LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới T.S
Nguyễn Thị Nga, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt
quá trình làm khóa luận. Cô đã mở ra cho em những vấn đề khoa học rất lý thú,
hướng em vào nghiên cứu các vấn đề hết sức thiết thực và vô cùng bổ ích, đồng
thời cô cũng tạo điều kiện cho em học tập và nghiên cứu. Em đã học hỏi được
rất nhiều ở cô trong phong cách làm việc cũng như phương pháp nghiên cứu
khoa học. Em luôn được cô cung cấp các tài liệu, các chỉ dẫn hết sức cần thiết
khi thưc hiện khóa luận.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo Khoa Tiểu học - Mầm
nonnhững người đã trực tiếp giảng dạy, trang bị cho em những kiến thức quý
báu trong thời gian học tập tại trường. Xin cảm ơn các thầy, cô giáo và các em
học sinh lớp 4 Trường Tiểu học số 1 Thượng Trạch đã tạo điều kiện giúp đỡ em
trong quá trình tìm hiểu thực tiễn dạy học tập đọc cho học sinh Tiểu học.
Xin gửi lời cảm ơn tới tập thể lớp k54 Đại học giáo dục Tiểu học, cũng như gia
đình, bạn bè những người luôn quan tâm, động viên và nhiệt tình giúp đỡ em để
hoàn thành khóa luận.
Qua đây, em xin bày tỏ lòng biết ơn đến quý thầy cô và tập thể lớp 4A
trường Tiểu học số 1 Thượng Trạch – Bố Trạch – Quảng Bình đã tạo điều kiện
và giúp đỡ em hoàn hành tốt phần thực nghiệm sư phạm.
Em xin chân thành cảm ơn!
Đồng Hới, tháng 4 năm 2016
Sinh viên thực hiện
Hoàng Thị Giang
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng
2.3. Đổi mới các hình thức tổ chức dạy học để phát triển kỹ năng dùng từ cho học sinh.
.......................................................................................................................................30
2.4. Tăng cường các hoạt động ngoại khóa môn Tiếng Việt để phát triển kỹ năng dùng
từ cho học sinh. ..............................................................................................................34
CHƯƠNG III: THỰC NGHIỆM...................................................................................36
3.1. Những vấn đề chung. ..............................................................................................36
3.1.1. Một số yêu cầu của thiết kế. ................................................................................36
3.1.2. Cấu trúc của thiết kế. ...........................................................................................36
3.1.3. Mục đích thực nghiệm. ........................................................................................37
3.1.4. Đối tượng, thời gian và địa bàn thực nghiệm. .....................................................37
3.1.5. Cách thức thực nghiệm. .......................................................................................38
3.2. Nội dung, phương pháp thực nghiệm. ....................................................................38
iii
3.3. Thiết kế giáo án thực nghiệm sư phạm. .................................................................39
3.3.1. Thiết kế giáo án dành cho lớp đối chứng bài Luyện từ và câu “ Danh từ” ( Tiếng
Việt 4 – Tập 1) ...............................................................................................................40
3.3.2. Thiết kế giáo án dành cho lớp thực nghiệm bài Luyện từ và câu “ Tính từ”
(Tiếng Việt 4 – Tập 1) ...................................................................................................45
3.3.3. Thiết kế giáo án dành cho lớp đối chứng bài Luyện từ và câu: “ Danh từ” (Tiếng
Việt 4- Tập 1) ................................................................................................................49
3.3.4. Thiết kế giáo án dành cho lớp đối chứng bài Luyện từ và câu: “Tính từ” (Tiếng
Việt 4 – Tập 1) ...............................................................................................................52
3.4.1. Chỉ tiêu đánh giá. .................................................................................................57
3.4.2. Kết quả thực nghiệm. ..........................................................................................57
KẾT LUẬN ...................................................................................................................59
TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................................61
PHỤ LỤC
phát triển lời nói. Đó chính là công việc làm giàu vốn từ cho học sinh, giúp hoc
sinh mở rộng, phát triển vốn từ (phong phú hóa vốn từ), nắm nghĩa của từ (chính
xác hóa vốn từ), luyện tập sử dụng từ (tích cực hóa vốn từ). Bên cạnh đó, nhiệm
1
vụ của việc rèn luyện về câu ở Tiểu học nói chung là thông qua các hoạt động
thực hành giúp học sinh hệ thống lại những kiến thức sơ giản về ngữ pháp mà
các em đã được tích lũy trong vốn sống của mình, dần dần hình thành các quy
tắc dùng từ, đặt câu và tạo lập văn bản trong giao tiếp. Từ đó giúp học sinh nói
năng đúng chuẩn, phù hợp với mục đích và môi trường giao tiếp đồng thời góp
phần rèn luyện tư duy và giáo dục thẩm mỹ cho học sinh.
Vai trò của Từ trong hệ thống ngôn ngữ quy định tầm quan trọng của việc
dạy Từ ngữ ở tiểu học. Không có một vốn từ đầy đủ thì không thể nắm ngôn
ngữ như một phương tiện giao tiếp. Việc học Từ ở tiểu học sẽ tạo cho học sinh
năng lực từ ngữ, giúp học sinh nắm tiếng mẹ đẻ, tạo điều kiện để học tập và phát
triển toàn diện. Vốn từcủa học sinh càng giàu bao nhiêu thì khả năng lựa chọn từ
càng lớn, càng chính xác, sự trình bày tư tưởng, tình cảm càng rõ ràng, sâu sắc
bấy nhiêu. Vì vậy số lượng từ, tính đa dạng, tính năng động của từ được xem là
điều kiện quan trọng hàng đầu để phát triển ngôn ngữ. Cũng chính vì vậy, ở tiểu
học, từ ngữ không chỉ được dạy trong tất cả các phân môn Tiếng Việt mà nó còn
được dạy trong tất cả các tiết học của các môn khác như Toán, Tự nhiên xã
hội,…. Ở đâu có dạy nghĩa từ, dạy sử dụng từ, thì ở đó dạy Từ ngữ.
Việc đổi mới phương pháp dạy học, thay sách giáo khoa của môn học
Tiếng Việt hiện nay là một bước tiến quan trọng của nền giáo dục nước nhà
nhằm thực hiện mục tiêu hình thành và phát triển ở học sinh các kỹ năng sử
dụng Tiếng Việt (nghe, đọc, nói, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi
trường hoạt động của lứa tuổi. Thông qua dạy và học Tiếng Việt còn góp phần
rèn luyện cho các em các thao tác của tư duy, cung cấp cho học sinh những kiến
thức sơ giản về Tiếng Việt, về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hoá, văn
dùng từ đặt câu cho học sinh Tiểu học thông qua môn “Tiếng Việt” với nhiều
công trình. Trong phạm vi khóa luận này em đã tiếp cận những tài liệu và các
tác giả có liên quan:
“Vui học tiếng Việt” (Trần Mạnh Hưởng, NXB Giáo dục 2000). Tài liệu
này đề cập đến những kiến thức tiếng Việt cơ bản giúp HS luyện tập thành thạo
các kỹ năng “đọc, nghe, nói, viết”, các em sẽ suy nghĩ mạch lạc, diễn đạt trong
sáng, có khả năng làm chủ được tiếng nói và ngôn ngữ của dân tộc.
Bước sang những năm 90, lĩnh vực nghiên cứu cú pháp tiếng Việt sôi
động hẳn với việc công bố cuốn “Tiếng Việt- Sơ thảo ngữ pháp chức năng,
3
Quyển 1” của Cao Xuân Hạo. Sau khi cuốn sách ra đời, đã có nhiều cuộc thảo
luận được tổ chức xoay quanh chủ đề Ngữ pháp Chức năng và tiếng Việt. Phải
thừa nhận rằng, cuốn sách của Cao Xuân Hạo đã mang lại một luồng gió mới
cho cả nền ngôn ngữ học nước nhà và hiện nay, những vấn đề mà cuốn sách đặt
ra vẫn đang còn là thời sự.
Lê A, Thành Thị Yến Mỹ, Lê Phương Nga, Nguyễn Trí trong “phương
pháp dạy học Tiếng Việt” (NXB giáo dục, 2000) đã đưa ra phương pháp dạy
học Tiếng Việt cụ thể cho từng phân môn theo chương trình giáo dục cũ.
Đinh Thị Oanh, Vũ Thị Kim Dung, Phạm Thị Thanh với công trình
“Tiếng Việt và phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học” (NXB giáo dục,
2006) đã đưa ra phương pháp dạy học Tiếng Việt và cụ thể cho từng phân môn
Tiếng Việt. Trong đó, có phương pháp dạy học luyện từ và câu và điểm qua về
dạy học theo hướng đổi mới, tích cực, tạo hứng thú học tập cho học sinh.
Chu Thị Thủy An trong “dạy học luyện từ và câu ở Tiểu học” (Dự án phát
triển giáo viên Tiểu học, 2007) đã đề cập đến khái niệm từ, nội dung và phương
pháp dạy học từ loại ở Tiểu học. Đồng thời, tác giả cũng đưa ra một số dạng bài
tập về từ loại và một số gợi ý tương ứng với các dạng bài tập đó.
Nguyễn Trí trong “Dạy và học môn Tiếng Việt ở Tiểu học theo chương
Đề tài cung cấp một số biện pháp phát triển kỹ năng dùng từ để đặt câu cho
HS lớp 4 qua môn Tiếng Việt. Nhằm giúp HS tiếp cận kịp thời với câu và từ
khó.
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu của đề tài.
4.1. Khách thể nghiên cứu.
Kỹ năng dùng từ và đặt câu của HS lớp 4 trường Tiểu học số 1 Thượng
Trạch – Bố Trạch– Quảng Bình.
4.2. Đối tượng nghiên cứu.
-Những biện pháp phát triển kỹ năng dùng từ cho học sinh lớp 4 trường
Tiểu học số 1 Thượng Trạch qua phân môn Luyện từ và câu.
- Thực trạng dạy từ và đặt câu trong phân môn Luyện từ và câu ở đối tượng
là học sinh lớp 4 trường Tiểu học số 1 Thượng Trạch.
- Nội dung, phương pháp, quy trình dạy học môn Tiếng Việt 4.
5
5. Giả thuyết khoa học.
Phát triển kỹ năng dùng từ cho học sinh hiện nay còn gặp nhiều khó khăn.
Đây là vấn đề còn gặp nhiều băn khoăn, trăn trở của không ít giáo viên Tiểu học.
Nếu các phương án đề xuất trong kết luận chứng minh được tính khả thi sẽ góp
thêm tiếng nói và giải quyết những khó khăn đó, góp phần nâng cao chất lượng
dùng từ và đặt câu cho học sinh Tiểu học.
Khóa luận là tài liệu tham khảo cho các bạn sinh viên khoa Tiểu học.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu.
Tìm hiểu cơ sở lí luận của các biện pháp phát triển kỹ năng dùng từ cho
học sinh và thực trạng của việc dùng từ, đặt câu của học sinh trường Tiểu học số
1 Thượng Trạch.
Nghiên cứu lý thuyết về từ ngữ, cách dùng từ và một số vấn đề liên quan
đến vốn từ.
lớp 4 trường Tiểu học số 1 Thượng Trạch qua phân môn Luyện từ và câu. Khóa
luận sẽ là tài liệu tham khảo cho giáo viên Tiểu học, sinh viên và giảng viên,
trong quá trình học tập, nghiên cứu và rèn luyện nghiệp vụ sư phạm.
10. Thời gian thực hiện.
Đề tài được thực hiện từ tháng 10 năm 2015 đến tháng 2 năm 2016.
11. Cấu trúc đề tài.
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo phần nội dung
cơ bản của khóa luận gồm có 3 chương:
Chương I: Cơ sở khoa học của đề tài.
Chương II: Biện pháp phát triển kỹ năng dùng từ và đặt câu cho học sinh
lớp 4 qua môn Tiếng Việt.
Chương III: Thực nghiệm sư phạm.
7
PHẦN II: NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài
Phát triển kỹ năng:
Như chúng ta đã biết “phát triển” là khái niệm dùng để khái quát những
vận động theo chiều hướng tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ
kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn. Cái mới ra đời thay thế cái cũ, cái tiến bộ ra
đời thay thế cái lạc hậu.
Gần đây chúng ta nghe nói rất nhiều về thuật ngữ "kỹ năng" như là kỹ năng
sống, kỹ năng mềm, kỹ năng chuyên môn, trung tâm huấn luyện kỹ năng… Các
doanh nghiệp khi tuyển dụng cũng đòi hỏi ứng viên phải hội đủ các kỹ năng cần
thiết. Điều này khiến cho các bạn trẻ không khỏi bối rối và lúng túng khi nộp hồ
sơ, tham dự phỏng vấn. Hiện nay, ngay cả các doanh nghiệp, trung tâm đào tạo
đạt thông tin sao cho đạt được hiệu quả và muc đích giao tiếp.
1.1.2. Cơ sở tâm sinh lý của học sinh Tiểu học (lớp 4)
Có rất nhiều công trình nghiên cứu về đặc điểm tâm sinh lí của học sinh
Tiểu học. Ở đây em chỉ nghiên cứu đặc điểm tâm sinh lí có thể ảnh hưởng đến
quá trình dùng từ của học sinh Tiểu học:
Học sinh Tiểu học, vốn từ ngữ của các em còn hạn chế, cần phải được bổ
sung, phát triển để đáp ứng các nhu cầu học tập, giao tiếp...việc dạy từ cho học
sinh càng được coi là quan trọng không được bỏ qua.Việc dạy từ ngữ ở Tiểu học
là giúp học sinh mở rộng vốn từ, hiểu nghĩa của từ một cách chính xác, giúp học
sinh luyện tập sử dụng từ ngữ trong nói, viết ... nhất là để học sinh sử dụng từ
ngữ trong đặt câu để học tập và giao tiếp. Những từ ngữ được dạy ở Tiểu học
gắn với việc giáo dục học sinh tình yêu gia đình, nhà trường, tổ quốc, yêu nhân
dân, yêu lao động ... làm giàu nhận thức, mở rộng tầm mắt của học sinh, giúp
các em nhận thấy vẻ đẹp của quê hương, đất nước, con người, dạy các em biết
yêu và ghét. Đáp ứng với mục tiêu đào tạo của bậc Tiểu học: giáo dục con người
phát triển toàn diện.
- Ngôn ngữ và sự phát triển nhận thức của học sinh Tiểu học:
Ngôn ngữ các em phát triển mạnh về cả ngữ âm, ngữ pháp và từ ngữ. Nhờ
có ngôn ngữ phát triển mà học sinh có khả năng tự học, tự nhận thức thế giới
9
xung quanh và tự khám phá bản thân thông qua các kênh thông tin khác nhau.
Thông qua khả năng ngôn ngữ của học sinh ta có thể đánh giá được sự phát triển
trí tuệ của học sinh.
Về ngôn ngữ viết: các em nắm được một số quy tắc cơ bản khi viết. Tuy
nhiên các em còn viết sai ngữ pháp.
Vốn từ của các em ngày càng phong phú chính xác và giàu hình ảnh, nhờ
tham gia nhiều hoạt động, tiếp xúc rộng rãi với những người xung quanh và
được tiếp thu tri thức qua các môn học.
Khi khái quát, học sinh Tiểu học lớp 1, 2, 3 thường quan tâm đến dấu hiệu
trực quan bên ngoài đến chức năng của đối tượng. Còn ở học sinh lớp 4, 5 nhờ
hoạt động nhận thức phát triển hơn, các em đã biết xếp bậc các khái niệm. Phân
biệt khái niệm rộng hơn, hẹp hơn khi phân loại và khái quát đối tượng.
Hoạt động phân tích tổng hợp còn ở mức độ sơ đẳng, các học sinh lớp đầu
của bậc Tiểu học chủ yếu tiến hành phân tích trực quan, hành động khi tri giác
trực tiếp đối tượng.
Dựa vào đặc điểm tư duy như trên khi dạy học giáo viên cần phân loại các
dạng bài tập khác nhau, các dạng bài tập có tính gợi mở.
1.1.3. Cơ sở ngôn ngữ học.
Từ
Trong ngôn ngữ thì từ là cái quan trọng nhất. Nói cách khác, trong ngôn
ngữ, từ là chất liệu cơ bản, được sử dụng để tạo ra những đơn vị, kết cấu ở bậc
cao hơn. Vì thế, không có từ, con người không thể tiến hành giao tiếp được, và
như vậy, bản thân ngôn ngữ cũng không tồn tại.
Có thể xem xét vai trò của từ từ hai góc độ:
+ Về phía người tạo lập văn bản (người nói, người viết).
+ Về phía người tiếp nhận văn bản (người nghe, người đọc).
Từ có vai trò vô cùng quan trọng, nên năng lực ngôn ngữ của một cá nhân
thể hiện rõ nhất, dễ nhận thấy nhất qua việc dùng từ, xét ở cả hai mặt: đúng và
sai, hay và dở.
Vai trò của Từ trong hệ thống ngôn ngữ quy định tầm quan trọng của việc
dạy Từ ngữ ở tiểu học. Không có một vốn từ đầy đủ thì không thể nắm ngôn ngữ
như một phương tiện giao tiếp. Việc học Từ ở tiểu học sẽ tạo cho học sinh năng
11
lực từ ngữ, giúp học sinh nắm tiếng mẹ đẻ, tạo điều kiện để học tập những cấp
học tiếp theo và phát triển toàn diện.
Thứ nhất, nghĩa biểu niệm hay biểu vật của từ phải phản ánh đúng khái
niệm, sự vật, hành động, tính chất... mà người nói/người viết muốn đề cập đến.
Ðây là sự tương hợp cơ bản nhất. Không bảo đảm được sự tương hợp này thì sẽ
dẫn đến chỗ lỗi chọn sai từ.
Thứ hai, nghĩa biểu thái của từ phải phù hợp với tình cảm, thái độ của
người nói, người viết, đối với đối tượng được đề cập đến; đồng thời nghĩa biểu
thái của các từ phải tương hợp với nhau và tương hợp với sắc thái ý nghĩa chung
của cả câu văn.
Thứ ba, giá trị phong cách của từ phải phù hợp với phong cách ngôn ngữ
văn bản.
1.1.4. Vai trò của rèn kỹ năng dùng từ cho học sinh lớp 4
Có thể xem xét vai trò của từ từ hai góc độ.
Về phía người tạo lập văn bản (người nói, người viết), để truyền đạt một
nội dung thông báo nào đó, tất nhiên phải tạp ra lời cụ thể, tồn tại dưới một loại
hình ngôn bản cụ thể. Trong quá trình tạo câu, tạo đoạn... trong ngôn bản, công
việc cơ bản của người nói/viết là lựa chọn và kết hợp từ để tạo thành câu, đoạn
v.v...
Về phía người tiếp nhận văn bản (người nghe, người đọc), khi nghe, đọc,
trước hết là tiếp xúc với từ (dưới dạng âm thanh hay kí hiệu chữ viết) và hiểu
được từ, trên cơ sở đó mới hiểu được câu, đoạn... và cuối cùng là hiểu được nội
dung toàn ngôn bản.
Từ có vai trò vô cùng quan trọng như vậy, nên năng lực ngôn ngữ của một
cá nhân thể hiện rõ nhất, dễ nhận thấy nhất qua việc dùng từ, xét ở cả hai mặt:
đúng và sai, hay và dở.
Tóm lại, thông qua cách dùng từ, học sinh được mở mang về trí tuệ và tri
thức. Cụ thể, về trí tuệ: làm nảy nở các ý tưởng và cách lập luận. Về tri thức:
giúp nhận thức sâu sắc hơn về con người, xã hội và thế giới. Nó còn giúp học
sinh hoàn thiện hơn ngôn ngữ mục tiêu về cách hành văn, cấu trúc câu và sử
dụng từ ngữ. Ngoài ra, khi chúng ta rèn kỹ năng dùng từ cho học sinh thì trong
- Thêm trạng ngữ chỉ nơi chốn cho câu
- Thêm trạng ngữ chỉ thời gian cho câu
- Thêm trạng ngữ chỉ nguyên nhân, mục đích, phượng tiện trong câu
* Cách dấu câu: Chấm hỏi, dấu chấm than, dấu 2 chấm, dấu ngoặc kép, dấu
ngoặc đơn.
b. Yêu cầu kỹ năng về từ và câu:
Từ
- Nhận biết được cấu tạo của tiếng
- Giải các câu đố tiếng liên quan đến cấu tạo của tiếng
- Nhận biết từ loại
- Đặt câu với những từ đã cho
15
- Xác định tình huống sử dụng thành ngữ - Tục ngữ
Câu
- Nhận biết các kiểu câu
- Đặt câu theo mẫu
- Nhận biết các kiểu trạng ngữ.
- Thêm trạng ngữ cho câu
- Tác dụng của dấu câu
- Điền dấu câu thích hợp
- Viết đoạn văn với dấu câu thích hợp.
c. Dạy Tiếng việt văn hoá trong giao tiếp
Thông qua nội dung dạy phân môn Luyện từ và câu lớp 4, bồi dưỡng cho
học sinh ý thức và thói quen dùng từ đúng, nói viết thành câu và ý thức sử dụng
Tiếng Việt trong giao tiếp phù hợp với các chuẩn mực văn hoá.
- Chữa lỗi dấu câu
- Lựa chọn kiểu câu kiến thức, kĩ năng mà học sinh cần đạt đuợc và cũng
như là nhiệm vụ mà người giáo viên cần nắm vững khi giảng dạy phân môn này.
- Học sinh là BT
- Hướng dẫn giải 1 phần bài tập mẫu
- Chấm chữa - nhận xét -> Chốt KT
- Học sinh làm bài tập
- Chữa, chấm nhận xét -> chốt KT
3. Củng cố -dặn dò (2-3')
3. Củng cố - dặn dò (2-3')
16
1.2.2. Khảo sát thực trạng dùng từ và đặt câu của học sinh ở trường Tiểu
học số 1 Thượng Trạch – Bố Trạch – Quảng Bình
1.2.2.1. Qua dự giờ
Tôi đã tham gia dự giờ các tiết dạy Luyện từ và câu gồm các bài: luyện từ
và câu “Từ đơn và từ phức”, luyện từ và câu “Từ ghép và từ láy”.
Những vấn đề mà tôi tập trung theo dõi trong các tiết dự giờ là: quy trình
dạy học Luyện từ và câu, kỹ năng dùng từ để đặt câu của học sinh lớp 4 trường
Tiểu học số 1 Thượng Trạch.
Nhìn chung giáo viên đã đi đúng trình tự của một bài Luyện từ và câu, tuy
nhiên giáo viên chưa nắm rõ mục tiêu của từng bài học. Giáo viên dạy một cách
tản mạn, không chú ý tới mức độ kiến thức về từ mà học sinh đạt dược trong
một bài học, nhiều giáo viên chỉ giúp học sinh hoàn thành nội dung bài tập trong
sách giáo khoa chứ không tìm hiểu thêm các bài tập ngoài để giúp học sinh phát
triển vốn từ. Bên cạnh đó, giáo viên chưa phân chia thời lượng lên lớp phù hợp,
sinh, với mục đích giúp họ hiểu đúng, viết đúng và nói đúng . Do đó có thể phân
loại lỗi dùng từ của học sinh, với mục đích giúp họ hiểu đúng, viết đúng và nói
đúng. Do đó, có thể phân loại lỗi dùng từ, ngữ dựa trên cơ sở hai trục vừa nêu.
Dựa vào hai trục này, lỗi dùng từ, ngữ chia thành hai loại lớn: lỗi lựa chọn và lỗi
kết hợp. Mỗi loại lỗi được chia thành nhiều kiểu lỗi sai nhỏ hơn, căn cứ vào tính
chất, đặc điểm của hiện tượng sai.
Qua quá trình khảo sát em đã thu được kết quả như sau:
Bảng: thống kê lỗi và kỹ năng dùng từ và đặt câu đúng của HS lớp 4A
trường Tiểu học số 1 Thượng Trạch.
Mắc lỗi khi dùng từ và
Kỹ năng dùng từ và đặt câu chưa
đặt câu
tốt
Số lượng
Lớp
HS khảo
sát
Tỉ lệ HS
Số HS mắc lỗi
mắc lỗi
(%)
4A
Thứ nhất mắc lỗi khi dùng từ và đặt câu:
Số lượng HS mắc lỗi khi dùng từ và đặt câu còn chiếm tỉ lệ lớn cụ thể là
18/ 21 HS chiếm 85% số HS cả lớp. Lỗi chủ yếu là học sinh dùng sai từ, hoặc
dùng từ chưa hay nên dẫn đến việc đặt câu chưa đúng.
Thứ hai là kỹ năng dùng từ và đặt câu chưa tốt:
Số lượng HS có kỹ năng dùng từ và đặt câu chưa tốt chiếm tỉ lệ là 19/ 21
HS chiếm số lượng rất lớn đến 81% số học sinh cả lớp. Do các em dùng từ chưa
chính xác nên việc đặt câu chưa hay hoặc không có ý nghĩa.
Phần lớn các em thường mắc các lỗi dưới đây:
*Lỗi lựa chọn :
Nói đến lỗi lựa chọn từ, chủ yếu là xét qua hai mối quan hệ:
- Giữa nội dung muốn biểu đạt với nghĩa của từ được dùng;
- Giữa giá trị phong cách của từ được dùng với phong cách ngôn ngữ văn bản.
Trên cơ sở đó, lỗi lựa chọn từ được chia thành ba kiểu lỗi sai nhỏ:
- Chọn sai từ :
Chọn sai từ là chọn từ mà nghĩa của nó không phù hợp với nội dung muốn
biểu đạt, tức khái niệm, hành động, tính chất, trạng thái ... mà người viết muốn
nói đến. Nói cách khác, chọn sai từ là hiện tượng nghĩa của từ được dùng và nội
dung muốn biểu đạt có sự chênh lệch ở mức độ này hay mức độ khác.
Nguyên nhân chủ yếu của lỗi chọn sai từ là do học sinh hiểu nghĩa của từ
một cách chung chung, thiếu chính xác, hay do nhầm lẫn nghĩa của từ này với
nghĩa của từ khác. Thực tế bài viết của học sinh cho thấy, xét về mặt số lượng
âm tiết và về nguồn gốc của từ, đa số các trường hợp chọn sai là rơi vào từ đa
âm tiết, trong đó từ Hán - Việt chiếm tỉ lệ rất cao. Và ở đây, sự lẫn lộn về nghĩa
dẫn đến chọn sai thường xảy ra giữa các từ hai âm tiết, trong đó có một âm tiết
giống nhau hay gần gũi nhau về vần. Chẳng hạn như giữa “đào thải với sa thải”,
“xa xỉ với xa hoa”, “trấn áp với đàn áp”, “khêu gợi với khơi dậy”, “thác loạn với
thác oan” v.v...Còn hiện tượng chọn sai từ đơn âm lại thường rơi vào từ thuần
Việt. Và đa số các trường hợp chọn sai là do học sinh tự phát muốn dùng những
vựng giữa các từ, ngữ trong cấu tạo cụm từ. Dựa vào đặc điểm, tính chất của các
hiện tượng vi phạm, có thể chia lỗi kết hợp thành các kiểu lỗi nhỏ như: kết hợp
sai nghĩa từ vựng, kết hợp trùng lặp, thừa từ và so sánh khập khễnh.
20
- Kết hợp sai nghĩa từ vựng :
Kết hợp sai nghĩa từ vựng là kiểu lỗi sai thể hiện qua hiện tượng kết hợp từ
tạo thành cụm từ mà nội dung nghĩa giữa các thành tố không tương hợp với
nhau, làm cho nghĩa của cả cụm trở nên luẩn quẩn, mơ hồ hay lệch lạc so với ý
đồ biểu đạt.
Trong bài viết của học sinh, lỗi kết hợp sai nghĩa từ vựng xuất hiện khá phổ
biến. Hơn 40% bài viết của học sinh mà em đã khảo sát vi phạm loại lỗi này. Bài
sai ít là một, hai lỗi. Bài sai nhiều lên đến năm, sáu lỗi.
Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến lỗi kết hợp sai nghĩa từ vựng là do tư duy
của học sinh thiếu mạch lạc, học sinh không xác định được một cách rõ ràng, cụ
thể nội dung cần biểu đạt, không hiểu chính xác nghĩa của từ và khả năng kết
hợp của chúng, xét về mặt nghĩa từ vựng.
Sửa chữa loại lỗi này, phải tiến hành từng bước. Trước hết, dựa vào văn
cảnh của câu, chúng ta xác định rõ ràng, cụ thể nội dung mà học sinh muốn biểu
đạt. Tiếp theo, trên cơ sở nội dung biểu đạt đã xác định được, loại bỏ các yếu tố
không có liên quan, không tương hợp về nghĩa với yếu tố khác, và chọn từ, ngữ
khác để thay thế. Nếu cụm từ có yếu tố dư thừa thì loại bỏ. Ðối với trường hợp
cả cụm từ không phản ánh đúng nội dung muốn biểu đạt, chúng ta tạo ra cụm từ
khác để thay thế.
- Kết hợp trùng lặp, thừa từ ngữ :
Loại lỗi này gồm hai kiểu lỗi nhỏ, có liên quan với nhau: kết hợp trùng lặp
và kết hợp thừa.
Kết hợp trùng lặp là hiện tượng lặp đi lặp lại một cách tự phát và không cần
thiết những từ, ngữ nào đó trong câu. Có thể làm cho câu văn rối cấu trúc ngữ