Kinh tế quản lý
BÀI KIỂM TRA HẾT MÔN
KINH TẾ QUẢN LÝ
____________________
Đề bài:
Theo lý thuyết tân cổ điển thì doanh nghiệp anh (chị) đang làm việc
thuộc cấu trúc thị trường nào? Mục tiêu của doanh nghiệp là gì và làm thế
nào để đạt được mục tiêu đề ra?
Họ và tên học viên: Nguyễn Thị Hiền Dịu
GaMBA01.X0310
Tháng 12/2010
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1
Kinh tế quản lý
Như chúng ta đã biết, thị trường là một khái niệm trừu tượng, biểu thị sự
giao dịch. Thị trường có thể là sự biểu thị ngắn gọn quá trình mà nhờ đó các
quyết định của các hộ gia đình về việc tiêu dùng các hàng hóa khác nhau, các
quyết định của các hãng về việc sản xuất cái gì và như thế nào, các quyết định
của công nhân về làm việc bao lâu và cho ai được điều hòa bởi sự điều chỉnh
giá. Hay, thị trường là một tập hợp các dàn xếp mà thông qua đó người bán và
người mua tiếp xúc với nhau để trao đổi hàng hóa, dịch vụ. Hoặc thị trường là
một khuôn khổ vô hình trong đó người này tiếp xúc với người kia để trao đổi
một thứ gì đó khan hiếm và trong đó họ cùng xác định giá và số lượng trao đổi.
Như vậy ta thấy rằng, trong một số trường hợp người mua và người bán
có thể tiếp xúc trực tiếp tại các địa điểm cố định như các thị trường hàng tiêu
dùng: quần áo, rau quả … trong nhiều trường hợp các công việc giao dịch diễn
cạnh tranh hoàn hảo, người bán và người mua không có ảnh hưởng gì đến giá
thị trường của sản phẩm, nghĩa là họ không có sức mạnh thị trường. Trong thị
trường độc quyền bán (mua) người bán (mua) có ảnh hưởng rất lớn đến giá thị
trường của sản phẩm. Trong thị trường độc quyền bán (mua) tập đoàn , người
bán (mua) có ảnh hưởng đến giá thị trường của sản phẩm ở mức độ nào đó.
- Các trở ngại gia nhập thị trường: Trong thị trường cạnh tranh hoàn
3
Kinh tế quản lý
hảo các trở ngại gia nhập thị trường là rất thấp. Ngược lại , trong thị trường độc
quyền bán (mua) tập đoàn có những trở ngại đáng kể đối với việc gia nhập thị
trường. Còn trong điều kiện độc quyền thì việc gia nhập thị trường là cực kỳ
khó khăn.
- Cạnh tranh phi giá: Trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo không có sự
cạnh tranh phi giá. Trong cạnh tranh độc quyền cũng như trong độc quyền tập
đoàn, các nhà sản xuất sử dụng nhiều hình thức cạnh tranh phi giá như: quảng
cáo, khác biệt hóa sản phẩm. các nhà độc quyền cũng quảng cáo để thu hút
thêm khách hàng.
Cấu trúc thị trường bao gồm:
Thị trường cạnh tranh hoàn hảo: là thị trường trong đó có người mua và
người bán độc lập với nhau. Thị trường cạnh tranh hoàn hảo đòi hỏi có nhiều
người bán, nhiều người mua, mỗi người trong số họ hành động độc lập với tất
cả những người khác, việc ra nhập và rút khỏi thị trường là tự do, thông tin
hoàn hảo. Số người mua và bán được gọi là nhiều khi những giao dịch bình
thường của một người mua hoặc một người bán không ảnh hưởng gì đến giá cả
mà ở đó các giao dịch được thực hiện.
Sản phẩm của các hãng là đồng nhất, tất cả các đơn vị hàng hóa trao đổi
được coi là giống nhau, người mua không bao giờ phải quan tâm đến việc họ
5
Kinh tế quản lý
Kiểm soát các yếu tố sản xuất, một hãng có thể chiếm được vị trí độc
quyền nhờ quyền sở hữu một loại đầu vào (nguyên liệu) để sản xuất một loại
sản phẩm nào đó.
Quy định của Chính phủ. Một hãng có thể trở thành độc quyền hợp pháp
nếu nó là người duy nhất được cấp giấy phép sản xuất kinh doanh một loại sản
phẩm dịch vụ nào đó, chẳng hạn như đường sắt Việt nam hay bưu điện Việt nam
…
Cạnh tranh độc quyền: là thị trường trong đó nhiều hãng bán những sản
phẩm khác nhau nhưng thay thế được cho nhau. Có nhiều ngành trong đó các
hãng tạo ra những sản phẩm khác nhau. Vì lý do này hoặc lý do khác, người
tiêu dùng coi mặt hàng của mỗi hãng khác của các hãng khác. Sự khác nhau của
sản phẩm không nhất thiết là có thực, có thể chỉ do người tiêu dùng nghĩ ra. Vì
thế một số người tiêu dùng sẽ trả giá cao hơn cho sản phẩm mà mình thích.
Thị trường cạnh tranh độc quyền có hai đặc trung cơ bản đó là: hãng cạnh
tranh với nhau bằng việc bán các sản phẩm khác nhau, có thể thay thế được cho
nhau ở mức độ cao, nhưng không thể là thay thế hoàn hảo. Nói cách khác, độ co
giãn của cầu theo giá chéo là cao chứ không phải là vô cùng, và việc gia nhập
thị trường là tương đối dễ dàng. Hãng mới gia nhập thị trường là tương đối dễ
vì không có sự cấu kết của các hãng đang ở trong ngành, rút khỏi thị trường
tương đối dễ khi sản phẩm của họ không có lãi.
Độc quyền tập đoàn: là thị trường trong đó chỉ có một số người bán, các
hãng độc quyền tập đoàn phải cạnh tranh với nhau vì luật pháp cấm cấu kết.
Trong thị trường độc quyền tập đoàn, sản phẩm có thể giống hoặc khác nhau.
6
b. Vốn của ngân sách nhà nước cấp cho các dự án theo kế hoạch hàng năm;
c. Vốn ODA được Chính phủ giao;
2. Vốn huy động.
a. Phát hành trái phiếu và chứng chỉ tiền gửi theo quy định của pháp luật;
b. Vay của Tiết kiệm bưu điện, Quỹ của Bảo hiểm xã hội và các tổ chức tài
chính, tín dụng trong và ngoài nước.
3. Nhận tiền gửi ủy thác của các tổ chức trong và ngoài nước.
4. Vốn đóng góp tự nguyện không hoàn trả của các cá nhân, các tổ chức
kinh tế, tổ chức tài chính, tín dụng và các tổ chức chính trị - xã hội, các
hiệp hội, các hội, các tổ chức trong và ngoài nước.
5. Vốn nhận ủy thác cấp phát, cho vay của chình quyền địa phương, các tổ
chức kinh tế, tổ chức tài chính, tín dụng và các tổ chức chính trị - xã hội,
các hiệp hội, các hội, các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước.
6. Các nguồn vốn khác theo quy định của pháp luật.
Chi nhánh Ngân hàng Phát triển Hà giang được thành lập theo quyết định
số 01/QĐ-NHPT ngày 01 tháng 7 năm 2006 của Tổng giám đốc Ngân hàng
Phát triển Việt Nam.
Cũng như các Ngân hàng Phát triển khác trên cả nước, hoạt động chủ yếu
của Chi nhánh Ngân hàng Phát triển Hà giang bao gồm:
Huy động và tiếp nhận vốn của các tổ chức trong và ngoài nước để thực
hiện tín dụng đầu tư phát triển và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước theo quy
định của Chính phủ.
Thực hiện chính sách tín dụng đầu tư phát triển: Cho vay đầu tư phát
triển, hỗ trợ lãi suất sau đầu tư, bảo lãnh tín dụng đầu tư.
8
Kinh tế quản lý
Thực hiện chính sách tín dụng xuất khẩu: Cho vay xuất khẩu, bảo lãnh tín
phải trả lãi hoặc lãi suất thấp.
Ngân hàng Phát triển không được huy động tiền gửi bằng đồng Việt Nam
và ngoại tệ của các cá nhân.
Ngân hàng Phát triển được ngân sách nhà nước cấp bù chênh lệch lãi suất
và chi phí quản lý đối với hoạt động tín dụng đầu tư phát triển và tín dụng xuất
khẩu của nhà nước. Mức cấp bù lãi suất và chi phí quản lý theo quy định của
Thủ tướng Chính phủ. Khi thực hiện nhiệm vụ tín dụng đầu tư phát triển và tín
dụng xuất khẩu của nhà nước, mức cấp bù được xác định trên cơ sở chênh lệch
giữa lãi suất hòa đồng các nguồn vốn với lãi suất cho vay và dư nợ vay tín dụng
đầu tư và tín dụng xuất khẩu.
Phí quản lý hàng năm của Ngân hàng Phát triển được xác đinh bằng 25%
trên số thu nợ lãi cho vay tín dụng đầu tư, tín dụng xuất khẩu của nhà nước.
Ngân hàng Phát triển phải thực hiện công khai tài chính theo quy định
của Pháp luật.
Bộ Tài chính thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tài chính và
hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra việc thực hiện chế độ tài chính của Ngân hàng
Phát triển.
Như vậy, Ngân hàng Phát triển không thuộc cấu trúc thị trường nào
của lý thuyết tân cổ điển.
Mục tiêu của Chi nhánh Ngân hàng Phát triển Hà Giang đó là:
1/Hoạt động không vì mục đích lợi nhuận nhưng phải đảm bảo an toàn
vốn. Điều đó có nghĩa là không được để có nợ quá hạn và lãi treo. Để đạt được
mục tiêu này, đòi hỏi từ khâu tiếp nhận hồ sơ dự án phải đảm bảo đúng đối
10
Kinh tế quản lý
tượng. Hồ sơ phải đầy đủ tính pháp lý và theo quy định trong sổ tay nghiệp vụ,
qua trình thẩm định dự án ngoài các chỉ tiêu định lượng theo hướng dẫn để xem
xét hiệu quả của dự án, thì các chỉ tiêu định lượng cũng vô cùng quan trọng, nó
Ngân hàng Phát triển và khách hàng lấy làm chuẩn mực để thực hiện tác
nghiệp, đã triển khai được hệ thống thanh toán chuyển tiền điện tử, thanh toán
liên ngân hàng và thanh toán quốc tế, đến tháng 01 năm 2011 VDB (Ngân hàng
Phát triển Việt Nam) chính thức triển khai chương trình VDB online, nhằm
quản lý, điều hành nguồn vốn, giải ngân, thu nợ và thực hiện các dịch vụ ngân
hàng ngày một hiệu quả hơn, đem lại cho khách hàng sự hài lòng và các dịch vụ
hiện đại nhất.
4. Công tác cho vay và thu nợ:
Công tác cho vay: Phải chấp hành đầy đủ các quy định, quy trình nghiệp
vụ, các chỉ đạo, hướng dẫn của Ngân hàng Phát triển Việt nam, phối hợp với
các Chủ đầu tư kiểm tra, rà soát lại tiến độ thực hiện và nhu cầu sử dụng vốn
thực tế của từng dự án trong năm, báo cáo và đề nghị Ngân hàng Phát triển Việt
nam xem xét cân đối điều chỉnh kế hoạch giải ngân cho các dự án trên địa bàn.
Sau giải ngân phải tiến hành kiểm tra mục đích sử dụng vốn vay cũng như hiệu
quả của vốn vay đối với từng dự án.
Công tác thu nợ: Phấn đấu hết sức mình, đề ra các giải pháp triển khai kế
hoạch thu nợ như: cử cán bộ thường trực tại doanh nghiệp để giám sát hoạt
động sản xuất kinh doanh, tăng cường kiểm tra, đôn đốc thu nợ, phối hợp với
Sở Kế hoạch - Đầu tư, Sở Tài chính tham mưu cho UBND Tỉnh ban hành các
Quyết định về thu nợ vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước trên địa bàn
Tỉnh, phối kết hợp chặt chẽ với các Ban quản lý dự án trong công tác thu nợ.
12
Kinh tế quản lý
5.Công tác kế hoạch, huy động và điều hành nguồn vốn: Phối hợp chặt
chẽ với các Chủ đầu tư kiểm tra, rà soát lại tiến độ thực hiện và nhu cầu sử dụng
vốn thực tế của từng dự án vay vốn tín dụng trong năm, báo cáo và đề nghị
Ngân hàng Phát triển Việt Nam xem xét điều chỉnh cho các chương trình, dự án
trên địa bàn thuộc kế hoạch giải ngân năm. Đối với kế hoạch hỗ trợ sau đầu tư,
cho các Chi nhánh đảm bảo đáp ứng tiêu chuẩn của một ngân hàng hiện đại.
Toàn hệ thống phải đẩy mạnh việc cải cách thủ tục hành chính, đảm bảo
việc giao dịch giữa khách hàng với hệ thống Ngân hàng Phát triển Việt Nam
được thuận tiện, văn minh, lịch sự, đảm bảo các hoạt động tác nghiệp giữa Hội
sở chính với các Chi nhánh được nhanh gọn, hiệu quả, rõ ràng, minh bạch.
Hội sở chính rà soát lại hệ thống Quy chế, quy định để ban hành sửa đổi
và bổ sung cho phù hợp với thực tiễn.
Triển khai dịch vụ thanh toán quốc tế.
Đẩy mạnh cho vay thí điểm, hướng tới phát triển thành một trong những
nhiệm vụ chính của hệ thống Ngân hàng Phát triển Việt Nam. Sử dụng vốn huy
động có kỳ hạn và không kỳ hạn tại chi nhánh để cho vay thí điểm nhằm giảm
áp lực cân đối và điều chuyển nguồn vốn đối với Hội sở chính, đồng thời nâng
cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn tại Chi nhánh.
Mỗi cán bộ trong đơn vị cần phát huy những thành tích đã đạt được và
hạn chế những sai sót đã xảy ra để hoạt động của đơn vị và toàn hệ thống ngày
một chất lượng và hiệu quả.
Phát động các phong trào thi đua nhằm nhân rộng điển hình tiên tiến, có
cơ chế thưởng xứng đáng để khuyến khích cán bộ trong đơn vị hăng say công
tác và chủ động sáng tạo.
14
Kinh tế quản lý
III. KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu môn Kinh tế quản lý đã giúp cho chúng ta có cái nhìn cụ
thể hơn, chúng ta có thể tường tận hơn trong cách nhìn nhận để lựa chọn cho
mỗi chúng ta cách làm nào là tốt nhất cho chúng ta ở thời điểm ra quyết định.
Qua môn học đã giúp cho chúng ta nắm được các khái niệm, kiến thức cơ
bản và công cụ phân tích để làm cơ sở cho việc nghiên cứu sâu hơn trong các