BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Thùy Trang
BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG
TIỀN HỌC ĐƯỜNG CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Thùy Trang
BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG
TIỀN HỌC ĐƯỜNG CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI
Chuyên ngành : Giáo dục học (Giáo dục Mầm non)
Mã số
: 60 14 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. LÊ THỊ MINH HÀ
Nguyễn Thị Thùy Trang
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
Danh mục các bảng, biểu đồ
MỞ ĐẦU ............................................................................................................... 1
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN.............................................................................. 5
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề .......................................................................... 5
1.1.1. Trên thế giới.......................................................................................... 5
1.1.2. Tại Việt Nam ........................................................................................ 6
1.2. Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu .......................................................... 8
1.2.1. Một số khái niệm công cụ của đề tài .................................................... 8
1.2.2. Đặc điểm tâm lí của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi ....................................... 18
1.2.3. Chương trình giáo dục mầm non hiện hành ....................................... 28
1.2.4. Chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi ............................................................ 29
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 ................................................................................. 31
Chương 2. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG KỸ NĂNG TIỀN
HỌC ĐƯỜNG CỦA TRẺ 5 – 6 TUỔI............................................. 32
2.1. Khái quát về tổ chức nghiên cứu thực trạng ............................................. 32
2.1.1. Khái quát về địa bàn điều tra .............................................................. 32
2.1.2. Khái quát về tổ chức nghiên cứu thực trạng ....................................... 32
2.1.3. Bài tập đánh giá .................................................................................. 33
2.2. Kết quả nghiên cứu thực trạng kỹ năng tiền học đường của trẻ 5 – 6 tuổi...... 35
2.2.1. Mô tả khách thể nghiên cứu................................................................ 35
2.2.2. Thực trạng mức độ kỹ năng tiền đọc của trẻ 5 – 6 tuổi. ..................... 36
So sánh mức độ kỹ năng tiền đọc theo khu vực nội thnh và
ngoại thành ..................................................................................... 39
Bảng 2.5.
Mức độ kỹ năng tiền viết................................................................ 40
Bảng 2.6.
So sánh mức độ kỹ năng tiền viết theo giới tính ............................ 44
Bảng 2.7.
So sánh mức độ kỹ năng tiền viết theo khu vực nội thành và
ngoại thành ..................................................................................... 45
Bảng 2.8.
Mức độ kỹ năng tiền tính toán ....................................................... 46
Bảng 2.9.
So sánh mức độ tiền tính toán theo giới tính.................................. 50
Bảng 2.10.
So sánh mức độ kỹ năng tiền tính toán theo khu vực nội thành
và ngoại thành ................................................................................ 52
:
Mối quan hệ
NN – KQ
:
Nguyên nhân – Kết quả
Sig = 0.05
:
Mức ý nghĩa
MG
:
Mẫu giáo
MN
:
Mầm non
Tp
kế tiếp. Nếu trẻ phát triển tốt ở giai đoạn trước cũng chính là chuẩn bị tốt cho giai
đoạn sau. Nghĩa là, nếu kỹ năng tiền học đường của trẻ hoàn thiện thì trẻ sẽ dễ dàng
tham gia vào hoạt động học tập, ngược lại, kỹ năng tiền học đường của trẻ yếu thì
trẻ sẽ gặp khó khăn trong những năm học đầu tiên tại trường học và có thể ảnh
hưởng đến suốt quá trình học tập lâu dài về sau.
Trong việc chuẩn bị cho trẻ vào lớp một vai trò của giáo viên mầm non đóng
vai trò chủ đạo vì các hoạt động cung cấp kiến thức và hình thành các kỹ năng học
tập cho trẻ được tiến hành tại trường mầm non dưới sự hướng dẫn, tổ chức của giáo
viên mầm non. Điều này có nghĩa, nếu công tác tổ chức các hoạt động nhận thức,
2
hình thành kỹ năng học tập của giáo viên hiệu quả thì kỹ năng tiền học đường của
trẻ được hoàn thiện giúp các em chuẩn bị sẵn sàng vào lớp một. Ngược lại, nếu
công tác tổ chức các hoạt động nhận thức, hình thành kỹ năng học tập của giáo viên
hạn chế sẽ ảnh hưởng đến mức độ hình thành và hoàn thiện các kỹ năng, mức độ
thuận lợi khi trẻ vào lớp một.
Hiện nay, chương trình Giáo dục mầm non và chương trình lớp một ở tiểu học
có tính liên thông kế thừa với nhau. Đây là một thuận lợi về mặt chương trình học
tập cho trẻ. Đồng thời việc ban hành Thông tư 23/ 2010/ TT – BGDĐT của Bộ
Giáo dục và Đào tạo về Bộ chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi cũng là cơ sở để giáo viên
nhận thức được mục tiêu cần đạt ở trẻ 5 tuổi, đánh giá được sự phát triển của trẻ
giúp chuẩn bị cho trẻ 5 tuổi vào lớp một, từ đó xây dựng nội dung chăm sóc giáo
dục phù hợp.
Tuy nhiên, trong thực tế hiện nay, tại các trường Mầm non ở Thành phố Hồ
Chí Minh một số giáo viên lớp lá vẫn chưa nhận thức được tầm quan trọng của công
tác chuẩn bị cho trẻ vào lớp một một cách đầy đủ và chính xác. Nguyên nhân là sự
thiếu nhiệt tình của giáo viên trong quá trình giáo dục trẻ, chưa tâm huyết với công
việc từ đó ít trau dồi kỹ năng sư phạm hoặc do những áp lực từ công việc: sĩ số trẻ
4.2. Khách thể nghiên cứu
Quá trình tổ chức các hoạt động để chuẩn bị cho trẻ vào lớp một tại một số
trường Mầm non trên địa bàn TP. HCM.
5. Giả thuyết khoa học:
Nếu đề xuất được một số biện pháp hiệu quả giúp phát triển kỹ năng tiền học
đường cho trẻ 5 - 6 tuổi sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ chuẩn bị vào lớp một.
6. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
6.1. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu tiến hành trong phạm vi các trường mầm non tại Tp.HCM.
6.2. Giới hạn nghiên cứu
388 trẻ 5 – 6 tuổi đang học cuối năm lớp lá tại 6 trường mầm non ở Thành phố
Hồ Chí Minh.
38 giáo viên lớp Lá tại 6 trường mầm non tiến hành khảo sát trẻ.
6.3. Địa bàn nghiên cứu
Nghiên cứu khảo sát tại 6 trường mầm non thuộc địa bàn TP. HCM: Mầm non
Măng Non I quận 10, Mầm non Hoa Hồng Quận 8, Mầm non Nhà Bé Yêu Quận
Bình Thạnh, Mầm non Hoa Hồng Quận Tân Phú, Mầm non Anh Duy quận Bình
Chánh, Mầm non Tân Thông Hội huyện Củ Chi.
4
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Các phương pháp nghiên cứu lý luận
Tổng hợp và phân tích những tài liệu có liên quan đến đề tài nhằm xây dựng
cơ sở lý luận cho đề tài.
7.2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Điều tra giáo viên bằng phiếu hỏi nhằm tìm hiểu thực trạng mức độ kỹ năng
tiền học đường của trẻ 5 – 6 tuổi và nguyên nhân của thực trạng.
Theo L.V. Vưgotxki đối với việc dạy học cần có thời điểm tối ưu của nó, có nghĩa
là khoảng thời gian thuận lợi nhất. Bỏ qua thời điểm đó dù trước hoặc sau đều có
hại cho sự phát triển của trẻ.
Theo A.V. Daparogiet; L.A. Vengher; P.A. Côkhin; L.E. Rurôva; T.V.
Taruntaeva… có thể chia vấn đề sẵn sàng cho trẻ bước vào môi trường học đường
có thể chia làm hai mảng lớn: “Chung” và “Chuyên biệt”. Ở mảng sẵn sàng chung
bao gồm sự sẵn sàng về thể lực, nhân cách, trí tuệ. Ở mảng sẵn sàng chuyên biệt, sự
chuẩn bị để lĩnh hội những môn học của trường phổ thông đảm bảo cho trẻ những kĩ
năng đầu tiên của việc đọc, viết, làm toán và cả sự phát triển chung. Sự sẵn sàng về
thể lực theo nghiên cứu của A.V. Daparogiet; M.IU. Kixchiacôvxcôi; N.T.
Têrêcôvô nên hiểu là tình trạng sức khỏe, sự phát triển các tố chất vận động, khả
năng điều khiển các cơ nhỏ, khả năng lao động của cơ thể và trí óc. Sự sẵn sàng về
nhân cách theo nghiên cứu của R.C. Bure; T.A. Rêpinôi; G.G. Kravsôva; R.B.
Xterkinôi; T.V. Antônôvôi thể hiện ở sự chủ định của hành vi, trong sự hình thành
giao tiếp, trong sự đánh giá và động cơ học tập thể hiện ở sự tích cực, sự số sắng
giải quyết những nhiệm vụ chung, ở nhu cầu giúp đỡ bạn bè, tính kỉ luật, kĩ năng
tuân theo các quy chế, ở việc xuất hiện tính bền vững, tính cố gắng.
Sự sẵn sàng về trí tuệ theo nghiên cứu của A.V. Daparogiet; L.A. Vengher;
P.A. Côkhin; N.N. Pôđiakôv; Paramônôva biểu hiện ở sự hình thành tư duy hình
ảnh, trí tưởng tượng, óc sáng tạo, cơ sở của tư duy ngôn ngữ logic và ngay cả sự
lĩnh hội những phương thức hoạt động nhận thức (kĩ năng phân loại, khái quát hóa,
6
giản lược, mô hình hóa), lĩnh hội tiếng mẹ đẻ, các hình thức cơ bản của ngôn ngữ
(đối thoại, độc thoại).
Sự sẵn sàng “chuyên biệt” bao gồm việc lĩnh hội những cơ sở ban đầu của
việc học đọc, học viết, làm toán, những cơ sở của hoạt động học tập.
Các tác giả C.V. Cidorskaia; T. Alieva; A. Arusanova đã nghiên cứu việc hình
cứu về vấn đề kế thừa giữa trường mẫu giáo và trường tiểu học. Tác giả nhấn mạnh
chương trình giữa trường mẫu giáo và tiểu học có tính liên thông với nhau, đó là
điều kiện thuận lợi cho quá trình chuyển tiếp giữa hai môi trường, tuy nhiên nhà
giáo dục cần có nhận thức đúng tinh thần, mục tiêu chương trình để tránh tổ chức
các nội dung giáo dục hướng tới mục tiêu dạy học như ở bậc Tiểu học [64]. Ngoài
ra các tác giả Nguyễn Thị Phương Anh, Nguyễn Thị Yến Linh, Nguyễn Thị Thanh
Hương, Nguyễn Thị Thư cũng có những bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng của
việc chuẩn bị cho trẻ 5 – 6 tuổi vào lớp một, đồng thời nêu lên một số biện pháp
giúp phụ huynh chuẩn bị cho trẻ vào lớp một [6], [23], [26], [63].
Về kỹ năng tiền học đường, nghiên cứu sự phát triển kỹ năng đọc, viết cho trẻ
5 tuổi, tác giả Nguyễn Thị Phương Nga nêu lên vấn đề“Khi nào bắt đầu dạy chữ
cho trẻ”, cách tận dụng những cơ hội để phát triển ngôn ngữ cho trẻ, môi trường tốt
nhất để trẻ học chữ viết, cơ sở lý luận của công tác phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm
non. Tác giả Trần Thị Nga với nghiên cứu về vấn đề phát triển ngôn ngữ và cho trẻ
mẫu giáo 5 tuổi làm quen với việc đọc viết. Các tác giả Lê Thị Ánh Tuyết, Phan
Lan Anh, Tô Nhi A [1], [5], [69] nghiên cứu sự phát triển ngôn ngữ đọc, viết cho trẻ
5 tuổi chuẩn bị vào lớp một ở Tiểu học. Tác giả Hoàng Thị Mai với bài viết “Cho
trẻ 5 tuổi tập làm quen với chữ Viết theo hướng đổi mới” đã đưa ra một số nội dung
giúp trẻ làm quen kỹ năng đọc [25].
Về kỹ năng tiền tính toán tác giả Trương Thị Xuân Huệ đã đề cập đến “Vấn đề
chuẩn bị cho trẻ học toán lớp một”, trong đó tác giả đã đưa ra những biện pháp
chuẩn bị cho trẻ học toán lớp một. Tác giả Lê Thị Thanh Nga với nhiều bài viết đề
cập đến phương pháp, biện pháp, môi trường tổ chức cho trẻ làm quen với biểu
tượng toán. Tác giả nêu ra các biện pháp đa dạng có thể áp dụng cho giáo viên và
phụ huynh nhằm phát triển biểu tượng toán và các thao tác toán học cho trẻ 5 – 6
tuổi.
Về vấn đề đánh giá các kỹ năng tiền học đường ở trẻ 5 – 6 tuổi tác giả
Nguyễn Thị Hồng Nga với luận án “Nghiên cứu hoàn thiện bộ trắc nghiệm đo
lường mức độ sẵn sàng đi học của trẻ 6 tuổi vào lớp một”. Trong nghiên cứu này
Như vậy theo hai tác giả, chỉ cần nắm vững phương thức hành động là con
người đã có kỹ năng không cần đến kết quả.
9
- A.G.Côvaliov: Kỹ năng là phương thức thực hiện hành động thích hợp với
mục đích những điều kiện hoạt động. Do đó người có kỹ năng là người thực hiện
các hành động phù hợp với mục đích và điều kiện hành động, không đề cập đến kết
quả hành động, mà chỉ coi kết quả hành động phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Trong đó,
quan trọng hơn cả là năng lực con người chứ không đơn giản là nắm vững cách thức
hoạt động đem lại kết quả tương ứng.
Quan điểm thứ hai: Coi kỹ năng không đơn thuần là kỹ thuật hành động mà
còn là một biểu hiện năng lực của con người. Kỹ năng theo quan niệm này – vừa có
tính ổn định, vừa có tính mềm dẻo, linh hoạt.
Đại diện quan điểm này là: N.Đ.Lêvitốp, A.V.Pêtrovki và M.G.Jarosevxki,
Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Ánh Tuyết, Ngô Công Hoàn, Trần Quốc Thành,…
- Theo các tác giả Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Ánh Tuyết, Ngô Công Hoàn,
Trần Quốc Thành kỹ năng là năng lực của con người thực hiện một công việc nào
đó có kết quả.
- N.Đ.Lêvitốp cho rằng, kỹ năng là sự thực hiện có kết quả một động tác nào
đó hay một hoạt động phức tạp hơn bằng cách áp dụng hay lựa chọn những cách
thức đúng đắn, có tính đến những điều kiện nhất định. Ở đây ông đặc biệt chú ý đến
kết quả của hoạt động. Việc vận dụng lý thuyết vào thực tiễn được chia thành hai
mức tương ứng với hai bước khác: kỹ năng sơ đẳng và kỹ năng phát triển.
+ Kỹ năng sơ đẳng: Được biểu hiện ở những thể nghiệm đầu tiên trong việc
thực hiện có kết quả các tác động cần thiết, kỹ năng sơ đẳng được xuất hiện do sự
bắt chước.
+ Kỹ năng phát triển: Xuất hiện ở giai đoạn cao hơn, được hình thành trong
quá trình vận dụng những tri thức, hiểu biết vào thực tiễn, do tập luyện mà dần trở
Để hình thành kỹ năng các tác giả đã chỉ ra rằng: khi tiến hành một hoạt động
nào đó. Lúc đầu phải xác định mục đích của nó, sau đó chỉ ra và giúp người học
hiểu được cách thức thực hiện hoạt động này, trình tự thực hiện các hoạt động và
cung cấp các biểu tượng về kỹ thuật hoàn thành chúng. Tri thức về mục đích của
hoạt động, các khái niệm, các biểu tượng về các cách thức để đạt được mục tiêu cần
được nắm vững trước khi thực hiện các hành động để hình thành kỹ năng. Trong
quá trình đó các khái niệm, biểu tượng sẽ được mở rộng hơn, trở nên sâu sắc hơn,
hoàn thiện hơn.
11
Người có kỹ năng về hành động nào đó phải có tri thức về hành động đó, hành
động theo đúng yêu cầu và đạt kết quả trong mọi điều kiện khác nhau. Theo K.I
Platonov và G.G.Golubev kỹ năng là năng lực của người thực hiện công việc có kết
quả với một chất lượng cần thiết trong những điều kiện mới và những khoảng thời
gian tương ứng. Bất kỳ một kỹ năng nào cũng bao hàm trong đó cả biểu tượng, khái
niệm, vốn tri thức, sự tự kiểm tra, điều chỉnh quá trình hoạt động.
- Tác giả Nguyễn Đức Hưởng đưa ra các chỉ báo đánh giá mức độ thuần thục,
thành thạo của kỹ năng như sau:
+ Mức độ hiểu biết về hành động và các thao tác cấu thành hành động
+ Tốc độ thực hiện hành động, thực hiện các thao tác cấu thành hành động
+ Tính nhịp nhàng trong phối hợp các thao tác hành động
+ Hiệu quả của hành động
Khi đánh giá kỹ năng cần phải sử dụng tổng hợp các chỉ báo trên. Nếu chỉ sử
dụng một chỉ báo đơn lẻ thì có thể dẫn đến nhầm lẫn (chẳng hạn như coi người có
tri thức, hoặc người có hành động nhanh, người làm việc có hiệu quả là người có kỹ
năng).
Từ các quan điểm về kỹ năng chúng tôi xin đưa ra khái niệm kỹ năng như sau:
Kỹ năng là khả năng vận dụng kiến thức vào trong thực tiễn để thực hiện có
hoạt động theo biểu tượng ấy.
- Nhìn nhận ra một loại ký hiệu kết thành vần
Muốn như vậy phải tri giác đúng những hình thái liên tiếp theo thứ tự bố cục,
không lẫn lộn thêm bớt theo chiều từ trái sang phải, biết cách kết hợp đúng nguyên
âm và phụ âm.
- Nhìn ra một loại vần kết nhau thành từ
Ngoài những yêu cầu như trên, còn phải yêu cầu đọc có giọng điệu. Về từ ngữ
phải hiểu theo nghĩa, có ý niệm về hình loại và số lượng, phát âm đúng theo trình
tự, đúng giọng và điệu.
- Nhận ra hàng loạt từ kết hợp với nhau thành một bài có ý nghĩa.
13
Phải biết đọc từ trái sang phải, hết một hàng lại xuống hàng dưới, ít nhiều hiểu
biết phỏng đoán có những từ chỉ về sự việc, hiện tượng; những từ chỉ tính chất,
giống nhau, khác nhau và những loại tự kết nối.
- Nhận ra các mệnh đề, câu cú:
Nhận ra ký hiệu chấm câu và giọng điệu, hiểu nhanh nghĩa của từng từ. Hiểu
được cấu trúc của câu, trình tự thời gian của sự việc và trình tự thao tác trong suy
luận.
Chỉ khi nào đọc mà không cần phát âm, tức là chỉ cần nhìn bằng mắt mà hiểu
được ý nghĩa như vậy mới là biết đọc, bài đọc thật ra là vật chất hóa ngôn ngữ bên
trong, là hòa nhập của thao tác tư duy với việc đọc thông qua hệ thống cơ quan phát
âm.
- Phải có năng lực và thái độ cần thiết
Định hướng được trong không gian và thời gian, trẻ nhận ra được vị trí của
bản thân trong không gian đối lập với những vật thể khác. Trẻ nhận ra trình tự tiếp
diễn trước sau của thời gian. Nhận ra sự tương ứng giữa bố cục trong không gian và
trình tự thời gian.
các âm khác nhau. Muốn vậy, việc học chữ đòi hỏi trẻ phải có khả năng phát ngôn
các âm thanh theo ký hiệu thính giác mà còn phải biết phân tích các âm đó theo quy
tắc ký hiệu thị giác. Nó là hành động có ý thức, chứ không chỉ là sự bắt chước máy
móc hay ướm thử đơn thuần trong thực tiễn.
Như vậy, cơ chế học nói khác với cơ chế học viết: học nói mang tính “tự
nhiên”, giống như các thành tựu khác của trẻ như học vận động, học đi… điều này
giải thích vì sao mọi người bình thường đều có thể học và nói được theo đúng quy
tắc ngữ pháp. Ngược lại sẽ không biết đọc, biết viết nếu không đi học một cách có ý
thức. Để có được kỹ năng viết thì trước hết trẻ phải có kỹ năng nói, đọc và phải có
các thao tác, cử động cần thiết.
Các yêu cầu về kỹ năng viết:
- Viết được các chữ cái không cần nhìn mẫu, cần phải: Nhớ được những
hướng chung về hình thái, kích thước, nhớ chữ bao nhiêu nét; nhìn nhận toàn bộ
chữ cái và đọc nhẩm không phát âm: cầm bút không co rúm cơ bắp, thực hiện đúng
ý đồ, khởi động và ngừng đúng lúc, đúng kích thước, nhớ lại những hình thái và
những chữ khác nhau.
15
- Viết được một vần, một vài từ cần: Tri giác toàn bộ, bố cục từ trái sang phải
các chữ theo đúng trình tự, hình dung được dòng kẻ, bố cục các nét; phân biệt các
loại chữ cái, những nét cao lên hay kéo xuống các đường gạch.
- Viết chính tả (nghe đọc – viết): Dựa vào trí nhớ cấu trúc lại các từ tương ứng
những biểu tượng không gian và thời gian; nhận biết trình tự phát âm của âm tiết và
chuyển thành những ký hiệu được bố cục đúng trình tự.
Những năng lực và thái độ cần thiết để viết:
Trẻ cần hiểu được những ký hiệu để ghi lên giấy tương ứng với những âm tiết
của lời nói, mặt khác nhớ được, gợi lại được và ghi lại những định hướng, hình thái
và ký hiệu cho trước những ký hiệu ấy. Muốn vậy cần phải có:
- “Viết” tên của bản thân theo cách của mình.
- Tô, đồ được chữ cái và chữ số trong bảng chữ, số tiếng Việt.
- “Viết” chữ theo thứ tự từ trái qua phải, từ trên xuống dưới.
- Bắt chước hành vi viết và sao chép từ, chữ cái.
- Ngồi viết đúng tư thế
- Cầm bút và sử dụng bút đúng
e) Kỹ năng tính toán
Học toán ở lớp một trẻ cần đạt những yêu cầu sau:
- Đọc được số tự nhiên từ 1 đến 10, hiểu về con số (về số lượng, cách biểu
diễn những số lượng ấy).
- Biết làm hai phép tính, hiểu được thế nào là lớn hơn, nhỏ hơn, bằng nhau,
thêm bớt, biết vận dụng những ký hiệu cộng trừ, biết ghi kết quả bằng con số - tức
trẻ đã có ý niệm về tính toán.
- Biết giải một số bài tập vận dụng hai phép tính và biết dùng những đơn vị đo
lường.
Ở trẻ 5 – 6 tuổi trẻ chưa có kỹ năng tính toán nhưng trẻ đã có những thành tố
ban đầu của hoạt động tính toán thông qua quá trình lĩnh hội những biểu tượng toán
ban đầu – nhận thức các biểu tượng về các phạm trù toán học cơ bản: tập hợp – số
lượng, hình dạng, kích thước, định hướng trong không gian.
17
Qúa trình hình thành biểu tượng toán ban đầu cho trẻ một lượng kiến thức nhất
định về tập hợp – số lượng, hình dạng, kích thước, định hướng trong không gian và
theo thời gian, góp phần hình thành và phát triển các quá trình nhận thức của trẻ,
hình thành cho trẻ những năng lực nhận biết chung, các nét tính cách cần thiết để
thực hiện tốt hoạt động học tập ở trường phổ thông.
Trong quá trình hình thành biểu tượng toán ban đầu ở trẻ, hình thành một số kĩ
năng cần thiết cho hoạt động học tập như: kĩ năng nghe, hiểu và hành động phù hợp