TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
LÂM THỊ LỊCH
CHẤT DÂN GIAN TRONG TRUYỆN
ĐỒNG THOẠI CỦA TÔ HOÀI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học thiếu nhi
HÀ NỘI- 2017
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
LÂM THỊ LỊCH
CHẤT DÂN GIAN TRONG TRUYỆN
ĐỒNG THOẠI CỦA TÔ HOÀI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học thiếu nhi
Người hướng dẫn khoa học
TH.S. ĐỖ THỊ HUYỀN TRANG
HÀ NỘI- 2017
LỜI CẢM ƠN
Trong qua trình thực hiện khóa luận, em đã nhận được sự hướng dẫn
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ........................................................................................ 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ........................................................................ 2
3. Mục đích nghiên cứu ................................................................................. 7
4. Nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................................ 7
5. Đối tượng và phạm vi ngiên cứu............................................................... 7
6. Phương pháp nghiên cứu........................................................................... 7
7. Cấu trúc khóa luận .................................................................................... 8
NỘI DUNG ................................................................................................... 9
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG .................................................. 9
1.1. Giới thiệu về nhà văn Tô Hoài và truyện đồng thoại của Tô Hoài ........ 9
1.1.1. Sơ lược về tiểu sử của nhà văn Tô Hoài ............................................. 9
1.1.2. Quan niệm của nhà văn Tô Hoài về truyện đồng thoại .................... 10
1.2. Ảnh hưởng của văn học dân gian đối với văn xuôi hiện đại Việt Nam........... 15
CHƯƠNG 2: BIỂU HIỆN CỦA CHẤT DÂN GIAN TRONG TRUYỆN
ĐỒNG THOẠI CỦA TÔ HOÀI ..................................................................... 19
2.1. Vay mượn và sáng tạo lại cốt truyện dân gian. .................................... 19
2.2. Sáng tạo dựa theo phong cách dân gian ............................................... 33
2.3. Kế thừa và sáng tạo các mô típ dân gian ............................................. 38
2.3.1. Mô típ sinh nở thần kì ....................................................................... 38
2.3.2. Một số mô típ dân gian khác ............................................................. 40
2.4. Sử dụng ngôn ngữ dân gian ................................................................. 42
2.4.1. Sử dụng ca dao, thành ngữ, tục ngữ ................................................. 43
2.4.2. Sử dụng vốn từ dân gian, phương ngữ ............................................. 50
KẾT LUẬN ................................................................................................. 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................... 59
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
tạo được đỉnh cao trong thể loại truyện đồng thoại.
1.3. Trong sự hình thành và phát triển nền văn học của một dân tộc, các sáng
tác dân gian luôn là cơ sở nền tảng, vững chắc của văn học viết. Các nhà văn
xuất sắc đã hấp thụ tinh hoa nghệ thuật truyền thống của nhân dân và đã sáng
tạo ra các tác phẩm ưu tú của chính mình dựa trên nền văn hóa ấy. Trong nền
văn học Việt Nam hiện đại có rất nhiều tác giả tên tuổi đã vận dụng sáng tạo
các chất liệu sẵn có của văn học dân gian để sáng tác ra những tác phẩm đặc
sắc của riêng mình, trong đó phải kể đến các nhà văn như Vũ Tú Nam, Phạm
Hổ, Võ Quảng và đặc biệt là Tô Hoài. Tô Hoài là người đi nhiều, biết nhiều
nên có thể nói ông thông thạo văn hóa dân gian của các dân tộc, các địa
phương nơi ông đã từng đặt chân đến nên các sáng tác của ông luôn mang
đậm chất dân gian, đặc biệt là mảng sáng tác về truyện đồng thoại dành cho
thiếu nhi của ông. Có thể nói có một đặc điểm rất quan trọng trong các truyện
đồng thoại của Tô Hoài đó là các tác phẩm thuộc thể loại này của ông chịu
nhiều ảnh hưởng của văn học dân gian.
Xuất phát từ lí do trên, chúng tôi mạnh dạn đi vào tìm hiểu, nghiên cứu đề
tài: Chất dân gian trong truyện đồng thoại của Tô Hoài. Qua đó góp phần
nào để khẳng định tài năng và những đóng góp to lớn của nhà văn Tô Hoài
cho nền văn học nước nhà.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Truyện viết cho thiếu nhi của Tô Hoài rất phong phú và đặc sắc. Trong đó
truyện đồng thoại là mảng sáng tác khá thành công của ông. Nét nổi bật trong
các sáng tác của Tô Hoài là năng lực quan sát và miêu tả tinh tế, vốn hiểu biết
về đời sống của các loài vật phong phú, đa dạng, đặc biệt có khá nhiều tác
phẩm thuộc thể loại này của ông luôn mang đậm chất dân gian, từ cốt truyện
cho đến việc sử dụng ngôn từ trong từng câu chuyện… Trải qua các giai đoạn
2
tuổi 20… Tô Hoài có một xê - ri sách viết về các con vật: dế, chuột, chim,
mèo, cá… được gọi là truyện loài vật. Truyện loài vật của Tô Hoài là một
cống hiến độc đáo vào văn học Việt Nam hiện đại nói chung và văn học dành
cho thiếu nhi nói riêng.” [22, tr. 66]
- Giáo sư Hà Minh Đức trong Đi tìm chân lý nghệ thuật (NXB Hội nhà
văn, 2014) có nhận xét: “Tô Hoài rất thuộc tính nết của mỗi loài, những động
tác của chúng lúc kiếm ăn, khi cặp kè đôi lứa, khi nhớn nhác lo sợ, lúc hả hê
sung sướng… ông cũng quan sát giỏi, kĩ đến từng chi tiết, phân biệt chính xác
tiếng kêu, màu sắc, hình dáng với những sắc độ khác nhau của từng loài.”
[6, tr.332].
Trong lời giới thiệu Tuyển tập Tô Hoài, ông đã đi đến những phát hiện
độc đáo trong việc miêu tả thế giới loài vật của Tô Hoài: “Viết về loài vật, Tô
Hoài muốn nói đến cuộc sống của con người. Ông không viết những loài vật
xa xôi mà người ta thường gặp trong thế giới loài vật của một số nhà văn, nhà
thơ như Chó Sói, Cáo, Thỏ rừng, Voi, Hổ… Ông chú ý đến những con vật
quanh quẩn và gần gũi với cuộc sống của con người như chú Mèo, chú Gà,
con Chuột và cả những con vật nhỏ bé như Bọ Ngựa, Dế Mèn, Dế Trũi, Xiến
Tóc. Có thể ở những con vật này tác giả tạo được sự gần gũi hơn với thế giới
của con người.” [5, tr. 43].
Hà Minh Đức cũng bộc lộ lòng mến phục đối vơi nhà văn có nhiều
đóng góp cho nền văn học thiếu nhi nước nhà: “Ông cũng là nhà văn lớn của
thiếu nhi. Ông đến với các em bằng tâm hồn người nghệ sĩ. Ông đem đến cho
các em một niềm vui, một bài học nhỏ, một lời căn dặn. Với các em lúc nào
ngòi bút của ông cũng đầm ấm tươi trẻ. Thời gian không mệt mỏi, không hằn
vết trên trang viết cho các em. Có biết bao câu chuyện bổ ích và đẹp trong
cuộc đời sẽ còn dành cho tuổi thơ, ông còn là người kể chuyện hứng thú và
sáng tạo”.
4
5
Trong đó, Tô Hoài được nhắc đến cùng với các tác giả tên tuổi như Nguyễn
Công Hoan, Nguyên Hồng, Nam Cao... Người viết đã nhấn mạnh một số đặc
trưng nghệ thuật truyện ngắn Tô Hoài như: “lối viết thông minh, hóm hỉnh,
thậm trí tinh quái, một đôi nét tâm lí và triết lí đượm sắc thái buồn pha chút
mùi vị chua chát kiểu Nam Cao”; “Những con vật trong tác phẩm Tô Hoài có
nét gì đó giống người, quen thuộc với người. Tô Hoài bắt rất nhanh những nét
đặc trưng trong tính cách của chúng”. “Truyện ngắn Tô Hoài chịu nhiều ảnh
hưởng của văn học dân gian. Nhưng lối dẫn truyện, kết cấu truyện, giọng điệu
trần thuật cũng như các thủ pháp khắc họa tính cách nhân vật đã thuộc về
truyện ngắn hiện đại”. “Trong một số truyện, cũng giống như Nam Cao trong
Chí Phèo, Tô Hoài đã sử dụng ngôn ngữ văn xuôi đa thanh, giọng điệu của
người kể hòa lẫn giọng điệu của nhân vật.” [3, tr 232]
Có thể thấy, khi nghiên cứu truyện viết cho thiếu nhi, trong đó có thể
loại truyện đồng thoại của nhà văn Tô Hoài, chúng ta nhận thấy các tác giả đã
đề cập đến đến nhiều khía cạnh khác nhau, song vẫn còn những vấn đề chưa
được nghiên cứu sâu. Đặc biệt là việc tìm hiểu biểu hiện của chất dân gian
trong các truyện đồng thoại của nhà văn viết cho thiếu nhi, qua một số tác
phẩm tiêu biểu như: Dế Mèn phiêu lưu ký, Ông trạng chuối, Trê và Cóc và
qua các truyện trong hai tuyển tập là Tuyển tập Văn học thiếu nhi (2001) và
Những truyện hay viết cho thiếu nhi của Tô Hoài chưa có một khóa luận hay
luận văn nào nghiên cứu sâu về vấn đề này. Dù đây là lần đầu tiên ngiên cứu
khoa học, tuy khả năng còn hạn chế, tác giả khóa luận đã cố gắng tìm hiểu các
tài liệu, kế thừa những nghiên cứu trước đó để góp phần làm rõ vấn đề này.
Hi vọng đây sẽ là đề tài có ý nghĩa với những ai quan tâm đến nhà văn Tô
Hoài nói chung và thể loại truyện đồng thoại của ông nói riêng.
6
7. Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận và tài liệu tham khảo, khóa luận triển
khai gồm hai chương như sau:
Chương 1. Những vấn đề chung
Chương 2. Biểu hiện của chất dân gian trong truyện đồng thoại của Tô
Hoài
8
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 . Giới thiệu về nhà văn Tô Hoài và truyện đồng thoại của Tô Hoài
1.1.1. Sơ lược về tiểu sử của nhà văn Tô Hoài
Tô Hoài sinh ngày 27 tháng 9 năm 1920 mất ngày 6 tháng 7 năm 2014, là
một nhà văn Việt Nam nổi tiếng. Tên khai sinh của ông là Nguyễn Sen, ông
sinh ra tại quê nội ở thôn Cát Động, thị trấn Kim Bài, huyện Thanh Oai, tỉnh
Hà Đông (nay là Hà Nội) trong một gia đình thợ thủ công nghèo, tuy nhiên
ông lại lớn lên và thực sự gắn bó với quê ngoại ở làng Nghĩa Đô, phủ Hoài
Đức, tỉnh Hà Đông (nay thuộc phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, Hà Nội).
Ông có nhiều bút danh khác nhau như: Tô Hoài, Mai Trung, Duy Phương,
Mắt Biển, Hồng Hoa, Vũ Đột Kích nhưng bút danh Tô Hoài được dùng nhiều
nhất (đây là tên ghép của hai địa danh của quê hương ông là sông Tô Lịch và
phủ Hoài Đức.)
Nhà văn Tô Hoài không đi học nhiều, ông chỉ học hết bậc Tiểu học sau đó
ông lăn lộn kiếm sống và học trong trường đời. Bước vào tuổi thanh niên ông
đã phải bươn chải với rất nhiều nghề để kiếm sống như: Dạy trẻ, bán hàng, kế
toán hiệu buôn… cũng có những lúc thất nghiệp, cuộc sống vô cùng khó
tiểu luận và kinh nghiệm sáng tác. Với những đóng góp to lớn cho nền Văn
học nước nhà, vào năm 1996, ông được nhà nước trao tặng giải thưởng Hồ
Chí Minh về Văn học - Nghệ thuật (đợt 1 năm 1996).
Nhìn chung, Tô Hoài là một người từng trải, sớm bước vào đời, vào nghề
văn và sớm tham gia các hoạt động cách mạng. Ông viết nhiều thể loại và thể
loại nào cũng có những thành công nhất định.
1.1.2. Quan niệm của nhà văn Tô Hoài về truyện đồng thoại
Tô Hoài chính thức vào nghề năm 1940 với truyện ngắn Nước lên. Kể từ
đó đến khi dừng bút, ông đã có một khối lượng tác phẩm lớn, với nhiều thể
10
loại khác nhau như: tiểu thuyết, truyện ngắn, bút kí, hồi kí, tiểu luận và kinh
nghiệm sáng tác. Các tác phẩm của ông dành cho nhiều đối tượng độc giả từ
trẻ em cho đến người lớn.
Viết và thành công trên nhiều thể loại khác nhau, nhưng truyện đồng thoại
là mảng sáng tác đặc biệt của nhà văn Tô Hoài dành cho thiếu nhi. Ông là
người luôn quan tâm đến các độc giả nhỏ tuổi và cũng là cây bút đầu tiên viết
về thể loại truyện đồng thoại.
Dưới dạng trao đổi kinh nghiệm, Tô Hoài đôi lần phát biểu ý kiến về
truyện đồng thoại. Theo ông, truyện đồng thoại là một thể loại văn học dành
cho thiếu nhi, lấy loài vật làm nhân vật, lúc nào cũng thích hợp. Nhân vật
trong truyện đồng thoại được nhân cách hóa trên cơ sở đảm bảo “không thoát
li sinh hoạt có thật của loài vật”, đồng thời không xa rời cái nhìn theo thói
quen của các em. Hình thức nhân hóa loài vật này đem lại cho thể loại khả
năng diễn đạt những vấn đề của đời sống một cách hình tượng, ý vị. Trong tôi
viết đồng thoại: Dế Mèn, Chim Gáy, Bồ Nông, nhà văn cho biết lí do ông xây
dựng hình ảnh chim gáy chưa đến tháng mười đã rủ nhau đi ăn đàn. Ông
muốn qua hiện tượng “đổi tính” đó để “ngầm” nói đến công cuộc làm ăn mới
giàu tưởng tượng, giàu chất thơ,... Tô Hoài kết luận: “Như vậy, đồng thoại là
loại truyện có cơ hội tung hoành nhất về những mặt đó.” (Tôi viết đồng thoại:
Dế Mèn, Chim Gáy, Bồ Nông).
Trong bài viết của mình Tô Hoài đã nói rõ quan điểm viết truyên đồng
thoại của ông. Tựu trung có ba khía cạnh cần lưu ý:
Thứ nhất, về nhân vật, ông “không thích viết cái ghế, cái bàn, đôi giày,
những con vật vô tri thành đồng thoại. Đối tượng yêu thích nhất của Tô Hoài
là các con vật gần gũi trong cuộc sống thường ngày. Khi viết về chúng, ông
luôn “dựa vào tâm lí thiếu nhi và sự quen biết thông thường xưa nay của các
em về loài vật”, “không đặt một con vật cốt để bạn đọc hiểu ngầm đấy là một
12
con người, một giai cấp. Khi miêu tả, ông cố gắng để cho nhân vật hiện ra
một cách tự nhiên và dựa vào thói quen, phong tục để nhận xét chúng.
- Thứ hai, về nội dung, ông không viết vì bâng quơ, vì muốn làm cho
lạ, mà “muốn đem vào đồng thoại một nội dung xã hội”. Ý kiến này cho thấy,
ngay từ khi mới vào nghề, ngòi bút Tô Hoài đã có thiên hướng đi về phía hiện
thực, xa lạ với lối viết viển vông giang hồ kì hiệp vốn khá phổ biến thời bấy
giờ. Vấn đề là, ông quan tâm tới hiện thực nào trong biển đời mênh mông
này? Câu trả lời có trong Tự truyện: “Đời sống xã hội trong xã hội quanh tôi,
tư tưởng và hoàn cảnh của chính tôi đã vào cả trong những sáng tác của tôi. Ý
nghĩ tự nhiên của tôi bấy giờ là viết những sự xảy ra trong nhà, trong làng
quanh mình”. Sau này, khi đã trở thành nhà văn cách mạng, ngòi bút Tô Hoài
càng có điều kiện hơn để gắn bó với hiện thực đời sống. Từ những gì đã trải
nghiệm, đã thân thiết, ông tái hiện lên trang viết của mình; hình thức dù có vẻ
hoang đường (như đồng thoại) vẫn lấp lánh hình bóng cuộc đời với tất cả mọi
buồn vui, được mất của cõi nhân sinh.
- Thứ ba, trước năm 1945, Tô Hoài sử dụng hình thức đồng thoại là
nghĩa sống chết có nhau là Mèn và Trũi. Bác xiến tóc trầm lặng lúc thì yêu
đời, vì nghĩa lớn lúc lại chán đời bỏ mặc tất cả. Chú Bọ Ngựa kiêu căng, ngạo
mạn. Chị Cào Cào duyên dáng, xinh đẹp. Cóc huênh hoang, dở hơi. Cậu chim
Trả non có mẽ mà đầu óc lại rỗng tuếch... Từ đời sống và tính cách của từng
nhân vật, nhà văn bày tỏ quan niệm của mình về nhân sinh, về khát vọng
chính đáng của người dân lao động, về cuộc sống bình yên, về lòng thương và
sự đoàn kết. Bởi thế câu chuyện về chú Dế Mèn không chỉ có ý nghĩa dành
cho trẻ em, mà còn cả cho người lớn và cho cả xã hội.
Nhìn chung các sáng tác của Tô Hoài thuộc thể loại này có thể chia làm
hai giai đoạn:
Trước Cách mạng Tháng Tám:
14
Các tác phẩm tiêu biểu của ông trong thời gian này phải kể đến: Dế Mèn
phiêu lưu kí, Đám cưới chuột, Trê và Cóc, O chuột, Võ sĩ bọ ngựa, Một cuộc
bể dâu, Mụ Ngan, Mèo già hóa cáo, Hai con ngỗng, Ba anh em, Bốn con gà,
Dê và Lợn, Ông trạng chuối... Khi đọc các tác phẩm này chúng ta có thể nhận
thấy tác giả thường viết về cái tốt đẹp, cái hay, cái thiện trong cuộc sống và
bày tỏ mong muốn một cuộc sống hạnh phúc, bình yên cho tất cả mọi người.
Sau Cách mạng Tháng Tám:
Tiếp nối những thành công đã đạt được ở giai đoạn trước, Tô Hoài tiếp
tục phát triển mảng đề tài này nhưng với một quan niệm mới, một cách nhìn
mới về sự đổi thay, tươi sáng của tương lai đất nước. Những truyện đồng
thoại tiêu biểu như: Cá đi ăn thề, Chim chích lạc rừng, Đàn chim gáy, Chẻo
bẻo đánh Quạ, Vện ơi là Vện, Những chuyện xa lạ, Ghi chép một ngày của Gà
Nhép, Con mèo lười.. đã tái hiện bức tranh sinh động và bộc lộ được cái nhìn
ngỡ ngàng của tác giả trước cuộc sống mới.
1.2.
văn một kho tàng các truyền thống nghệ thuật dân tộc, từ ngôn ngữ đến các
hình thức thơ ca, các phương pháp xây dựng nhân vật, hình ảnh, cách nói, các
biện pháp tu từ, thể loại, chất liệu dân gian…
Chúng ta có thể nhận thấy sự tác động to lớn của văn học dân gian đối
với văn học thành văn trong suốt quá trình từ khi văn học hình thành cho đến
nay trên nhiều phương diện khác nhau. Thời kì đầu văn học dân gian là chất
liệu chủ yếu và là nguồn cảm hứng tự nhiên của các nhà văn, nhà thơ. Nhưng
dần về sau đó các tác giả không còn phụ thuộc quá nhiều vào các sáng tác dân
gian mà họ đã tìm tòi, chắt lọc những kinh nghiệm, nghệ thuật phong phú của
văn học dân gian để sử dụng vào mục đích và ý đồ nghệ thuật riêng của mình
để sáng tạo nên những tác phẩm đặc sắc có giá trị về nội dung, nghệ thuật và
mang dấu ấn riêng của mỗi tác giả.
Những ảnh hưởng của văn học dân gian với văn học viết đôi khi được
thể hiện khá rõ trong các tác phẩm. Những dấu hiệu đó chúng ta có thể nhìn
thấy được, cảm nhận được, chẳng hạn các yếu tố hình thức, tư tưởng xã hội và
16
quan điểm thẩm mĩ hoặc nguồn ca dao, tục ngữ, hay mô phỏng các âm điệu
truyện cổ, sử dụng cấu trúc, mô típ của các thể loại truyện kể dân gian để sáng
tạo ra các tác phẩm mới, hoặc bắt trước phong cách dân gian.
Trong suốt tiến trình phát triển của nền văn học Việt Nam, từ khi mới
hình thành chúng ta đã nhận thấy sự ảnh hưởng của văn học dân gian đối với các
tác phẩm văn học của các nhà văn, nhà thơ lớn như: Nguyễn Trãi, Nguyễn Du,
Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Đình Chiểu... Họ đã vận dụng
nguồn ca dao, tục ngữ và thi pháp của văn học dân gian để sáng tác nên những
bài thơ đậm đà chất dân gian. Còn trong văn học Việt Nam hiện đại, các tác giả
là những nhà văn tên tuổi như: Tô Hoài, Phạm Hổ, Vũ Tú Nam, Nguyễn Huy
Tưởng, Nguyên Ngọc, Đào Vũ, Nguyễn Thi... cũng luôn khẳng định vai trò to
giá trị nghệ thuật độc đáo và giá trị giáo dục thấm thía đã tạo nên sức hấp dẫn
đối với bao thế hệ độc giả.
18
CHƯƠNG 2: BIỂU HIỆN CỦA CHẤT DÂN GIAN
TRONG TRUYỆN ĐỒNG THOẠI CỦA TÔ HOÀI.
2.1. Vay mượn và sáng tạo lại cốt truyện dân gian.
Theo Lê Tiến Dũng: “Cốt truyện là hình thức tổ chức cơ bản nhất của
truyện bao gồm các giai đoạn phát triển chính, các sự kiện chính và hành
động chính trong tác phẩm.” [1, tr.30]. Hay chúng ta có thể hiểu cốt truyện
chính là toàn bộ những sự kiện được nhà văn kể trong văn bản tự sự mà người
đọc có thể kể lại. Cốt truyện là yếu tố quan trọng bậc nhất, không thể thiếu
trong bất kì loại hình tự sự nào.
Các nhà văn khi sáng tạo các tác phẩm của mình thường sẽ tự tạo ra
những cốt truyện mới. Dựa vào vốn hiểu biết lý luận và đời sống kết hợp với
sự tưởng tượng, hư cấu nhà văn sẽ xây dựng nên một cốt truyện mới theo
quan niệm của mình. Tuy vậy vẫn có những nhà văn sẽ dựa vào những cốt
truyện, hình tượng nhân vật có sẵn trong các sáng tác dân gian để phát triển
lên và tái tạo lại, bổ sung thêm viết thành những tác phẩm mới cho phù hợp
với thị hiếu độc giả của thời đại ngày nay. Có thể nói đây là một hoạt động
sáng tạo đầy khó khăn và thử thách, bởi những truyện dân gian mà được các
nhà văn lựa chọn khai thác để viết lại bao giờ cũng hay, cũng đặc sắc, nhà văn
phải khéo léo lựa chọn và sáng tạo lại tác phẩm một cách hoàn hảo hơn.
Trong lịch sử văn học Việt Nam, việc viết lại truyện dân gian đã diễn ra
từ thời trung đại. Truyện Người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ hay các
truyện thơ nôm như: Trê Cóc, Thạch Sanh, Chàng Chuối... chúng ta đều nhận
thấy có nguồn gốc từ dân gian. Đến thời hiện đại, hoạt động này diễn ra tích
cực hơn, có rất nhiều nhà văn đi theo phong cách sáng tác này, trong đó phải
ngang trên mai rùa, đều giải thích rằng đó là dấu vết của tai nạn. Nhà văn xây
dựng hình tượng nhân vật Rùa có cá tính, có nội tâm và đặc biệt là nó còn có
dáng dấp của một đứa trẻ hiếu động, thích đi đây đi đó, nhưng lại có tính hay
20