CHẤT DÂN GIAN TRONG TRUYỆN NGẮN SƠN NAM - Pdf 43

luan van thac si su pham,luan van ths giao duc1 of 141.

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Hoàng Thị Huế

CHẤT DÂN GIAN
TRONG TRUYỆN NGẮN SƠN NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2014

luan van thac si su pham,luan van ths giao duc1 of 141.


luan van thac si su pham,luan van ths giao duc2 of 141.

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Hoàng Thị Huế

CHẤT DÂN GIAN
TRONG TRUYỆN NGẮN SƠN NAM
Chuyên ngành : Lí luận văn học
Mã số

: 60 22 01 20


Trải qua thời gian thực hiện, cuối cùng cuốn luận văn này cũng được hoàn thành.
Trong quá trình thực hiện, tôi đã nhận được sự quan tâm, hướng dẫn và giúp đỡ của các
Quý thầy cô, cơ quan, tổ chức đoàn thể, gia đình và bạn bè.
Nhân đây, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến người thầy đã trực tiếp
hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài luận văn này: TS. Lâm Vinh. Mặc dù thầy đã nghỉ
hưu, tuổi đã cao nhưng vẫn tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn.
Tôi cũng nhận được sự giúp đỡ của các quý cơ quan, báo đài truyền thông về mặt tư
liệu, thông tin; sự quan tâm và tạo điều kiện của gia đình và cơ quan tôi đang công tác;
cùng sự quan tâm, chia sẻ của bạn bè đồng nghiệp…
Trân trọng,

2
luan van thac si su pham,luan van ths giao duc4 of 141.


luan van thac si su pham,luan van ths giao duc5 of 141.

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................ 1
LỜI CẢM ƠN! ............................................................................................................. 2
MỤC LỤC .................................................................................................................... 3
MỞ ĐẦU....................................................................................................................... 5
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................................................ 5
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.............................................................................................. 7
3. Lịch sử vấn đề nghiên cứu............................................................................................................ 9
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu............................................................................................. 11
5. Phương pháp nghiên cứu ........................................................................................................... 12
6. Những đóng góp mới của luận văn........................................................................................... 12

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG .............................................................. 14

2.3.1. Cư dân “miền cố thổ” ............................................................................................ 67
2.3.2. Chất dân gian trong lao động sản xuất và nghề nghiệp mưu sinh......................... 82
2.3.3. Những sắc thái đậm chất dân gian trong đời sống tinh thần ................................. 95

CHƯƠNG 3. CHẤT DÂN GIAN TRONG NGHỆ THUẬT TRUYỆN NGẮN
SƠN NAM ................................................................................................................ 107
3.1. Kết cấu và cốt truyện ............................................................................................................. 107
3.1.1. Kết cấu theo lối truyện dân gian.......................................................................... 107
3.1.2. Cốt truyện theo mô típ truyền thống ................................................................... 109
3.1.3. Sử dụng chuyện xưa tích cũ ................................................................................ 112
3.2. Nghệ thuật xây dựng nhân vật ............................................................................................. 117
3.2.1. Hệ thống nhân vật ............................................................................................... 117
3.2.2. Nghệ thuật xây dựng tính cách nhân vật ............................................................. 124
3.2.3. Nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật..................................................................... 125
3.3. Giọng điệu và ngôn ngữ ......................................................................................................... 127
3.3.1. Giọng điệu mang âm hưởng dân gian ................................................................. 127
3.3.2. Ngôn ngữ bình dân và phương ngữ Nam Bộ ...................................................... 129
3.3.3. Sử dụng nhiều thành ngữ, tục ngữ, ca dao, câu đố ............................................. 135

KẾT LUẬN .............................................................................................................. 139
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................... 142
PHỤ LỤC ................................................................................................................. 148

4
luan van thac si su pham,luan van ths giao duc6 of 141.


luan van thac si su pham,luan van ths giao duc7 of 141.

MỞ ĐẦU

5
luan van thac si su pham,luan van ths giao duc7 of 141.


luan van thac si su pham,luan van ths giao duc8 of 141.

mà hào sảng, nghĩa hiệp đã hun đúc và dệt vào tâm khảm Sơn Nam một tình yêu sâu sắc về
vùng đất và con người Nam Bộ. Chính nguồn cội của tinh hoa và giá trị dân gian đó đã kết
tinh và hòa quyện cùng tài năng và nhiệt huyết của nhà văn Sơn Nam để ông sáng tạo nghệ
thuật trên những con chữ cho ra đời những trang văn, những công trình nghiên cứu giá trị về
mảnh đất này. Chỉ có thể là một người con được sinh ra và lớn lên từ mảnh đất này, được
nuôi dưỡng từ cội nguồn của dân gian, của dân tộc và cả những đặc trưng riêng của vùng
đất Phương Nam cùng sự trải nghiệm qua bao cay đắng lẫn ngọt ngào nơi đây nhà văn mới
có thể viết lên những câu chữ chất chứa nỗi niềm như đã ngấm vào máu thịt và hơi thở:
“Phong sương mấy độ qua đường phố. Hạt bụi nghiêng mình nhớ đất quê” [42, tr.7].
Sơn Nam không chỉ là nhà văn mà còn là nhà báo, nhà nghiên cứu văn hóa lịch sử, tác
phẩm của ông đa dạng từ truyện ngắn, tiểu thuyết, tạp văn, biên khảo, hồi ký. Cùng với các
nhà văn khác viết về Nam Bộ như Hồ Biểu Chánh, Bình Nguyên Lộc… Sơn Nam đã chung
tay phác họa nên bức tranh thiên nhiên, con người mang đặc trưng văn hóa Nam Bộ, thổi
làn gió mới vào diện mạo văn học của nước nhà. Như nhà văn Vũ Đức Sao Biển đã nhận xét
“Tác phẩm, con người của nhà văn Sơn Nam đều thể hiện sâu sắc tính Nam Bộ ở từng câu,
từng chữ, từng lời, thấm đẫm hồn dân tộc Việt Nam” [68, tr.43].
Cả một đời trải qua 83 mùa nước nổi (tôi không dùng khái niệm mùa xuân để nói về
cuộc đời Sơn Nam mà xin mạn phép được dùng khái niệm “mùa nước nổi” vì nhìn vào 83
năm ấy với bao thăng trầm, bao biến cố nhưng vẫn đong đầy một nguồn sống, sự dạt dào
của tâm hồn và tài năng như những sản vật riêng có của mùa nước nổi miền Tây Nam Bộ
quê hương ông) Sơn Nam đã cống hiến cả tài năng và tâm huyết để viết và nghiên cứu về
mảnh đất, con người Nam Bộ. Vì thế, đọc những trang văn của Sơn Nam ta như được sống
trên chính mảnh đất với thiên nhiên, đất nước, con người, xã hội đậm chất dân gian, đặc biệt
là qua mảng truyện ngắn đã được ông sáng tác trong suốt mấy chục năm từ thời kỳ kháng

Cũng như bao đọc giả khác, tôi đã được biết và đọc những tác phẩm của nhà văn Sơn
Nam từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Những trang viết của nhà văn Sơn Nam đã đưa tôi
đến với bao điều thú vị của vùng đất phương Nam xa xôi, để rồi đó có thể là một trong vô
vàn lý do để tôi gắn bó với vùng đất này. Xuất thân là một cử nhân Ngữ văn với công việc
hiện tại trong lĩnh vực truyền thông, báo chí tôi đã may mắn được đi và tiếp xúc với khá
nhiều vùng đất và con người trên dải đất hình chữ S thân yêu. Thêm một lần đi là một lần
khám phá và học hỏi, với ước mong sẽ có cơ hội tìm hiểu sâu hơn về các giá trị văn hóa
truyền thống, kho tàng giá trị quý báu của dân gian, văn hóa các vùng miền của đất nước bổ
trợ cho công việc và đó cũng là niềm yêu thích của bản thân đã đưa tôi đến quyết định chọn
đề tài bảo vệ luận văn Cao học chuyên ngành Lí luận Văn học “Chất dân gian trong truyện
ngắn Sơn Nam”.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích
Thông qua các truyện ngắn của nhà văn Sơn Nam, người viết sẽ đi sâu tìm hiểu chất
dân gian đã được nhà văn thể hiện trong các tác phẩm. Từ đó, để hiểu hơn về vùng đất, con
người nơi đây, thêm yêu và quý trọng những đức tính đã góp phần làm nên giá trị đặc trưng
7
luan van thac si su pham,luan van ths giao duc9 of 141.


luan van thac si su pham,luan van ths giao duc10 of 141.

của vùng đất Nam Bộ. Không dừng lại ở đó, luận văn này cũng nhằm mục đích đi sâu tìm
hiểu lý giải sự thành công và sức hút của truyện ngắn Sơn Nam dưới góc độ lí luận văn học.
Dù đã ra đời trên dưới nửa thế kỷ nhưng đến hôm nay các tác phẩm truyện ngắn của Sơn
Nam vẫn có sức hấp dẫn đặc biệt với bạn đọc gần xa và các nhà nghiên cứu. Một trong
những điều tạo nên sự lôi cuốn và sức sống diệu kỳ của truyện ngắn Sơn Nam chính là ở
trong các truyện ngắn đó người đọc tìm được những giá trị, tri thức, chân lý và sắc màu văn
hóa mang đậm chất dân gian. Những câu chuyện với những con người mang trong mình

8
luan van thac si su pham,luan van ths giao duc10 of 141.


luan van thac si su pham,luan van ths giao duc11 of 141.

-

Trên cơ sở những phân tích, kiến giải và luận cứ đó luận văn sẽ đánh giá thành công
của chất dân gian trong truyện ngắn Sơn Nam

-

Phác thảo đôi nét về đặc trưng văn hóa và con người vùng đất phía Nam của Tổ
quốc.

-

Để làm được những điều trên, luận văn cũng có nhiệm vụ vận dụng các cơ sở lí luận
văn học và thực tiễn xã hội để đề tài nghiên cứu đạt kết quả tốt nhất.

3. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Là một nhà văn lớn, lẽ dĩ nhiên đã có nhiều công trình nghiên cứu, các bài viết về
nhà văn Sơn Nam. Trong khuôn khổ của đề tài luận văn này, tôi chỉ xin đề cập đến một số
công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn.
Trước hết là các ý kiến đánh giá, những công trình nghiên cứu của các học giả, đồng nghiệp,
bạn bè của nhà văn. Nhà thơ Phạm Sỹ Sáu (một người rất gắn bó với Sơn Nam) trong cuộc
hội thảo 50 năm sách Sơn Nam do NXB Trẻ phối hợp với Hội nhà văn TP.HCM, đề dẫn:
Rời quê nhà U Minh lên Sài Gòn vào năm 1954, nhà văn Sơn Nam mưu sinh bằng
nghề cầm bút, cộng tác viết báo với nhà văn Bình Nguyên Lộc, viết văn với nhà văn Ngọc

Hữu Dũng từng cho rằng, tinh chất nhất của Sơn Nam là tập truyện ngắn Hương rừng Cà
Mau.
“Ông đã để lại khối lượng lớn tác phẩm lớn. Chắc chắn, mai sau, khi muốn tìm hiểu về
đất và người Nam Bộ xa xưa, người ta phải đọc tác phẩm của ông. Đó là những cống hiến
mà không phải ai cũng có được” (Nguyễn Quốc Trung, dấu ấn Sơn Nam, [vietvan.vn].
Tác giả Nguyễn Thị Hồng trong bài viết “Sơn Nam và những truyện ngắn về đề tài
Nam Bộ” đăng trên Tạp chí Khoa học, tập XXXVII, số 1B-2008, Đại học Vinh đã viết “Sơn
Nam cũng là một trong những nhà văn “hút khách” trên báo chí. Đặc biệt, sau sự kiện ông
ra đi (2008), có hàng trăm bài viết, xuất hiện rải rác trên nhiều tờ báo đã viết về cuộc đời và
tác phẩm của ông. Giáo sư Trần Văn Khê đã đề bút tích trong lễ tang điếu nhà văn “Trong
suốt cuộc đời anh đã đem văn hóa miền Nam nước Việt đến bao nhiêu người Việt Nam
trong và ngoài nước”
Gần đây nhất, đáng chú ý có công trình nghiên cứu của tác giả Võ Văn Thành về vấn
đề Văn hóa Nam Bộ qua cái nhìn Sơn Nam, vừa được xuất bản tháng 8/2013 nhân dịp kỷ
niệm 5 năm ngày mất của nhà văn.
Sơn Nam là một nhà văn, nhà nghiên cứu văn hóa, lịch sử lớn không chỉ của Nam Bộ
nên ngoài những công trình nghiên cứu của các học giả, thì cũng có hàng trăm bài viết trên
các báo (báo giấy, báo mạng, báo nói (phát thanh), báo hình…). Ngoài ra, cũng có một số
luận văn của các học viên có nghiên cứu đến truyện ngắn của Sơn Nam như: Đoàn Trần Ái
Thy (1996), Thiên nhiên và con người Nam Bộ trong truyện ngắn của Sơn Nam, Đại học
KHXH & NV TP.HCM; Lê Thị Thùy Trang (2003), Đặc điểm truyện ngắn Sơn Nam giai
đoạn 1954 -1975, ĐHSP TP.HCM; Đinh Thị Thanh Thủy (2008), Văn hóa và con người
Nam Bộ trong truyện ngắn của Sơn Nam, ĐH KHXH & NV TP.HCM; Nguyễn Thị Điệp
(2009), Dấu ấn văn hóa Nam Bộ trong truyện ngắn Sơn Nam, Đại học Cần Thơ; các bài
10
luan van thac si su pham,luan van ths giao duc12 of 141.


luan van thac si su pham,luan van ths giao duc13 of 141.


Luận văn nghiên cứu khảo sát các truyện ngắn của nhà văn Sơn Nam. Vì vậy, đối
tượng chính là: Tuyển tập các truyện ngắn của Sơn Nam do NXB Trẻ phát hành năm 2013,

11
luan van thac si su pham,luan van ths giao duc13 of 141.


luan van thac si su pham,luan van ths giao duc14 of 141.

bao gồm tập truyện ngắn Hương rừng Cà Mau (bản đặc biệt trọn bộ); tập truyện ngắn
Hương Quê - Tây Đầu Đỏ và một số truyện ngắn khác.
Ngoài ra, để phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài luận văn tôi còn tìm hiểu qua một số thể
loại khác của tác giả Sơn Nam như truyện vừa, khảo cứu lịch sử, hồi ký.
Tìm hiểu sơ qua các tác phẩm của một số tác giả văn học như Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương,
Hồ Biểu Chánh, Vũ Bằng, Nguyễn Khải…; và các sách viết về văn hóa, văn học dân gian.

4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu chính của luận văn là chất dân gian trong truyện ngắn Sơn Nam,
trong đó tập trung chủ yếu vào 2 tập truyện ngắn tiêu biểu: Tuyển tập trọn bộ Hương rừng
Cà Mau (65 truyện); tập truyện ngắn Hương Quê - Tây Đầu Đỏ và một số truyện ngắn khác
(30 truyện). Tổng cộng gần một trăm truyện ngắn.

5. Phương pháp nghiên cứu
Để có thể nghiên cứu đề tài Luận văn này, tôi đã đã sử dụng kết hợp nhiều phương pháp
nghiên cứu như sau:

- Phương pháp chung – tổng quát: Phương pháp triết học theo quan điểm duy vật lịch sử
- Phương pháp khoa học liên ngành: Ngữ văn học, dân tộc học, văn hóa học…

- Phương pháp kỹ thuật: Phương pháp thống kê – khảo sát – chọn mẫu – phân tích,

dân gian trong truyện ngắn Sơn Nam” không chỉ là vấn đề của văn học mà còn là vấn đề
cũng thuộc văn hóa học nói chung. Tiếp xúc với văn chương để con người trưởng thành
hơn, biết cảm thụ cái đẹp, biết trân trọng giá trị cuộc sống… và cái cao nhất cũng chính là
hướng con người đến cái được gọi là “văn hóa”. Qua đó góp phần khẳng định cách tiếp cận
văn học từ góc độ văn hóa dân gian là một trong những hướng nghiên cứu cần thiết trong
nghiên cứu văn học hiện nay.
Luận văn này cũng có thể dùng làm tư liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy,
tìm hiểu về tác giả Sơn Nam.
Đề tài luận văn này, như một lần nữa khẳng định vị trí và tầm ảnh hưởng của Sơn Nam
với lĩnh vực văn hóa nghệ thuật Nam Bộ, nhấn mạnh đến thành công của nhà văn ở thể loại
sáng tác văn học (mà truyện ngắn là tiêu biểu).
Cấu trúc luận văn:
PHẦN MỞ ĐẦU (11 trang)
PHẦN NỘI DUNG (150 trang)
Chương 1. Những vấn đề chung (40 trang)
Chương 2. Chất dân gian trong nội dung truyện ngắn Sơn Nam (72 trang)
Chương 3. Chất dân gian trong nghệ thuật truyện ngắn Sơn Nam (38 trang)
PHẦN KẾT LUẬN (3 trang)
Danh mục tài liệu tham khảo (6 trang)
Phụ lục (32 trang), gồm phụ lục 1, phụ lục 2, phụ lục 3

13
luan van thac si su pham,luan van ths giao duc15 of 141.


luan van thac si su pham,luan van ths giao duc16 of 141.

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1. Giới thuyết về các khái niệm: dân gian, văn hóa dân gian, chất dân gian
1.1.1. Khái niệm dân gian



luan van thac si su pham,luan van ths giao duc17 of 141.

Văn hóa dân gian là một thành tố thuộc phạm trù của dân gian. Có nhiều cách hiểu
khác nhau về văn hóa dân gian, trong phạm vi đề tài tìm hiểu, người viết sẽ trình bày một số
cách hiểu phổ biến như sau:
Trong tiếng Anh, thuật ngữ Folklore (được ghép từ 2 thành tố Folk: dân chúng, nhân
dân, đại chúng; lore: tri thức, trí khôn) được W J.Thom sử dụng đầu tiên vào năm 1846 đăng
trong một bài báo nhỏ trên tạp chí “The Atheneum” - Luân Đôn để chỉ "phong tục, tập
quán, nghi thức, mê tín, ca dao, tục ngữ... của người thời trước”. Theo W J.Thom thì
Folklore dùng để chỉ những di tích của nền văn hóa vật chất và chủ yếu là những di tích của
nền văn hóa tinh thần của nhân dân có liên quan với nền văn hóa vật chất như phong tục,
đạo đức, việc cúng tế, dị đoan, ca dao, cách ngôn của các thời trước
Từ điển bách khoa toàn thư Anh, 1964: Folklore là tên gọi chung, thống nhất của
những tín ngưỡng, truyền thống, thiên kiến đạo lí, nghi lễ, mê tín dị đoan của dân gian.
Những câu chuyện cổ, những bài tình ca, dân ca và những câu tục ngữ đều nằm trong khái
niệm này, và nhờ vào việc mở rộng ý nghĩa của khái niệm mà ngày nay, nó bao gồm cả
những yếu tố của văn hóa vật chất mà ban đầu nó không tính đến.
Định nghĩa Folklore của UNESCO: Folklore (trong nghĩa rộng văn hóa truyền thống
được lưu truyền, phổ biến rộng của nhân dân) là sáng tác để định hướng cho một nhóm
người nào đó và được hình thành theo truyền thống của các nhóm người, các thành viên,
phản ánh sự chờ đợi, niềm hy vọng của cộng đồng trong những biểu hiện tương ứng với nó
về nhận thức xã hội và văn hóa. “Các quy tắc, giá trị của Folklore được truyền đạt qua
truyền miệng, mô phỏng hoặc bằng những con đường khác. Hình thức của nó là ngôn từ, âm
nhạc, vũ đạo, trò chơi, thần thoại, phong tục, nghi lễ, nghề thủ công, kiến trúc và các loại
hình nghệ thuật khác” [52, tr.8].
Ở Việt Nam chúng ta, khái niệm dân gian từ lâu đã được các nhà nghiên cứu đề cập
đến. Cũng như cội nguồn hàm chứa trong Folklore đã được nhiều nhà nghiên cứu trên thế
giới đề cập đến, những gì thuộc về văn hóa dân gian bao gồm cả văn học, âm nhạc, hội họa,

gian bởi văn hóa dân gian cũng chính là biểu hiện của văn hóa dân tộc [52, tr.11].
Năm 2013 tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương đã được Tổ Chức Văn Hóa và Giáo Dục
Quốc Tế (UNESCO) công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Được biết, đây
là tín ngưỡng thờ cúng đầu tiên của nhân loại được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể.
Từ sự kiện này ta có dịp nhìn nhận lại hình thức thờ cúng các vua Hùng như một giá trị và
biểu tượng của văn hóa dân gian mà cụ thể ở đây là tín ngưỡng dân gian. Xét trong tương
quan văn hóa thì giá trị và biểu tượng cũng là hai phạm trù gắn bó hữu cơ với nhau. Khi giá
trị được kết tinh và làm nên cái cốt lõi sẽ tạo thành tính biểu tượng thẩm mỹ, trong mỗi biểu
tượng ta sẽ tìm thấy giá trị hay hệ thống các giá trị văn hóa. Và như thế, trong biểu tượng
Quốc tổ các Vua Hùng ta thấy các giá trị và tâm thức về cội nguồn và cố kết cộng đồng dân
tộc, một trong những nét đặc trưng của bản sắc văn hóa Việt Nam. Hệ giá trị của văn hóa
dân tộc, trước hết tiềm ẩn trong văn hóa dân gian. Các biểu tượng của văn hóa chủ yếu gắn
với văn hóa dân gian. Hệ biểu tượng này hình thành trong quá trình lịch sử lâu dài và quy
định những hành vi ứng xử của cộng đồng. Quốc tổ các Vua Hùng - biểu tượng về cội
16
luan van thac si su pham,luan van ths giao duc18 of 141.


luan van thac si su pham,luan van ths giao duc19 of 141.

nguồn, về tâm thức "uống nước nhớ nguồn", mà căn cỗi của nó là tục thờ cúng tổ tiên ở mỗi
gia tộc, dòng họ. Văn hóa dân gian với hệ giá trị và biểu tượng của nó đã làm nên cái gọi là
tâm thức dân gian, tâm hồn dân tộc. Những cái đó, tới lượt nó quy định các hành vi, tình
cảm, hoài vọng của con người.
Như vậy, có thể thấy rằng về thuật ngữ Folklore có nhiều cách luận giải khác nhau
nhưng tựa chung lại thì có thể nói Folklore đều được các học giả, các nhà nghiên cứu nhìn
nhận là tổng hợp các giá trị của văn hóa dân gian bao gồm cả giá trị vật chất và tinh thần,
tồn tại từ xa xưa và tiếp tục được lưu truyền phát triển đến hôm nay và mai sau. Đặc biệt,
các học giả cũng đã nhìn nhận Folklore như một cội nguồn của giá trị và sáng tạo cho con
nguời. Ngày nay, khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển nhưng văn hóa dân gian vẫn đóng

mèo mả gà đồng/Ra tuồng lúng túng chẳng xong bề nào; “Đội trời đạp đất ở đời/Họ từ, tên
Hải vốn người Việt Đông;”… Bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương cũng là tác giả sử dụng
khá nhiều chất liệu của văn học dân gian, văn hóa dân gian vào trong thơ như “Cố đấm ăn
xôi, xôi lại hỏng/Cầm bằng làm mướn, mướn không công”; “Bảy nổi ba chìm với nước
non”; “Đừng xanh như lá, bạc như vôi”; “Nòng nọc đứt đuôi từ đây nhé”…
Tùy theo từng trường hợp, từng tác giả, tùy hoàn cảnh cụ thể của nghệ thuật bác học,
chuyên nghiệp mà các chất liệu dân gian có sự thâm nhập ngẫu nhiên – không tự giác, do
cảm hứng của tác giả, nhưng cũng có những trường hợp tác giả cố ý khi đưa chất dân gian,
văn hóa dân gian vào trong hoạt động sáng tác nghệ thuật. Ở trường hợp của nhà văn Sơn
Nam chẳng hạn, theo ý kiến của cá nhân tôi thì chất dân gian được nhà văn sử dụng trong
các sáng tác của mình vừa là sự tự giác, ngẫu nhiên nhưng cũng có khi có dụng ý, tính toán
kỹ lưỡng. Nói chất dân gian đi vào tác phẩm Sơn Nam một cách ngẫu nhiên là bởi nếu
nghiên cứu sâu hơn về tác giả, tác phẩm ta sẽ thấy nhà văn vốn sinh ra, lớn lên và suốt cuộc
đời gắn bó mật thiết với đời sống của nhân dân lao động. Chính hoàn cảnh sống đó đã tác
động ít nhiều đến tư tưởng, cảm hứng của nhà văn. Ông am hiểu sâu sắc về mọi mặt của đời
sống của tầng lớp nhân dân lao động, và cuộc đời ông cũng sống giữa những người dân lao
động đó, không chỉ am hiểu mà Sơn Nam còn dành tình cảm đặc biệt với tầng lớp dân
nghèo, với quê hương “miền cố thổ” nên ông viết không chỉ bằng tài năng mà còn bằng cả
trái tim, tâm hồn với tình cảm sâu nặng. Đọc bất cứ tác phẩm nào của nhà văn, từ tiểu
thuyết, biên khảo, hồi ký và đặc biệt là mảng truyện ngắn ta đều thấy chất dân gian “ngồn
ngộn”. Đó có thể là những câu chuyện của dân gian vẫn thường truyền miệng nay được ông
thi vị hóa thành tác phẩm văn chương như sự tích Đánh cọp Gò Quao trong tác phẩm cùng
tên hoặc có khi là những câu văn ăm ắp thành ngữ, tục ngữ, ca dao với số lượng lên đến gần
700 câu trong gần 100 truyện ngắn, có những truyện mà số lượng các thành ngữ, tục ngữ
xuất hiện khá nhiều như truyện Đơn Hùng Tín chào đời (21 lần), Con Bảy đưa đò (16 lần),
Ruộng Lò Bom (19 lần)… và đặc biệt là trong tập truyện ngắn Hương rừng Cà Mau thì ở bất
cứ truyện ngắn nào cũng có sự xuất hiện một trong các thể loại thành ngữ, tục ngữ, ca dao,
câu đối, vè; tính trung bình mỗi tác phẩm có từ 4-5 câu thành ngữ, tục ngữ, ca dao, câu
đối… Là nhà văn chuyên nghiệp nên Sơn Nam rất ý thức đến nghề nghiệp của mình. Và lẽ
dĩ nhiên, với nhà văn việc sáng tạo ra tác phẩm cũng bao hàm chủ ý nào đó. Sơn Nam đưa

học nghệ thuật quan phương, bác học trước hết là trong chính chủ thể sáng tạo – tác giả; sau
đó là trong chính tác phẩm và sau cùng là hoạt động tiếp nhận. Để kiểm chứng điều này
không khó, bởi như đã nói ở trên, với bất cứ ai thì dân gian, văn hóa dân gian mà cụ thể là
chất dân gian cũng đều có sự hiển diện và với người nghệ sĩ thì điều đó lại càng ý nghĩa và
thể hiện rõ hơn bao giờ hết bởi ngoài tài năng thì nghệ sĩ thường là những người có tâm hồn
và trái tim nhạy cảm. Vì thế sự cảm nhận, tiếp biến chất dân gian càng sâu sắc hơn. Người
nghệ sĩ, cho dù hoạt động sáng tác ở mảng nào, thời kỳ nào, chọn đề tài khác nhau, cách
thức sáng tạo nghệ thuật khác nhau nhưng tất cả đều có chung một điểm gặp gỡ là đều xoay
19
luan van thac si su pham,luan van ths giao duc21 of 141.


luan van thac si su pham,luan van ths giao duc22 of 141.

quanh các vấn đề của cuộc sống và những gì liên quan đến người dân lao động có vị trí và
vai trò quan trọng.
Sự ảnh hưởng của chất dân gian với văn học, nghệ thuật quan phương, bác học là điều
hiển nhiên. Các nhà văn thuộc dòng văn học bác học cũng chịu ảnh hưởng ít nhiều chất dân
gian từ đề tài, chủ đề, cảm hứng sáng tác, nhân vật, cốt truyện, kết cấu… Ví dụ như Truyện
người con gái Nam Xương là một tác phẩm in trong tập Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ,
vì thế đây là tác phẩm thuộc văn học viết nhưng câu chuyện lại thể hiện nhiều chất dân gian
trong đó: nội dung về sự chuyển kiếp  tín ngưỡng dân gian; cốt truyện như truyện cổ tích
(Tấm Cám, Sự tích chú Cuội); khai thác lối kể chuyện như truyện dân gian “ngày xửa ngày
xưa”; mô típ nhân vật: người yếu thế, khổ đau, bị oan ức mà chết  được thần tiên giúp đỡ
 giải oan, được hưởng cuộc sống hạnh phúc, ấm no  kết thúc có hậu…
Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp cũng là một nhà văn bác học sử dụng khá nhiều chất dân
gian trong văn học. Các truyện ngắn của ông như Những ngọn gió Hua Tát, Phẩm tiết, Chảy
đi sông ơi, Những người thợ xẻ, Nàng Bua… đều mang trong đó chất dân gian từ đề tài viết
về những thân phận mồ côi nghèo khổ, những tình tiết hư hư thực thực mang màu sắc cổ
tích thần kỳ như chết đi sống lại, hóa kiếp…

nó. Về vấn đề này trong Góp phần phê phán chính trị kinh tế học, C.Mác đã viết: “Tiền đề
của nghệ thuật Hy Lạp là thần thoại Hy Lạp, tức là tự nhiên và bản thân các hình thái xã hội
đã được trí tưởng tượng của dân gian chế biến đi một cách điệu nghệ và vô ý thức. Đó là
những vật liệu của nghệ thuật Hy Lạp” [33, tr.286].
Dân gian, văn hóa dân gian, chất dân gian là cội nguồn, là gốc rễ của văn hóa nghệ
thuật nói chung, vai trò của kho tàng tri thức, kinh nghiệm, giá trị, văn hóa dân gian đã được
nhìn nhận và khẳng định với những ý nghĩa không thể thay thế vì tất cả được nảy sinh, tồn
tại dưới dạng nguyên hợp, các bộ phận gắn bó chặt chẽ với nhau. Nói về điều này, tác giả
Hoài Thanh đã viết "Từ thủa sơ sinh, nhạc, thơ, múa và kịch đều chung một mâm. Đến khi
lớn lên thì các loại hình tách bạch ra, nhưng vẫn phải nương tựa vào nhau. Thơ dân gian tồn
tại, phát triển và lưu truyền bằng hát đối đáp. Nếu bỏ nhạc thì múa khó thành. Mất sự tích
văn học, mất làn điệu, mất múa thì chèo cũng mất. Tranh Đông Hồ cũng phải đi liền với hội
tết" [69, tr.68]. Như một triết lý nhân sinh mà ông cha ta đã đúc kết qua bao thế hệ rằng tất
cả mọi thứ trong cuộc sống này đều có cội nguồn, gốc rễ của nó “Chim có tổ, người có
tông/Như cây có cội như sông có nguồn” và ta có thể xem chất dân gian, văn hóa dân gian
là cội nguồn của văn hóa, văn học nghệ thuật, là “cội nguồn của văn hóa dân tộc” là "văn
hóa gốc", "văn hóa mẹ". Và như thế, cũng là một cách ta thừa nhận văn hóa dân gian gắn
với lịch sử lâu đời của dân tộc, là nguồn sản sinh và tiếp tục nuôi dưỡng văn hóa dân tộc.
Kho tàng tri thức, kinh nghiệm, giá trị, văn hóa dân gian, chất dân gian là thành tựu
sáng tạo của quần chúng nhân dân tồn tại và lưu truyền qua nhiều thế hệ. Khi nói đến văn
hóa của một dân tộc, một đất nước người ta thường nói đầu tiên đến văn hóa dân gian, hay
văn hóa của dân tộc. Qua kho tàng tri thức, kinh nghiệm, giá trị, văn hóa dân gian nhân dân
lao động tự biểu hiện mình, tự phản ánh cuộc sống của mình. Cũng nhờ đó mà các giá trị kết

21
luan van thac si su pham,luan van ths giao duc23 of 141.


luan van thac si su pham,luan van ths giao duc24 of 141.


âm nhạc hiện đại. Ở đây, sự hòa lẫn và kết hợp diễn ra trên nhiều góc độ khác nhau, đôi khi
rất khó phân biệt. Đó có thể là những bài hát mang âm hưởng dân ca, những bài hát mới
22
luan van thac si su pham,luan van ths giao duc24 of 141.


luan van thac si su pham,luan van ths giao duc25 of 141.

được hòa âm phối khí theo phong cách âm nhạc dân gian và ngược lại. Sự hình thành và
phát triển của dòng nhạc mang âm hưởng dân gian đương đại cho thấy chất dân gian trong
lĩnh vực âm nhạc vẫn là cội nguồn và là dòng chảy bất tận cho âm nhạc hiện đại. Sự đón
nhận của công chúng yêu nhạc với dòng hạc này là một minh chứng cho thấy sự thu hút và
sức sống mãnh liệt của dòng nhạc này. Có thể kể ra đây một số ca khúc mang âm hưởng của
dòng nhạc dân gian đương đại được nhiều người yêu mến như Người đi xây hồ Kẻ Gỗ, Khúc
tâm tình của người Hà Tĩnh (nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý), Ca dao em và tôi, Huế thương (An
Thuyên) mang âm hưởng dân ca Bắc Trung Bộ; Chảy đi sống ơi, Trên đỉnh Phù Vân (nhạc
sĩ Phó Đức Phương) mang âm hưởng dân ca Bắc Bộ. Hiện nay các nhạc sĩ trẻ cũng đã vận
dụng hài hòa giữa âm nhạc hiện đại và âm nhạc dân gian truyền thống để “thổi thêm làn gió
mới” vào ca khúc, được công chúng đón nhận như Giếng làng, À í a (Lê Minh Sơn), Con cò
(Lưu Hà An), Bà tôi (Vĩnh Tiến), Quạt giấy (Lưu Thiên Hương)…
Văn hóa dân gian, chất dân gian là nguồn tư liệu quý giá cho nghệ sĩ sáng tác nghệ
thuật. Sự tiếp nhận của người nghệ sĩ với văn hóa dân gian diễn ra trên nhiều bình diện và
mang tính tổng hợp. Bởi vì những gì thuộc về chất dân gian bao gồm nhiều thành tố cấu
thành, gần gũi với đời sống của nhân dân nên cùng lúc sẽ có thể có nhiều loại hình của văn
hóa dân gian tác động đến người nghệ sĩ… Ví dụ thực tế sáng tạo loại hình kịch xiếc ở Việt
Nam cho thấy, nó gắn kết chặt chẽ với truyện cổ tích, thần thoại, sử thi của người Việt. Ý
thức đầu tiên của các đạo diễn kịch xiếc chính là việc đi tìm sự tương đồng giữa văn hóa
dân gian và đặc trưng ngôn ngữ xiếc: tính nghịch thường, phi lý, kỳ lạ, phi thường, biến
ảo… Ý thức ban đầu đã dần được nâng lên thành nhận thức khi người nghệ sĩ tìm thấy
những điểm tương đồng phù hợp cho sáng tạo kịch xiếc ở những cốt truyện dân gian phong


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status