Hiệu quả của một số chính sách hỗ trợ cho phụ nữ nông thôn phát triển kinh tế ở xã duy phước - Pdf 43

Lời nói đầu
Trong lịch sử loài người từ trước đến nay, phụ nữ bao giờ cũng là một bộ
phận quan trọng trong đội ngũ đông đảo những người lao động trong xã hội. Bằng
lao động sáng tạo của mình, phụ nữ đã góp phần làm giàu cho xã hội, làm phong
phú cuộc sống con người. Phụ nữ luôn thể hiện vai trò không thể thiếu của mình
trong các lĩnh vực đời sống xã hội. Trong lĩnh vực hoạt động vật chất, phụ nữ là
một lực lượng trực tiếp sản xuất ra của cải để nuôi sống con người. Không chỉ tái
sản xuất ra của cải vật chất, phụ nữ còn tái sản xuất ra bản thân con người để duy
trì và phát triển xã hội. Trong lĩnh vực hoạt động tinh thần, phụ nữ có vai trò sáng
tạo nền văn hoá nhân loại. Nền văn hóa dân gian của bất cứ nước nào, dân tộc nào
cũng có sự tham gia bằng nhiều hình thức của đông đảo phụ nữ. Song song với
những hoạt động góp phần sáng tạo ra mọi của cải vật chất và tinh thần, phụ nữ
còn tích cực tham gia đấu tranh giai cấp, đấu tranh giải phóng dân tộc, vì sự tiến bộ
của nhân loại. Đó là vai trò của người phụ nữ nói chung trên toàn thế giới và ngay
tại Việt Nam vai trò của người phụ nữ cũng rất quan trọng. Phụ nữ và trẻ em gái
Việt Nam tham gia tích cực vào việc giảm nghèo và phát triển gia đình, cộng đồng
và đất nước. Từ xưa đến nay, dù ở vị trí nào người phụ nữ cũng luôn có những vai
trò đặc biệt quan trọng. Trong gia đình, họ là người mẹ, người vợ đảm đang; ngoài
xã hội họ là người giỏi dang, tháo vát. Thực tế cho thấy, có không ít những phụ nữ
thành đạt trong cuộc sống, trong số đó có một bộ phận không nhỏ những phụ nữ
nắm giữ những vị trí quan trọng trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa - xã
hội… Tuy nhiên, với “thiên chức” làm mẹ, người phụ nữ phải mất khá nhiều thời
gian cho việc sinh con và nuôi dạy con. Bên cạnh đó, họ còn phải gánh vác các
công việc nội trợ của gia đình, chính vì thế thời gian để họ tiếp cận cơ hội phát
triển còn hạn chế. Hiện nay, với xu thế toàn cầu hóa, Việt Nam đang đứng trước cơ
1


hội hội nhập và phát triển nhưng điều đó cũng đặt ra nhiều thách thức. Những rủi
ro của cơ chế kinh tế thị trường có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của đại bộ phận
nhân dân. Trong đó, phụ nữ là bộ phận chịu ảnh hưởng nhiều nhất, đặt biệt là phụ

những người có đóng góp chính vào năng suất chủ yếu của cộng đồng, nhất là
trong nông nghiệp, nhưng những đóng góp của họ không được tính đến trong
thống kê quốc dân cũng như trong kế hoạch hoá và thực hiện các dự án phát triển.
Cuốn sách của E. Boserup đã được coi là lần đầu tiên đặt lại vấn đề trong cách
đánh giá về vai trò của phụ nữ, qua cuốn sách của mình, bà đã chứng minh vai trò
kinh tế của phụ nữ thông qua nghiên cứu phụ nữ nông dân vùng Tây Sahara, châu
Phi. Một điều mà trước đây, các nhà tạo lập chính sách và trong giới nghiên cứu kể
cả những nhà khoa học nữ đã không thấy hết và do vậy không công nhận một cách
đúng đắn vai trò kinh tế rất quan trọng của phụ nữ.
Ở Việt Nam, công trình nghiên cứu về phụ nữ đầu tiên xuất bản được phát
hành rộng rãi và dịch ra nhiều thứ tiếng là cuốn “Phụ nữ Việt Nam qua các thời
đại” của Lê Thị Nhâm Tuyết (1973, 1975). Trong cuốn sách, tác giả đã phân tích
những nét cơ bản về các truyền thống của phụ nữ Việt Nam trong mọi lĩnh vực đời
sống xã hội. Đặc biệt về vai trò truyền thống của phụ nữ Việt Nam trong sản xuất
nông nghiệp. Cuốn sách đã trình bày nhiều tư liệu có giá trị khoa học, gây tiếng
vang trong giới nghiên cứu. Sau gần một phần tư thế kỷ, tác giả cuốn sách “Phụ nữ
Việt Nam qua các thời đại” lại cho xuất bản cuốn “Hình ảnh Phụ nữ Việt Nam
trước thềm thế kỷ XXI”. Như lời giới thiệu cuốn sách của GS. Vũ Khiêu: Cuốn
sách này đã thu thập những ý kiến khác nhau xung quanh những vấn đề lớn của
người phụ nữ Việt Nam và đặc biệt là giới thiệu các kết quả thu được qua các cuộc
điều tra khoa học. Cuốn sách tập trung vào những đặc trưng của người phụ nữ Việt
Nam trong lịch sử, trong lao động nghề nghiệp, trong gia đình, trong quản lý xã
hội.
Từ sau đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, có nhiều cuốn sách xuất bản với
nội dung đề cập đến vấn đề phụ nữ với phát triển kinh tế hoặc bàn về phụ nữ với
phát triển nông nghiệp, nông thôn. Để tiện theo dõi, chúng tôi chia theo một số chủ
đề như sau: Phụ nữ và phân công lao động theo giới: Phân công lao động theo giới
3



trong chính sách xã hội là “cái xã hội” theo nghĩa hẹp. Nó đang được nhiều nhà
4


nghiên cứu thống nhất hiểu như mối quan hệ của con người, của các cộng đồng
người thể hiện trên nhiều mặt của đời sống xã hội từ chính trị, kinh tế, văn hóa, tư
tưởng.
Đứng trên nhiều góc độ khác nhau, nhiều nhà nghiên cứu có sự nhìn nhận
khác nhau về chính sách xã hội, cụ thể như sau:
+ Chính sách xã hội là công cụ quan trọng của Đảng và Nhà nước để thực
hiện và điều chỉnh những vấn đề xã hội đang được đặt ra đối với con người (con
người ở đây được xét theo góc độ con người xã hội, chứ không phải là con người
kinh tế, hay con người kỹ thuật…) để thỏa mãn hoặc phần nào đáp ứng các nhu cầu
cuộc sống chính đáng của con người, phù hợp với các đối tượng khác nhau, trong
những trình độ kinh tế, văn hóa, xã hội của các thời kỳ nhất định, nhằm bảo đảm sự
ổn định và phát triển của xã hội…( Phạm Tất Dong - Chính sách xã hội)
+ “Hiểu theo ý nghĩa khái quát nhất, chính sách xã hội là hệ thống các quan
điểm, cơ chế, giải pháp và biện pháp mà Đảng cầm quyền và Nhà nước đề ra tổ
chức thực hiện trong thực tiễn đời sống nhằm kiểm soát, điều tiết và giải quyết các
vấn đề xã hội đặt ra trước xã hội” (PGS.TS Phạm Hữu Nghị).
+ Chính sách xã hội là loại chính sách được thể chế bằng pháp luật của Nhà
Nước thành một hệ thống quan điểm, chủ trương, phương hướng và biện pháp để
giải quyết những vấn đề xã hội nhất định, trước hết là những vấn đề xã hội liên
quan đến công bằng xã hội và phát triển an sinh xã hội, nhằm góp phần ổn định,
phát triển và tiến bộ xã hội. (PGS.TS.Lê Trung Nguyệt).
+ Chính sách xã hội trước hết là một khoa học, chính sách xã hội phải là
thành tựu của những sự nghiên cứu nghiêm túc của khoa học xã hội, trả lời những
câu hỏi của cuộc sống, ở dạng hoạt động thực tiễn của đặc thù này. Chính sách xã
hội cần được xem xét như một lĩnh vực khoa học đặc thù, bám chắc vào sự vận
5

Hiệu quả của chính sách xã hội là ổn định xã hội, nâng cao chất lượng cuộc
sống, bảo đảm công bằng xã hội. Để thực hiện chính sách xã hội đạt đúng các mục
tiêu, đối tượng và hiệu quả phải có những điều kiện đảm bảo ở mức cần thiết để
chính sách đi vào cuộc sống. Chính sách xã hội phải được kế hoạch hóa bằng các
chương trình, dự án có mục tiêu, hình thành các quỹ xã hội, phát triển hệ thống sự
nghiệp hoặc dịch vụ xã hội, tăng cường lực lượng cán sự xã hội. Chính sách xã hội
còn có đặt trưng quan trọng là tính kế thừa lịch sử.
Ở Việt Nam, một chính sách xã hội đi vào được lòng người, sát với dân là một
chính sách mang bản sắc dân tộc Việt Nam, kế thừa và phát huy được tryền thống
đạo đức, nhân văn sâu sắc của dân tộc ta. Đặc biệt là lòng yêu nước, cần cù chịu
khó, tính cộng đồng cao, đùm bọc lẫn nhau, uống nước nhớ nguồn…
6


- Phân loại chính sách xã hội:
Có thể phân chia chính sách xã hội theo những cách khác nhau, về cơ bản có
hai loại như sau:
* Hệ thống các chính sách tác động vào các nhóm xã hội đặt thù:
• Theo tuổi tác: có chính sách xã hội với người già, trẻ em, thanh niên;
• Theo giới tính: có chính sách đối với phụ nữ;
• Theo nghề nghiệp: có chính sách đối với thợ mỏ, giáo viên, công nhân, thợ thủ
công…
• Theo sắc tộc: có chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số, người Việt Nam
định cư ở nước ngoài;
• Theo tôn giáo: có chính sách đối với đồng bào theo đạo Thiên chúa, Tin lành,
Phật giáo, Cao đài, Hòa hảo…
• Theo trình độ học vấn: có chính sách xã hội đối với những người có trình độ học
vấn cao, những tài năng khoa học và những người còn đang ở trình độ học vấn
thấp.
* Hệ thống chính sách xã hội tác động vào quá trình sản xuất và tái sản xuất:

công viên, các tổ hợp văn hóa thể thao, nhà trẻ, mẫu giáo, các nhà an dưỡng…).
• Chính sách bảo hiểm xã hội: nhằm đảm bảo sự công bằng thu nhập cho người lao
động và gia đình họ trong các trường hợp người lao động bị đau ốm, thai sản, hết
tuổi lao động, bị chết hoặc bị tai nạn lao động, bị bệnh nghề nghiệp, mất việc làm,
gặp rủi ro hoặc các khó khăn khác. Ví dụ bảo hiểm lao động, bảo hiểm nghề
nghiệp; bảo hiểm kinh doanh; bảo hiểm y tế; bảo hiểm tài sản và phương tiện…
• Chính sách ưu đãi xã hội đối với người có công: là truyền thống và đạo lý “ uống
nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam.
• Chính sách cứu trợ xã hội: hướng vào việc trợ giúp những người gặp phải rủi ro,
bất hạnh, thiệt thòi trong cuộc sống, đặc biệt là người già cô đơn, trẻ mồ côi, người
khuyết tật, người bị bệnh tâm thần, người gặp phải thiên tai bất trắc. Mục đích của
chính sách này là giúp họ khôi phục sản xuất, ổn định đời sống, giữ được mức sinh
hoạt tối thiểu cần thiết để vượt qua những khó khăn.
8


• Chính sách giáo dục: Giáo dục là ngành đặc biệt cung cấp nguồn nhân lực cho sự
phát triển kinh tế xã hội, nhất là trong giai đoạn cách mạng khoa học công nghệ
hiện nay. Vì vậy, chính sách xã hội không thể không ưu tiên cho giáo dục. Chính
sách đầu tư phát triển giáo dục (xây dựng trường sở, phòng nghiên cứu, thí
nghiệm…); chính sách tiền lương cho giáo viên, cấp học bổng cho sinh viên, học
sinh tài năng, trợ giúp học sinh nghèo vượt khó, chính sách giáo dục miền núi,…
3. Một số chính sách hỗ trợ phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế:
Hiện nay, quá trình Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa đang được tiến hành
trên cả nước không những trong lĩnh vực công nghiệp mà cả trong lĩnh vực nông
nghiệp, từ thành thị đến nông thôn. Nhằm thực hiện đồng bộ quá trình này, Đảng
và Nhà nước ta đã có nhiều chính sách hỗ trợ cho nông dân nói chung cũng như
cho phụ nữ nông thôn phát triển kinh tế nói riêng.Trong phạm vi bài luận này, tôi
tìm hiểu một số chính sách có tác động lớn nhất đến phụ nữ nông thôn trong phát
triển kinh tế.

nghề.
Trong đề án “Hỗ trợ phụ nữ học nghề, tạo việc làm giai đoạn 2010-2015" (số
295/QĐ-TTg, ngày 26/2/2010). Theo đó, lao động nữ sẽ được hỗ trợ chi phí học
nghề ngắn hạn với mức tối đa 3 triệu đồng/người/khóa và được vay vốn để tự tạo
việc làm nhằm tăng tỷ lệ lao động nữ được đào tạo nghề, tìm kiếm việc làm có thu
nhập ổn định, giúp xóa đói, giảm nghèo và nâng cao vị thế cho phụ nữ, đặc biệt
phụ nữ khu vực nông thôn. Đề án đặt ra mục tiêu đến năm 2015, trên 70% lao động
nữ được tuyên truyền, phổ biến các chủ trương của Đảng, pháp luật, chính sách của
Nhà nước về dạy nghề và việc làm; tỷ lệ lao động nữ trong tổng số chỉ tiêu tuyển
10


sinh học nghề đạt 40%, trong đó tăng nhanh tỷ lệ lao động nữ được đào tạo trung
cấp nghề, cao đẳng nghề; tỷ lệ lao động nữ có việc làm sau khi học nghề tối thiểu
đạt 70%.
Các cơ sở dạy nghề, giới thiệu việc làm thuộc Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt
Nam và các cấp Hội phụ nữ thực hiện tư vấn học nghề, giới thiệu việc làm và tạo
việc làm cho khoảng 100.000 phụ nữ hàng năm, trong đó khoảng 50.000 lao động
nữ được đào tạo nghề.
Đối tượng được hỗ trợ học nghề, tạo việc làm là lao động nữ trong độ tuổi
lao động, ưu tiên dạy nghề cho các đối tượng là người thuộc diện hưởng chính sách
ưu đãi, người có công với cách mạng, hộ nghèo, hộ có thu nhập tối đa bằng 150%
thu nhập của hộ nghèo, người dân tộc thiểu số, người tàn tật, người trong diện thu
hồi đất canh tác, phụ nữ bị mất việc làm trong các doanh nghiệp.
Lao động nữ thuộc diện được hưởng chính sách ưu đãi, người có công với
cách mạng, hộ nghèo, người dân tộc thiểu số, người tàn tật, người bị thu hồi đất
canh tác, lao động nữ bị mất việc làm trong các doanh nghiệp được hỗ trợ chi phí
học nghề ngắn hạn (trình độ sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng) với mức tối đa
3 triệu đồng/người/khóa học (mức hỗ trợ cụ thể theo từng nghề và thời gian học
nghề thực tế). Ngoài hỗ trợ chi phí học, các đối tượng này còn được hỗ trợ tiền ăn

xác định rõ Ðảng, Nhà nước ta luôn quan tâm lãnh đạo công tác phụ nữ và thực
hiện mục tiêu bình đẳng giới. Trong thời kỳ đổi mới, chủ trương của Ðảng về công
tác phụ nữ và bình đẳng giới được thể hiện xuyên suốt trong Nghị quyết Ðại hội
Ðảng, các nghị quyết và chỉ thị của Trung ương Ðảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về
công tác quần chúng, công tác vận động phụ nữ, công tác cán bộ nữ. Nhà nước đã
12


ban hành nhiều chính sách cụ thể nhằm tạo điều kiện để phụ nữ phát triển và thúc
đẩy bình đẳng giới.
Nghị quyết thể hiện rõ, do trình độ học vấn, chuyên môn, nghề nghiệp còn
thấp, phụ nữ bị hạn chế hơn nam giới về cơ hội có việc làm và thu nhập. Trong
nhiều doanh nghiệp, trong các khu công nghiệp tập trung, việc làm của lao động nữ
thiếu ổn định, điều kiện lao động, điều kiện sống không được bảo đảm; chính sách
tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hộ lao động chưa được thực hiện đầy đủ. Số phụ
nữ nông thôn thiếu việc làm, di cư tự phát ra thành phố ngày càng tăng. Ở miền
núi, vùng sâu, vùng xa, tỷ lệ phụ nữ mù chữ, nghèo còn cao, còn bị ràng buộc bởi
phong tục, tập quán lạc hậu. Phụ nữ cao tuổi, phụ nữ đơn thân, phụ nữ tàn tật có
hoàn cảnh khó khăn chưa được quan tâm đúng mức.
Cơ chế thị trường và quá trình công nghiệp hóa một mặt có tác động tích
cực, nhưng mặt khác đã và đang làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội liên quan trực
tiếp tới phụ nữ. Phụ nữ gặp nhiều khó khăn, thách thức khi thực hiện vai trò người
mẹ, người thầy đầu tiên của con người trong điều kiện xã hội và gia đình Việt Nam
có nhiều thay đổi. Phẩm chất đạo đức và một số giá trị truyền thống tốt đẹp có
phần bị mai một, lối sống thực dụng có xu hướng phát triển trong một bộ phận phụ
nữ.
Trước những thách thức đó, Đảng và Nhà nước ta không ngừng quan tâm
sâu sát, ban hành một số chính sách đặc thù nhằm tạo điều kiện cho sự phát triển
của phụ nữ. Cụ thể là:
+ Chính sách hỗ trợ phụ nữ trong đào tạo, bồi dưỡng, tiếp cận thông tin, ứng

người sản xuất để tăng thu nhập, thoát đói nghèo, làm giàu thông qua các hoạt
14


động đào tạo nông dân về kiến thức, kỹ năng và các hoạt động cung ứng dịch vụ để
hỗ trợ nông dân sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao, thích ứng các điều kiện sinh
thái, khí hậu và thị trường. Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo
hướng phát triển sản xuất hàng hóa, nâng cao năng suất, chất lượng, an toàn vệ
sinh thực phẩm đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu; thúc đẩy tiến trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, xây dựng nông thôn mới, bảo
đảm an ninh lương thực quốc gia, ổn định kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường. Huy
động nguồn lực từ các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài tham gia khuyến
nông.
III. Vai trò phụ nữ lao động trong phát triển kinh tế nông thôn:
Việt Nam là một nước nông nghiệp với 76,5% dân số sống ở nông thôn. Vì
vậy, trong quá trình phát triển đất nước thì phát triển nông nghiệp, nông thôn là
một nhiệm vụ rất quan trọng. Để có thể thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đó, bên cạnh
các chủ trương, chính sách xã hội phù hợp, cần có những nguồn lực hỗ trợ cho quá
trình thực hiện công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn như tài chính, kỹ thuật công nghệ... Đặc biệt phải kể đến một nguồn lực quan trọng, đó là nguồn nhân lực,
chủ thể của quá trình công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn. Nói đến chủ thể
của quá trình này, không thể không nhấn mạnh đến nguồn nhân lực nữ ở nông
thôn.
Phụ nữ nông thôn có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển nông
nghiệp, nông thôn trong quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa đất nước. Là một lực
lượng chủ yếu trong nông nghiệp và chiếm đông đảo trong nguồn nhân lực của đất
nước, nhưng phụ nữ nông thôn còn gặp nhiều khó khăn so với nam giới nông thôn
và phụ nữ đô thị. Theo số liệu từ Tổng điều tra dân số năm 2009, phụ nữ chiếm
50,5% số người hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp (năm 1989 tỷ lệ này là
15


I.
1.

Chính sách vay vốn
Chính sách dạy nghề, hỗ trợ giải quyết việc làm
Chính sách hỗ trợ trong đào tạo, bồi dưỡng, tiếp cận thông tin, ứng

dụng tiến bộ khoa học – kỹ thật, công nghệ mới
• Chính sách khuyến nông - lâm – ngư
Thực trạng thực hiện chính sách:
Cách thức tổ chức thực hiện chính sách:
Để thực hiện được những chính sách trên, Uỷ Ban Nhân Dân xã Duy

Phước , Hội Liên hiệp phụ nữ xã Duy Phước đã phối hợp với Hội Phụ nữ
của từng thôn trong địa bàn xã, áp dụng những cách thức sau:
• Thực hiện chương trình cho phụ nữ vay vốn hộ nghèo, vốn giải quyết





việc làm theo điều kiện của Nhà nước.
Thực hiện kế hoạch xây dựng “ sổ tiết kiệm”
Thực hiện chương trình phụ nữ giúp nhau làm kinh tế
Mở lớp đào tạo nghề ngắn hạn cho phụ nữ.
Mở lớp tập huấn chuyển giao khoa học kĩ thuật cho phụ nữ.
Tất cả các chương trình trên đều được thực hiện đồng bộ ở các thôn

thuộc địa bàn xã. Áp dụng đối với tất cả phụ nữ có nguyện vọng và đủ yêu
cầu trên địa bàn xã.

- Qua thực tế tôi tìm hiểu được cho thấy trình độ của phụ nữ địa phương còn
thấp, có đến 77% có trình độ từ tiểu học trở xuống. Đó là một trở ngại lớn của quá
trình tiếp cận chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong hỗ trợ cho họ.
Mặt khác, do đời sống của phụ nữ còn khó khăn, tập quán canh tác theo kinh
nghiệm truyền thống ít nhiều tác động đến tư duy, lối nghĩ, cách làm của phụ nữ.
Công việc của họ gắn liền với đồng ruộng, mảnh vườn ít va chạm xã hội chính vì
thế khoảng cách giữa họ với chính sách là khá lớn, họ thiếu tính chủ động trong
việc tham gia và thực hiện các chính sách, chưa nắm bắt kịp thời những thời cơ
thuận lợi để phát triển kinh tế cho mình.
- Các chính sách thường triển khai một chiều, vai trò của phụ nữ chưa được
đánh giá đúng. Thời điểm triển khai chính sách nhiều lúc không phù hợp với nhu
cầu của phụ nữ. Một số chính sách còn có những yêu cầu mà không phải phụ nữ
cũng đáp ứng được. Chẳng hạn như việc vay vốn, tuy đã khá thông thoáng song
vẫn còn nhiều trở ngại đối với phụ nữ, nhất là phụ nữ nghèo, cô đơn. Họ rất khó
được tiếp cận các nguồn vốn, với họ nó khá phức tạp, rườm rà và họ không có điều
kiện để thế chấp.
Ngoài ra, mặc dù phụ nữ đảm nhận đa phần các công việc liên quan đến sản
xuất nông nghiệp, nhưng họ lại ít có cơ hội tham gia các lớp tập huấn chuyển giao
kiến thức, khoa học kỹ thuật. Theo kết quả mà tôi được cung cấp, chỉ có khoảng
13% phụ nữ được tham gia tập huấn về trồng trọt, chăn nuôi song con số đó lại chủ
yếu tập trung vào những phụ nữ làm công tác Hội.
3. Hiệu quả và hạn chế của việc triển khai thực hiện một số chính sách
3.1. Hiệu quả
19


Trong những năm qua, được sự quan tâm của chính quyền các cấp, Hội liên
hiệp phụ nữ (LHPN) xã Duy Phước đã triển khai thực hiện một số chính sách hỗ
trợ cho phụ nữ địa phương phát triển kinh tế. Theo báo cáo hàng năm của Hội
LHPN xã, kết quả từ các chương trình tín dụng cho thấy số phụ nữ được hỗ trợ,

đó có 49 hộ phụ nữ làm chủ hộ.
Với những kết quả đạt được như trên, nhiều phụ nữ đã có công ăn việc làm
tạo thu nhập, đời sống có nhiều chuyển biến, nhiều hộ phụ nữ nghèo đã vươn lên
thoát nghèo. Phụ nữ ngày càng tham gia nhiều vào các hoạt động xã hội và ngày
càng khẳng định vị trí của mình trong sự phát triển chung của địa phương.
3.2. Hạn chế
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được thì nhìn chung việc thực hiện
các chính sách nêu trên vẫn còn có những hạn chế nhất định:
- Về hiệu quả của các chính sách hỗ trợ: Chính sách đã được triển khai từ
lâu, tuy nhiên cho đến thời điểm hiện nay vẫn có một bộ phận phụ nữ trong xã
chưa biết về các chính sách này. Đời sống của phụ nữ địa phương đã có những
chuyển biến rõ rệt nhưng còn ở mức khá thấp. Một bộ phận phụ nữ được hưởng
chính sách nhưng khai thác chưa hiệu quả. Việc cung cấp chính sách chưa có sự
đồng bộ; có những phụ nữ được vay vốn nhưng thiếu phương pháp, kỹ thuật sản
xuất dẫn đến hiệu quả từ đồng vốn mang lại thấp.
- Quy mô thực hiện chính sách: chính sách chưa dành cho tất cả các phụ nữ
có nhu cầu, chưa đáp ứng được mong mỏi của họ. Mặt khác, việc triển khai thực

21


hiện chính sách trong phạm vi còn hạn chế, chưa đồng bộ, chưa rộng khắp trên cả
địa phương nên một số phụ nữ nắm bắt chưa đầy đủ các chính sách.
- Kinh phí thực hiện các chính sách: một số chính sách mang tầm quy mô
nhưng kinh phí chưa tương xứng dẫn đến việc phân phối chưa đồng đều. Nguồn
vốn hỗ trợ cho phụ nữ còn thấp, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế của
của họ.
II. Nguyên nhân dẫn đến thực trạng:
1. Nguyên nhân hiệu quả:
- Trong suốt quá trình triển khai thực hiện chính sách, Hội Liên Hiệp phụ nữ

sách đã bộc lộ những hạn chế.
Tình hình thế giới và trong nước có nhiều biến động: khủng hoảng kinh tế;
biến đổi khí hậu; dịch bệnh ở cây trồng, vật nuôi xảy ra thường xuyên; giá cả vật
chất tăng cao … đã gây trở ngại không nhỏ tới việc triển khai và thực hiện các
chính sách.
Điều kiện tự nhiên của địa phương nghèo nàn, đất đai cằn cỗi, thiếu nguồn
nước tưới tiêu, đất nông nghiệp bị chia cắt nhỏ lẻ … hiệu quả khai thác từ chính
sách còn thấp.



Nguyên nhân chủ quan:

Sự quan tâm chưa kịp thời của chính quyền địa phương trong công tác thu
hút, huy đông nguồn lực phục vụ cho viêc thực hiện chính sách.
Năng lực, trình độ của một số cán bộ Hội địa phương còn chưa đáp ứng yêu
cầu chính sách đặt ra, chưa có nhiều sáng kiến, trong công việc còn thụ động, tinh
23


thần trách nhiệm chưa cao. Chế độ đãi ngộ cho phụ nữ tham gia công tác quản lý
Hội còn thấp và có nhiều bất cập, nhiều cán bộ Hội có điều kiện kinh tế còn khó
khăn nên phải lo cho kinh tế gia đình chưa có điều kiện chuyên tâm đầu tư cho việc
thực thi chính sách.
Trình độ của phụ nữ địa phương còn thấp, có đến 77% có trình độ từ tiểu
học trở xuống. Đó là một trở ngại lớn của quá trình tiếp cận chủ trương, chính sách
của Đảng và Nhà nước trong hỗ trợ cho họ.
Mặt khác, do đời sống của phụ nữ còn khó khăn, tập quán canh tác theo kinh
nghiệm truyền thống ít nhiều tác động đến tư duy, lối nghĩ, cách làm của phụ nữ.
Công việc của họ gắn liền với đồng ruộng, mảnh vườn ít va chạm xã hội chính vì

Thứ hai : Cần có sự phân công nhiệm vụ rõ ràng cho từng cấp, xây dựng hệ
thống khen thưởng – xử phạt nghiêm minh tránh tình trạng xấu xảy ra, thành lập bộ
phận giám sát trong đó có sự tham gia của người dân ( phụ nữ) trong quá trình triển
khai thực hiện chính sách.
Thứ ba: Để phụ nữ được hỗ trợ toàn diện về mọi mặt cần phải có nguồn kinh
phí rất lớn. Chính vì vậy, bên cạnh xây dựng cơ quan chuyên trách cần kết hợp xây
dựng một nguồn quỹ để sử dụng vào công tác hỗ trợ phụ nữ nông thôn. Nguồn
kinh phí này có thể huy động từ ngân sách nhà nước, các nguồn viện trợ từ các cá
nhân, tổ chức trong và ngoài nước.
2. Nhóm giải pháp từ chính quyền địa phương
Thứ nhất: Xây dựng cơ quan chuyên trách cấp vi mô ở xã Duy Phước để
tiến hành giúp phụ nữ giải quyết các vấn đề ngay tại địa phương. Cơ quan này cần
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status