lượt người được giải
quyết hưởng chế độ thai sản không ngừng tăng lên qua các năm. Năm 2015,
BHXH đã giải quyết cho 7.528.520 lượt người hưởng chế độ ốm đau, thai
sản, dưỡng sức phục hồi sức khỏe, tăng 16,43% so với năm 2014.
Để giải quyết phần nào những bất cập của Luật BHXH năm 2006, Luật
1



2


viết “Bảo vệ quyền làm mẹ trong pháp luật lao động và luật bảo hiểm xã hội”
của tác giả Nguyễn Hiền Phương trên tạp chí Luật học số 6/2014. Tác giả
Nguyễn Hiền Phương đã phân tích rõ các quy định của pháp luật về quyền
làm mẹ trong Luật lao động và Luật Bảo hiểm xã hội. Chế độ bảo hiểm thai
sản cũng được đề cập một khía cạnh nhất định trong việc bảo đảm quyền làm
mẹ của NLĐ nữ.
Chế độ bảo hiểm thai sản cũng là đối tượng nghiên cứu của một số khóa
luận tốt nghiệp đại học, như: khóa luận tốt nghiệp của Đào Duy Phương về
“Chế độ bảo hiểm thai sản theo pháp luật hiện hành”năm 2006; khóa luận tốt
nghiệp của Phạm Thị Quỳnh về “Chế độ bảo hiểm thai sản”năm 2010; khóa
luận tốt nghiệp của Lục Việt Dũng về “Chế độ bảo hiểm thai sản – Thực
trạng và phương hướng hoàn thiện” năm 2012.
Các công trình nghiên cứu, các bài viết trên nghiên cứu về chế độ bảo
hiểm thai sản dưới những khía cạnh khác nhau. Tuy nhiên, có thể nói hiện nay
chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu chuyên sâu về chế độ bảo hiểm
thai sản với vấn đề bảo đảm quyền lợi cho người hưởng bảo hiểm theo Luật
BHXH năm 2014.
3. Mục đích và phạm vi nghiên cứu
Mục đích của luận văn là nhằm nghiên cứu một số vấn đề lý luận về chế
độ bảo hiểm thai sản. Trên cơ sở đó, luận văn sẽ đi vào nghiên cứu các quy
định của Luật BHXH Việt Nam 2014 về chế độ bảo hiểm thai sản để thấy
được những quy định mới, tiến bộ cũng như những hạn chế trong các quy
định của Luật BHXH năm 2014 về chế độ này để đề xuất việc tiếp tục hoàn
thiện pháp luật và những biện pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chế độ bảo
hiểm thai sản nhằm đảm bảo quyền lợi cho người hưởng bảo hiểm.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là chế độ bảo hiểm thai sản trong Luật
BHXH năm 2014, cụ thể bao gồm các nội dung sau đây:

- Thứ ba, luận giải các yêu cầu hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực
hiện chế độ bảo hiểm thai sản ở Việt Nam nhằm đảm bảo quyền lợi của người
hưởng bảo hiểm trên cở sở những vấn đề lý luận và quy định của pháp luật
4


hiện hành về vấn đề này.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình tiếp cận và giải quyết những vấn đề mà luận văn đặt ra,
tác giả sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ
nghĩa Mác- Lênin. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng trong
quá trình nghiên cứu đề tài là phân tích, chứng minh, tổng hợp, so sánh…
6. Những đóng góp của đề tài nghiên cứu
Luận văn có những đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn như sau:
- Cung cấp những kiến thức tổng quát về chế độ bảo hiểm thai sản trong
hệ thống các chế độ của BHXH.
- Phân tích được những điểm mới của chế độ bảo hiểm thai sản trong
Luật BHXH năm 2014 so với Luật BHXH năm 2006 và các văn bản khác.
- Đánh giá được những tác động của chế độ bảo hiểm thai sản theo Luật
BHXH năm 2014 đến quyền lợi của người hưởng bảo hiểm.
- Đưa ra những kiến nghị cụ thể nhằm tiếp tục hoàn thiện các quy định
của pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện chế độ bảo hiểm thai sản theo
Luật BHXH năm 2014 nhằm đảm bảo quyền lợi của người hưởng bảo hiểm.
Luận văn có thể được sử dụng để làm tài liệu tham khảo trong công tác giảng
dạy, học tập cũng như là tài liệu tham khảo trong quá trình rà soát, sửa đổi, bổ
sung pháp luật về chế độ bảo hiểm thai sản ở nước ta trong thời gian tới.
7. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần Lời nói đầu, Kết Luận và các phụ lục, Danh mục tài liệu
tham khảo, Luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về chế độ bảo hiểm thai sản;

toàn thụ động và không chắc chắn.
Khi nền kinh tế hàng hoá phát triển, việc thuê mướn công nhân trở nên
phổ biến thì mối quan hệ kinh tế giữa NLĐ làm thuê và giới chủ cũng trở nên
phức tạp. Lúc đầu người chủ chỉ cam kết trả công lao động, nhưng về sau đã
6


phải cam kết cả việc bảo đảm cho người làm thuê có một số thu nhập nhất
định để họ trang trải những yêu cầu thiết yếu khi không may bị ốm đau, tai
nạn, thai sản. Trong thực tế, nhiều khi các trường hợp trên không xảy ra và
người chủ không phải chi ra một đồng nào. Nhưng cũng có khi xảy ra dồn
dập, buộc họ phải bỏ ra một lúc nhiều khoản tiền lớn mà họ không muốn. Vì
thế, mâu thuẫn chủ - thợ phát sinh, giới thợ liên kết đấu tranh buộc giới chủ
thực hiện cam kết. Cuộc đấu tranh này diễn ra ngày càng rộng lớn và có tác
động nhiều mặt đến đời sống kinh tế - xã hội. Do vậy, Nhà nước đã phải đứng
ra can thiệp và điều hoà mâu thuẫn nhằm xác định mối quan hệ giữa các chủ
thể: giới chủ, giới thợ, Nhà nước trong việc bảo đảm cho NLĐ khi họ gặp rủi
ro. Sự can thiệp này một mặt làm tăng được vai trò của Nhà nước, mặt khác
buộc cả giới chủ và giới thợ phải đóng góp một khoản tiền nhất định hàng
tháng được tính toán chặt chẽ dựa trên cơ sở xác suất rủi ro xảy xa đối với
người làm thuê. Số tiền đóng góp của cả chủ và thợ hình thành một quỹ tiền tệ
tập trung trên phạm vi toàn quốc gia - được gọi là quỹ BHXH. Quỹ này còn
được bổ sung từ Ngân sách Nhà nước khi cần thiết nhằm đảm bảo đời sống
cho NLĐ khi gặp phải những biến cố bất lợi. Chính nhờ những mối quan hệ
ràng buộc đó mà rủi ro, bất lợi của NLĐ được dàn trải, cuộc sống của NLĐ và
gia đình họ ngày càng được đảm bảo ổn định. Giới chủ cũng thấy mình có lợi
và được bảo vệ, sản xuất kinh doanh diễn ra bình thường, tránh được những
xáo trộn không cần thiết. Vì vậy, nguồn quỹ tiền tệ tập trung được thiết lập
ngày càng lớn và nhanh chóng, khả năng giải quyết các phát sinh lớn của quỹ
ngày càng đảm bảo.

động, tuổi già...trên cơ sở những cam kết đóng góp của NLĐ và NSDLĐ cho
một bên thứ ba là cơ quan bảo hiểm trước khi xảy ra những biến có đó.
Vì vậy, dưới góc độ kinh tế: BHXH là phạm trù kinh tế tổng hợp, là sự
bảo đảm thu nhập nhằm bảo đảm cuộc sống cho NLĐ khi bị giảm hoặc mất
8


khả năng lao động.
Dưới góc độ pháp lý, chế độ BHXH là tổng hợp những quy định của Nhà
nước, quy định những hình thức đảm bảo điều kiện vật chất và tinh thần cho
NLĐ và trong một số trường hợp là thành viên gia đình họ khi bị giảm hoặc
mất khả năng lao động.
Hiện nay, Khoản 2 Điều 3 Luật BHXH 2014 định nghĩa về BHXH như
sau: “Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập
của NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao
động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ
bảo hiểm xã hội”.
Ở nước ta hiện nay thực hiện một số chế độ BHXH sau:
- Chế độ bảo hiểm ốm đau;
- Chế độ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp;
- Chế độ bảo hiểm thai sản;
- Chế độ bảo hiểm hưu trí;
- Chế độ bảo hiểm thất nghiệp;
- Chế độ tử tuất;
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, luận văn chỉ nghiên cứu chế độ
bảo hiểm thai sản trong hệ thống các chế độ của BHXH.
1.1.2. Chế độ bảo hiểm thai sản
1.1.2.1. Cơ sở và quá trình hình thành chế độ bảo hiểm thai sản
BHXH và bảo hiểm y tế là hai chính sách xã hội quan trọng, là trụ cột
chính của hệ thống an sinh xã hội, góp phần thực hiện tiến bộ và công bằng xã

trong thời gian đầu này chế độ bảo hiểm thai sản chưa được thiết lập, hệ thống
chế độ của BHXH chưa được quy định cụ thể trong luật mà mới chỉ là những
quỹ để giúp đỡ lẫn nhau giữa những NLĐ: quỹ ốm đau, quỹ tai nạn lao động
bệnh nghề nghiệp.
10


Năm 1883, nước Phổ đã ban hành luật bảo hiểm ốm đau đầu tiên trên thế
giới, đánh dấu sự ra đời của BHXH. BHXH đã trở thành một trong những
quyền của con người và được xã hội thừa nhận. Tuyên ngôn nhân quyền của
Liên Hợp Quốc (10/12/1948) đã ghi nhận: “Tất cả mọi người với tư cách là
thành viên của xã hội có quyền hưởng BHXH”. Ngày 04/6/1952, Tổ chức Lao
động Quốc tế (ILO) đã kí Côngước Giơnevơ (102) về “cho NLĐ” đã khẳng
định tất yếu các nước phải thực hiện BHXH cho NLĐ và gia đình họ. Theo
Công ước 102 tháng 6 năm 1952 tại Giơnevơ của ILO phạm vi của BHXH là
trợ cấp cho 9 chế độ sau:
- Chăm sóc y tế;
- Trợ cấp ốm đau;
- Trợ cấp thất nghiệp;
- Trợ cấp tuổi già;
- Trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp;
- Trợ cấp gia đình;
- Trợ cấp thai sản;
- Trợ cấp khi tàn phế;
- Trợ cấp cho người còn sống (trợ cấp mất người nuôi dưỡng);
Như vậy, chế độ bảo hiểm thai sản đã được ghi nhận tại văn bản luật cụ
thể tạo tiền đề cho việc xây dựng chế độ này trong pháp luật của các quốc gia
khi xây dựng hệ thống BHXH. Chế độ bảo hiểm thai sản đã được ILO ghi
nhận ngay tại kỳ họp đầu tiên và trong suốt quá trình hoạt động thể hiện qua
các Công ước, khuyến nghị như: Công ước số 3 năm 1919, Công ước 102 và

pháp tránh thai, nạo hút thai, thai chết lưu, sinh con, khi nhận nuôi con sơ
sinh. Bảo hiểm thai sản do quỹ bảo hiểm ốm đau và thai sản chi trả.
Chế độ bảo hiểm thai sản có vị trí quan trọng đối với NLĐ nói chung
nhằm động viên, khuyến khích và hỗ trợ khi có sự kiện thai sản tạo sự ổn định
12


công việc sau khi nghỉ thai sản, tâm lý NLĐ ổn định giúp tạo nên lòng tin của
NLĐ đối với NSDLĐ và đối với nhà nước. Và có vai trò đặc biệt quan trọng
đối với lao động nữ nói riêng, lao động nữ ngày nay đã tự lao động để đảm
bảo cuộc sống và cống hiến cho xã hội qua đó họ ngày càng khẳng định được
vị trí quan trọng của bản thân trong xã hội, họ đã có mặt trong hầu hết các
ngành nghề và đã thể hiện một cách xuất sắc năng lực của mình. Khác với
nam giới họ còn có nhiệm vụ quan trọng là tái sản xuất con người, do đó khi
mang thai và sinh con là giai đoạn khó khăn nhất của họ nên họ cần được sự
quan tâm ngược lại từ phía xã hội. Đó chính là khoản tiền trợ cấp phù hợp với
công sức mà họ đã đóng góp trong suốt quá trình lao động.
Theo quy định của pháp luật về BHXH, có thể hiểu chế độ bảo hiểm thai
sản là một trong các chế độ của BHXH, bao gồm các quy định của Nhà nước
nhằm bảo đảm thu nhập và bảo đảm sức khỏe cho lao động nữ khi mang thai,
nuôi con và cho NLĐ nói chung khi nhận nuôi con nuôi sơ sinh. Mục đích của
chế độ thai sản là bảo đảm thu nhập và ổn định cuộc sống đối với NLĐ nói
chung và NLĐ nữ nói riêng khi mang thai, sinh đẻ hoặc nuôi con trong một
thời gian ngắn. Nó có vị trí quan trọng đối với NLĐ, nhằm hỗ trợ NLĐ khi họ
trả qua quá trình thai sản hoặc nuôi con nuôi sơ sinh.
Như vậy, chế độ thai sản là một chế độ mang tính xã hội hoá cao, nó
được thực hiện thường xuyên và đều đặn, kế tiếp từ thế hệ này sang thế hệ
khác. Nói cách khác, nó diễn ra một cách liên tục vì sự sống luôn phát triển vì
vậy, nó tạo ra sự ràng buộc và đoàn kết giữa các thế hệ, làm cho mọi người
trong xã hội quan tâm và gắn bó với nhau hơn, thể hiện mối quan tâm sâu sắc

đích của chế độ bảo hiểm ốm đau là nhằm bảo đảm thu nhập cho NLĐ tham
gia BHXH tạm thời gián đoạn do nghỉ việc vì ốm đau, tai nạn, chăm sóc con
ốm. Nhờ có trợ cấp ốm đau mà bản thân và gia đình họ được hỗ trợ một phần
kinh phí chữa trị bệnh tật, duy trì cuộc sống, giúp NLĐ nhanh tróng quay trở
14


lại làm việc, ổn định thu nhập, ổn định cuộc sống. Hay mục đích của chế độ
bảo hiểm tai nạn lao động là nhằm bù đắp một phần thu nhập khi NLĐ bị
giảm hoặc mất khả năng lao động do bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
Còn mục đích của chế độ bảo hiểm thai sản đó là bù đắp một phần chi phí
tăng lên trong quá trình thai nghén, sinh con, nuôi con sơ sinh, thực hiện việc
biện pháp tránh thai, bảo hiểm thai sản nhằm giữ căn bằng về thu nhập, tạo sự
bình ổn về vật chất, bảo vệ sức khỏe cho NLĐ và trẻ sơ sinh góp phần phát
triển bền vứng về dân số, chất lượng lao động của thế hệ tương lai của đất
nước. Chính điều này đã tạo nên sự khác biệt về mục đích bảo vệ của chế độ
bảo hiểm thai sản so với các chế độ BHXH khác.
1.1.3 Vai trò của chế độ bảo hiểm thai sản
Trong hệ thống các chế độ BHXH có thể nói chế độ thai sản là một trong
những chế độ quan trọng và được thực hiện sớm nhất. Các quốc gia quy định
về đối tượng hưởng, thời gian nghỉ thai sản, mức hưởng chế độ thai sản là
khác nhau. Ở Thụy Điển, cha mẹ được nghỉ thai sản như nhau. Ở Bulgaria,
thời gian nghỉ thai sản áp dụng cho cả cha và mẹ, ngoài ra ông bà còn có thể
xin phép nghỉ thay cho mẹ để chăm sóc cháu [49. Tr 3]. Dù quy định khác
nhau nhưng pháp luật các nước giống nhau về mục đích hướng tới của chế độ
bảo hiểm thai sản. Đó là việc thông qua việc bù đắp một phần chi phí tăng lên
trong quá trình thai nghén, sinh con, nuôi con sơ sinh, thực hiện các biện pháp
tránh thai, bảo hiểm thai sản nhằm giữ cân bằng về thu nhập, tạo sự bình ổn
về mặt vật chất, bảo vệ sức khỏe cho NLĐ và trẻ sơ sinh. Từ mục đích trên,
có thể thấy chế độ bảo hiểm thai sản có ý nghĩa rất lớn đối với bản thân NLĐ

sở tiền lương, tiền công của NLĐ; quỹ bảo hiểm xã hội được quản lý thống
nhất, dân chủ, công khai, minh bạch, được sử dụng đúng mục đích, được hạch
toán độc lập theo các quỹ thành phần của BHXH bắt buộc.
Bên cạnh những nguyên tắc chung của BHXH thì chế độ bảo hiểm thai
16


sản phải tuân theo một nguyên tắc đặc thù đó là: người hưởng chế độ thai sản
được quỹ bảo hiểm xã hội đóng thay phí bảo hiểm trong thời gian nghỉ việc
hưởng bảo hiểm thai sản. Người lao động khi có sự kiện thai sản nếu có tham
gia bảo hiểm xã hội đáp ứng yêu cầu quy định của pháp luật thì được nghỉ
việc hưởng chế độ bảo hiểm thai sản. Người lao động trong trường hợp này sẽ
được nghỉ việc với một thời gian nhất định, được trợ cấp bằng tiền cho những
ngày nghỉ thai sản đó. Bên cạnh đó, do thu nhập của người lao động bị giảm
đi, chi phí sinh hoạt tăng lên do có sự kiện thai sản nên NLĐ nghỉ việc hưởng
chế độ bảo hiểm thai sản còn được quỹ BHXH đóng thay phí bảo hiểm tương
ứng với thời gian nghỉ thai sản đó.
1.2. Điều chỉnh pháp luật đối với chế độ bảo hiểm thai sản
1.2.1. Khái niệm pháp luật về chế độ bảo hiểm thai sản
Chế độ bảo hiểm thai sản là một chế độ của BHXH, luôn là nội dung
quan trọng được pháp luật quốc tế và pháp luật các nước trên thế giới ghi
nhận và điều chỉnh. Tuy nhiên, do điều kiện kinh tế - xã hội của từng quốc gia
khác nhau nên việc quy định chế độ này ở các quốc gia có sự khác nhau.
ILO ghi nhận chế độ bảo hiểm thai sản là một trong ba chế độ BHXH
quan trọng. Cụ thể, Điều 2 Công ước 102 của ILO quy định:“mọi nước thành
viên chịu hiệu lực của Công ước này sẽ phải áp dụng: ít nhất là 3 phần trong
các phần II, III, IV, V, VI, VII, VIII, IX và X; bao gồm ít nhất là một trong các
phần IV, V, VI, IX và X”. Trong đó phần II quy định về chế độ chăm sóc y tế,
phần III quy định về chế độ trợ cấp ốm đau, phần IV quy định về chế độ trợ
cấp thất nghiệp, phần V quy định về chế độ trợ cấp tuổi già, phần VI quy định

- Về đối tượng áp dụng chế độ bảo hiểm thai sản:
ILO đã thiết lập, xây dựng các chương trình liên quan đến chế độ BHXH
thai sản: Công ước số 03 năm 1919, Công ước số 102 và 103 năm 1952, Công
ước 118 năm 1958, Công ước 183 năm 2000. Trong các quy định này (đặc
18


biệt là Công ước 102 năm 1952) chế độ bảo hiểm thai sản được thiết kế với
quy phạm tối thiểu về điều kiện hưởng, mức hưởng về thời gian và các khoản
trợ cấp.
Theo Điều 43 Công ước 102 của ILO, đối tượng được bảo vệ bởi chế độ
thai sản bao gồm: mọi phụ nữ là lao động làm công ăn lương với số lượng
tham gia tối thiểu là 50% hoặc toàn bộ phụ nữ hoạt động kinh tế thường trú
trong nước với số lượng tham gia tối thiểu là 20%; hoặc toàn bộ dân cư
thường trú trong nước với số lượng tham gia tối thiểu là 50%. Đối với các
quốc gia có nền kinh tế và phương tiện y tế chưa phát triển đủ mức và có bản
tuyên bố được phê chuẩn việc thực hiện chưa đầy đủ các khuyến cáo theo
Công ước 102 thì diện bảo vệ bao gồm những NLĐ làm công ăn lương nhưng
tối thiểu là 50% số người làm việc trong các cơ sở công nghiệp sử dụng ít
nhất 20 lao động [52. Điều 43].
Ở hầu hết các quốc gia đối tượng bảo vệ của chế độ bảo hiểm thai sản là
những người trong độ tuổi lao động có tham gia BHXH khi đáp ứng đủ điều
kiện được hưởng chế độ bảo hiểm thai sản của quốc gia đó.
- Về điều kiện hưởng chế độ bảo hiểm thai sản:
Điều 47 Công ước số 102 của ILO quy định: “Trường hợp bảo vệ bao
gồm thai nghén, sinh đẻ và những hậu quả tiếp theo, và sự gián đoạn thu
nhập nảy sinh như pháp luật của quốc gia quy định”.
Đồng thời, để tránh lạm dụng chế độ trợ cấp thai sản, có thể bổ sung quy
định về điều kiện hưởng trợ cấp thai sản là phải có một khoảng thời gian tham
gia BHXH tối thiểu, gọi là thâm niên BHXH. Thời gian này được quy định


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status