Giải pháp huy động nguồn lực tài chính cho phát triển kinh tế xã hội cấp xã thực hiện chương trình nông thôn mới trên địa bàn huyện gia lộc, tỉnh hải dương - Pdf 43

i

LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết
quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ
công trình nghiên cứu nào khác.
Tác giả

Đoàn Thị Hân


ii

LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn này, tác giả đã nhận được
sự quan tâm, tạo điều kiện giúp đỡ của Ban giám hiệu, Khoa Đào tạo Sau Đại học,
Bộ môn Tài chính kế toán – Trường Đại học Lâm Nghiệp, Phòng Tài chính kế
hoạch huyện Gia Lộc,.... Nhân dịp này tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn tới sự quan
tâm giúp đỡ quý báu đó.
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS. Lê Thu Huyền với tư cách là
người hướng dẫn khoa học đã tận tình giúp đỡ và có những đóng góp cho luận văn.
Tác giả xin gửi lời cảm ơn sự ủng hộ giúp đỡ của gia đình, cảm ơn những
nhận xét, đóng góp ý kiến và sự động viên của bạn bè đồng nghiệp.
Tôi xin cam đoan các số liệu thu thập, tính toán là trung thực và được trích
dẫn rõ ràng.
Tác giả

Đoàn Thị Hân


iii


2.1. Đặc điểm của địa bàn nghiên cứu...............................................................3434
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội huyện Gia Lộc – Hải Dương .............34
2.1.2. Điều kiện phát triển kinh tế - xã hội ........................................................38
2.1.3. Đánh giá ban đầu về NTM tại các xã trên địa bàn huyện Gia Lộc..........47


iv

2.1.4. Tình hình thực hiện chương trình Nông thôn mới tại các xã điểm trên địa
bàn huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương ..................................................................52
2.2. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................58
2.2.1. Khung logic nghiên cứu ...........................................................................58
2.2.2. Phương pháp nghiên cứu .........................................................................59
Chương 3.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.............................................................................63

3.1. Thực trạng huy động nguồn lực tài chính cho phát triển KTXH cấp xã thực
hiện chương trình NTM trên địa bàn huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương .................63
3.1.1. Thực trạng huy động nguồn lực tài chính cho phát triển KTXH thực hiện
chương trình NTM tại các xã trên địa bàn huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương .....63
3.1.2. Nhận xét chung về kết quả huy động NLTC tại 3 xã chọn nghiên cứu...87
3.1.3. Đánh giá về hoạt động huy động NLTC cho việc thực hiện chương trình
NTM tại các xã trên địa bàn huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương ..........................90
3.2. Các giải pháp huy động nguồn lực tài chính cho phát triển kinh tế - xã hội
thực hiện chương trình Nông thôn mới tại các xã trên địa bàn huyện Gia Lộc, tỉnh
Hải Dương .............................................................................................................95
3.2.1. Phương hướng ..........................................................................................95
3.2.2. Giải pháp ..................................................................................................98
3.2.3. Kiến nghị………………………….………………………………………….101
KẾT LUẬN......................................................................................................................102

Kinh tế xã hội

NLTC

Nguồn lực tài chính

NSNN

Ngân sách nhà nước

NSX

Ngân sách xã

NTM

Nông thôn mới

QCDC

Quy chế dân chủ

UBND

Ủy ban nhân dân

XDCB

Xây dựng cơ bản


46

3.1

3.2

3.3

3.4

Kết quả huy động nguồn lực tài chính huy động thực hiện chương
trình NTM trên địa bàn huyện Gia Lộc đến tháng 6 năm 2012
Tình hình huy động NLTC thực hiện chương trình NTM trên địa
bàn huyện Gia Lộc năm 2012
Kết quả điều tra mức độ đóng góp của người dân tham gia xây
dựng NTM
Kế hoạch huy động vốn cho phát triển KTXH thực hiện chương
trình NTM tại xã Gia Khánh

Trang

63

65

68

70

Kết quả huy động nguồn lực tài chính cho phát triển kinh tế xã hội


năm 2012
3.10

Kết quả huy động nguồn lực tài chính tại 3 xã nghiên cứu năm
2011 – 2012

89


vii

DANH MỤC CÁC HÌNH

TT
1.1

2.1

2.2

2.3

Tên hình
Sơ đồ bộ máy nhà nước CHXHCN Việt Nam
Cơ cấu GTSX các nhóm ngành kinh tế huyện Gia Lộc so
với tỉnh Hải Dương năm 2011
Mức thu nhập bình quân đầu người của các xã trên địa bàn
huyện Gia Lộc năm 2010
Tình hình xây dựng các tiêu chí xây dựng NTM tại các xã

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
1.Tính cấp thiết của đề tài
Trong số những đơn vị hành chính cấp cơ sở nước ta thì xã là đơn vị nhỏ
nhất, có số lượng nhiều nhất. Vì vậy, để đảm bảo quá trình phát triển kinh tế xã hội
bền vững, thì cần phải được thực hiện từ đơn vị cơ sở này, đặc biệt những xã nông
thôn là những nơi mà điều kiện phát triển khó khăn nhất. Sau hơn 20 năm đổi mới,
sự phát triển kinh tế xã hội của khu vực nông thôn đã góp phần quan trọng vào việc
ổn định kinh tế, xã hội, chính trị trên cả nước,nâng cao đời sống người dân. Tuy
nhiên, với thực trạng này chưa thực sự tương xứng với tiềm năng và thế mạnh vốn
có của các vùng nông thôn. Một trong những nguyên nhân chủ yếu là phát huy nội
lực của các xã còn thấp, đặc biệt là khả năng khai thác nguồn lực tài chính phục vụ
cho công cuộc phát triển kinh tế xã hội. Vì vậy, tập trung xây dựng các giải pháp
huy động nguồn lực tài chính thực hiện phát triển kinh tế xã hội cấp xã là vấn đề
cần được quan tâm.
Hiện nay, gắn với quá trình phát triển kinh tế xã hội cấp xã, Thủ tướng Chính
phủ đã ra Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/06/2010 nhằm phê duyệt chương
trình mục tiêu quốc gia về nông thôn mới. Mục tiêu của Chương trình gắn chặt với
mục tiêu của phát triển kinh tế xã hội cấp xã. Đây là một chủ trương mang tính
chiến lược mở ra cơ hội phát triển mới nông thôn nói riêng và cho cả nước nói
chung. Và để thực hiện được các mục tiêu đó thì vấn đề tiên quyết là nguồn lực tài
chính.
Tỉnh Hải Dương đã triển khai Chương trình nông thôn mới trên phạm vi toàn
tỉnh và đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Tại huyện Gia Lộc, tỉnh Hải
Dương, với lợi thế là một huyện đang phát triển và có nhiều thế mạnh để xây dựng
thành công chương trình nông thôn mới. Tuy nhiên, cũng như nhiều địa phương
khác, việc thực hiện chương trình nông thôn mới tại các xã của huyện Gia Lộc đang
gặp nhiều khó khăn trong việc huy động nguồn lực tài chính để thực. Xuất phát từ
tình hình trên, việc tìm biện pháp nhằm huy động có hiệu quả nguồn lực tài chính

3.2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
+ Phạm vi về nội dung: Tập trung đánh giá thực trạng huy động nguồn lực
tài chính cấp xã trên địa bàn huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương.
+ Phạm vi về không gian: Nghiên cứu công tác huy động nguồn tài chính
phát triển kinh tế xã hội cấp xã trên địa bàn huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương tại các
xã Gia Khánh, Hoàng Diệu, Quang Minh.


3

+ Phạm vi về thời gian: Thu thập và phân tích tài liệu, số liệu về tài chính
của các xã trên địa bàn huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương trong thời gian từ năm 2005
đến tháng 6 năm 2012.
4. Kết cấu của luận văn
Luận văn được chia thành 3 chương sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về nguồn lực tài chính thực hiện
phát triển KTXH cấp xã thực hiện chương trình NTM
Chương 2: Đặc điểm huyện Gia lộc và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu


4

Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
VỀ NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH THỰC HIỆN PHÁT TRIỂN KTXH CẤP XÃ
THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH NTM
1.1. Cơ sở lý luận về nguồn lực và nguồn lực tài chính cấp xã
1.1.1. Đặc điểm cấp xã và nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội cấp xã
1.1.1.1. Đặc điểm cấp xã


Hình 1.1. Sơ đồ bộ máy nhà nước CHXHCN Việt Nam


5

Cán bộ cấp xã là những người trực tiếp thu nhận, lắng nghe, tiếp thu các ý
kiến, những đề xuất, kiến nghị của nhân dân. Do vậy, họ cũng là cấp phải phản ánh
một cách trung thực những nguyện vọng, mong muốn, nhu cầu của người dân lên
các cơ quan cấp trên và đề xuất những giải pháp trong việc giải quyết những vướng
mắc, thoả mãn những nhu cầu, mong muốn của nhân dân nói chung và của mỗi
người dân nói riêng.
Nếu chính quyền cấp xã làm việc có hiệu quả thì đường lối, chính sách của
Đảng và Nhà nước sẽ dễ dàng đi vào cuộc sống, trở thành hoạt động thực tế của
nhân dân, tạo ra sự phấn khởi, sự tin tưởng của nhân dân vào Đảng và Nhà nước;
đồng thời tạo ra sự hiểu biết, thông cảm lẫn nhau giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân.
Đồng thời, nhiều công việc được giải quyết ở địa bàn xã mang tính chất tự
quản. Vì vậy, đòi hỏi chính quyền cấp xã phải luôn chủ động, năng động với năng
lực điều hành và trách nhiệm rất cao.
Ủy ban Nhân dân cấp xã là cấp chính quyền địa phương cấp cơ sở, gần dân
nhất ở Việt Nam. Ủy ban Nhân dân cấp xã có từ 4 đến 5 thành viên, gồm Chủ tịch,
2 Phó Chủ tịch, 1 ủy viên quân sự và 1 ủy viên công an. Người đứng đầu Ủy ban
Nhân dân cấp xã là Chủ tịch Ủy ban Nhân dân do do Hội đồng Nhân dân của xã, thị
trấn hay phường đó bầu ra bằng hình thức bỏ phiếu kín. Thông thường, Chủ tịch Ủy
ban Nhân dân xã, thị trấn hay phường sẽ đồng thời là một Phó Bí thư Đảng ủy của
xã, thị trấn hay phường đó. Ủy ban Nhân dân cấp xã hoạt động theo hình thức
chuyên trách và không chuyên trách.
Bộ máy giúp việc của Ủy ban Nhân dân cấp xã có các công chức; Tư pháp Hộ tịch, Địa chính - Xây dựng, Tài chính - Kế toán, Văn phòng - Thống kê, Văn
hóa - Xã hội, Chỉ huy Trưởng quân sự, Trưởng công an.
Hội đồng nhân dân xã quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương

UBND đã xây dựng, đồng thời giám sát việc thực hiện các hoạt động đó.
Trong việc xây dựng chính quyền địa phương, Hội đồng nhân dân xã bầu,
miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch, Phó
Chủ tịch và thành viên khác của Uỷ ban nhân dân cùng cấp; bãi nhiệm đại biểu Hội
đồng nhân dân và chấp nhận việc đại biểu Hội đồng nhân dân xin thôi làm nhiệm vụ
đại biểu theo quy định của pháp luật; bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ
do Hội đồng nhân dân bầu; bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ quyết định, chỉ thị trái


7

pháp luật của Uỷ ban nhân dân cùng cấp; thông qua đề án thành lập mới, nhập, chia
và điều chỉnh địa giới hành chính ở địa phương để đề nghị cấp trên xem xét, quyết
định.
Nhiệm vụ của các cấp chính quyền là làm thế nào để xây dựng được các
chính sách thực hiện thành công các mục tiêu đó. Đặc biệt, HĐND các cấp cần theo
dõi sát sao các hoạt động của các cấp chính quyền để thực hiện các mục tiêu phát
triển kinh tế xã hội. Các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội cụ thể như sau:
Về kinh tế,
Xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, phát triển nông
nghiệp, nông thôn trong phạm vi quản lý; xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã
hội của xã trình Hội đồng nhân dân cấp xã.
Ngoài ra, trong mục tiêu của chương trình NTM hiện nay cụ thể hóa hơn các
mục tiêu này với những tiêu chí rõ ràng là xây dựng cộng đồng có kết cấu hạ tầng
kinh tế - xã hội ngày càng hoàn thiện; cơ cấu kinh tế hợp lý, các hình thức tổ chức
sản xuất tiên tiến; gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ và du
lịch; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo qui hoạch; từng bước thực hiện công
nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn; và phát triển nông nghiệp theo
hướng bền vững trên cơ sở tổng thể tạo môi trường sinh thái bền vững, có tiềm lực
kinh tế, thỏa mãn nhu cầu của con người mà không làm hủy hoại môi trường sống;

nhau nên mức độ đạt được các mục tiêu phát triển KTXH cũng không đồng nhất. Vì
vậy, để đưa ra những tiêu chí đo lường sự phát triển, phát huy tính tự chủ, khai thác
các tiềm năng ngay tại địa phương... Để khắc phục những hạn chế đó, thủ tưởng
Chính phủ đã ra Quyết định 800/QĐ-TTg về việc ban hành bộ tiêu chí quốc gia xây
dựng chương trình NTM. Các mục tiêu của chương trình NTM hiện nay đều là mục
tiêu phát triển kinh tế xã hội cấp xã. Vì vậy, việc thực hiện các tiêu chí của chương
trình NTM cũng chính là phát triển kinh tế xã hội cấp xã. Mặt khác, hạn chế trong
việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội cũng là lý do để thực hiện
chương trình NTM hiện nay.
1.1.2. Chương trình Nông thôn mới
Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới là một chương
trình về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Đây là Chương trình mục tiêu Quốc gia


9

mang tính toàn diện, vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển lâu dài, bền vững ở
khu vực nông thôn, hướng đến “Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng,
văn minh”, phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của cấp xã.
1.1.2.1. Xây dựng Nông thôn mới là gì?
Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị
xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là UBND xã.
Xây dựng nông thôn mới là cuộc cách mạng và cuộc vận động lớn để cộng
đồng dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, xã, gia đình của mình khang
trang, sạch đẹp; phát triển sản xuất toàn diện (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ);
có nếp sống văn hoá, môi trường và an ninh nông thôn được đảm bảo; thu nhập, đời
sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao. Nhằm thực hiện các mục tiêu
phát triển kinh tế xã hội của cấp xã.
Xây dựng nông thôn mới là sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân,
của cả hệ thống chính trị. Nông thôn mới không chỉ là vấn đề kinh tế - xã hội, mà là

nông thôn vẫn còn nhiều nhà tạm, dột nát. Hiện nay, kinh tế - xã hội khu vực nông
thôn chủ yếu phát triển tự phát, chưa theo quy hoạch.
Do yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, cần 3 yếu
tố chính: đất đai, vốn và lao động kỹ thuật. Qua việc xây dựng nông thôn mới sẽ triển
khai quy hoạch tổng thể, đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa.
Mặt khác, mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công
nghiệp. Vì vậy, một nước công nghiệp không thể để nông nghiệp, nông thôn lạc
hậu, nông dân nghèo khó.
Nông thôn hiện nay có nhiều hạn chế trong quá trình phát triển kinh tế xã
hội. Để khắc phục những hạn chế đó, thủ tưởng Chính phủ đã ra Quyết định
800/QĐ-TTg về việc ban hành bộ tiêu chí quốc gia xây dựng chương trình NTM.
Các mục tiêu của chương trình NTM hiện nay đều là mục tiêu phát triển kinh tế xã
hội cấp xã. Vì vậy, việc thực hiện các tiêu chí của chương trình NTM cũng chính là
phát triển kinh tế xã hội cấp xã. Mặt khác, hạn chế trong việc thực hiện các mục tiêu
phát triển kinh tế xã hội cũng là lý do để thực hiện chương trình NTM hiện nay.[5]
1.1.2.3. Tiêu chí xây dựng nông thôn mới
Xây dựng bộ tiêu chí là cụ thể hóa đặc tính của xã NTM thời kỳ đẩy mạnh
CNH–HĐH; bộ tiêu chí là căn cứ để xây dựng nội dung Chương trình mục tiêu quốc
gia về xây dựng NTM, là chuẩn mực để các xã lập kế hoạch phấn đấu đạt 19 tiêu chí


11

nông thôn mới; là căn cứ để chỉ đạo và đánh giá kết quả thực hiện xây dựng NTM của
các địa phương trong từng thời kỳ; đánh giá công nhận xã, huyện, tỉnh đạt nông thôn
mới; đánh giá trách nhiệm của các cấp uỷ Đảng, chính quyền xã trong thực hiện nhiệm
vụ xây dựng nông thôn mới.
Ngày 19/4/2009, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 491/QĐ-TTg,
ban hành "Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới” bao gồm 19 tiêu chí và được chia
thành 5 nhóm:

Công khai, minh bạch về quản lý, sử dụng các nguồn lực; tăng cường phân
cấp, trao quyền cho cấp xã quản lý và tổ chức thực hiện các công trình, dự án của
Chương trình xây dựng NTM; phát huy vai trò làm chủ của người dân và cộng
đồng, thực hiện dân chủ cơ sở trong quá trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và
giám sát, đánh giá.
Dân chủ cơ sở cả khâu xây dựng quy hoạch, kế hoạch, tổ chức thực hiện; hình
thành cuộc vận động “Toàn dân xây dựng nông thôn mới” và vận động mọi tầng lớp
nhân dân tham gia, phát huy vai trò chủ thể trong việc xây dựng nông thôn mới.
1.1.2.5. Mục tiêu của chương trình Nông thôn mới
- Xây dựng cộng đồng xã hội văn minh, có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ngày
càng hoàn thiện; cơ cấu kinh tế hợp lý, các hình thức tổ chức sản xuất tiên tiến;
- Gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ và du lịch; gắn
phát triển nông thôn với đô thị theo qui hoạch; từng bước thực hiện công nghiệp hoá
- hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn;
- Xây dựng xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc;
trình độ dân trí được nâng cao; môi trường sinh thái được bảo vệ;
- Hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật
chất và tinh thần của người dân không ngừng được cải thiện và nâng cao.[5]
1.1.3. Nguồn lực tài chính cho phát triển KTXH cấp xã thực hiện chương trình NTM
1.1.3.1. Nguồn lực
Nguồn lực là tổng thể vị trí, các nguồn tài nguyên thiên nhiên, hệ thống tài
sản quốc gia, nguồn nhân lực, đường lối chính sách, vốn và thị trường... ở cả trong
nước và nước ngoài có thể được khai thác nhằm phục vụ cho việc phát triển kinh tế
của một lãnh thổ nhất định.


13

Trong quá trình phát triển KTXH, mọi quốc gia luôn phải đối mặt với tình
trạng nhu cầu vô hạn và nguồn lực có hạn. Ở những nước nghèo và địa phương

Các nguồn lực nói trên đều có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển
KTXH của địa phương. Nguồn tài lực tạo nền móng cho sự phát triển. Nguồn vật
lực được coi là nguyên liệu cho sự phát triển, Nguồn nhân lực là yếu tố quan
trọng để biến những tiềm năng vật chất thành hiện thực, tạo ra sự thay đổi.
NLTC là yếu tố gắn kết và phát huy hiệu quả của các nguồn lực khác. Vì vậy, để
thực hiện mục tiêu KTXH của mình, chính quyền địa phương phải có cách nhìn
tổng thể trong việc huy động và sử dụng hiệu quả tất cả các nguồn lực này. Phối
hợp hay gắn kết các yếu tố nguồn lực cho sự phát triển có vai trò quan trọng cho
sự thành công của phát triển. Bởi vì trong điều kiện về nguồn lực tài chính luôn
hạn chế, không nhất thiết bất kỳ hoạt động nào trong xã cũng cần phải sử dụng
đến nguồn lực tài chính mà chỉ cần sự đồng thuận, hay sự đóng góp của người
dân, chẳng hạn mục tiêu bảo vệ môi trường, xây dựng cơ sở hạ tầng như đường
giao thông nông thôn, tu bổ kênh mương, thủy lợi tại địa phương…
1.1.3.2. Nguồn lực tài chính cho phát triển KTXH cấp xã
Như vậy, trong 3 yếu tố nguồn lực ở trên, nguồn lực tài chính là yếu tố quan
trọng và có tính quyết định cho việc thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế xã hội.
Vấn đề đặt ra đối với các địa phương, đó là làm thế nào để xác định được nhu cầu
về vốn và huy động vốn trên cơ sở khai thác các tiềm năng của mình. Hơn nữa, hiện
nay cùng với quá trình phát triển kinh tế xã hội của các địa phương, việc thực hiện
chương trình xây dựng Nông thôn mới chính là thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế
xã hội cấp xã. Vì vậy, để thực hiện thành công các mục tiêu đó thì cần phải kết hợp
có hiệu quả các nguồn lực tài chính huy động được.
Nguồn lực tài chính là nguồn nhân tố không thể thiếu trong quá trình phát
triển kinh tế - xã hội của một nước nói chung và đối với chương trình NTM hiện
nay nói riêng. Huy động, phân bố và sử dụng có hiệu quả nguồn lực tài chính là vấn
đề mang tính thời sự. Trong điều kiện nguồn lực tài chính cho chương trình còn hạn
chế, việc phân bổ và sử dụng có hiệu quả nguồn lực tài chính càng trở nên quan
trọng hơn.



trình 135; Chương trình 30a; Chương trình nông thôn mới…


16

Nguồn ngoài NSNN bao gồm các NLTC mà địa phương có thể huy động
được từ các dự án tài trợ; nguồn vốn tín dụng của các tổ chức tín dụng; nguồn vốn
đầu tư của các doanh nghiệp đóng trên địa bàn; nguồn hỗ trợ từ các tổ chức bảo
hiểm; nguồn đóng góp của dân hay các nguồn hỗ trợ khác…
Việc nhìn nhận đầy đủ các loại NLTC cho phép chính quyền cấp xã có được
bức tranh về tổng thể nguồn lực. Nó không những chỉ ra khả năng huy động các
nguồn lực trên địa bàn, mà còn giúp chính quyền xã có kế hoạch lồng ghép, sử dụng
các nguồn lực đó một cách chủ động và hiệu quả nhất cho các mục tiêu phát triển
KTXH của địa phương.
1.1.3.3. Nguồn lực tài chính cho việc thực hiện chương trình Nông thôn mới
Chương trình xây dựng Nông thôn mới được xây dựng trên cơ sở huy động
mọi nguồn lực của xã hội gồm: Đóng góp của cộng đồng (bao gồm cả công sức, tiền
của đóng góp và tài trợ của các tổ chức, cá nhân); Vốn đầu tư của các doanh nghiệp;
Vốn tín dụng (bao gồm cả đầu tư phát triển và thương mại); Hỗ trợ từ ngân sách nhà
nước; Vốn tài trợ khác.
Khi xây dựng nông thôn mới cần có sự kế thừa, lồng ghép các chương trình,
dự án đang và sẽ triển khai trên địa bàn. Các công trình xây dựng phải trên cơ sở
chỉnh trang, nâng cấp là chính để giảm thiểu nguồn lực trong điều kiện kinh tế còn
khó khăn và đảm bảo: huy động tối đa nguồn lực tại địa phương (tại chỗ); huy động
và khai thác hiệu quả vốn đầu tư của doanh nghiệp; sử dụng nguồn vốn ngân sách
trung ương từ các chương trình, dự án hiện có thông qua cơ chế lồng ghép trên địa
bàn; dưạ vào nội lực là chính, nhà nước chỉ hỗ trợ một phần.
Trên cơ sở các nguồn vốn huy động nêu trên, để sử dụng có hiệu quả khi
thực hiện chương trình NTM thì phải kết hợp có hiệu quả các nguồn vốn đó:
Nguồn lực tài chính từ ngân sách: Tỷ lệ huy động là 40%. Cách thức huy

- Mức hỗ trợ từ ngân sách trung ương cho các địa phương căn cứ điều kiện
kinh tế - xã hội để bố trí phù hợp với quy định tại Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7
Ban Chấp hành Trung ương khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Ưu tiên
hỗ trợ cho các địa phương khó khăn chưa tự cân đối ngân sách, địa bàn đặc biệt khó
khăn và những địa phương làm tốt.
- Chính quyền địa phương (tỉnh, huyện, xã) không quy định bắt buộc nhân
dân đóng góp, chỉ vận động bằng các hình thức thích hợp để nhân dân tự nguyện


18

đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội của địa phương. Nhân dân trong
xã bàn bạc mức tự nguyện đóng góp cụ thể cho từng dự án, đề nghị Hội đồng nhân
dân xã thông qua.
- Hộ nghèo tham gia trực tiếp lao động để xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội của địa phương được chính quyền địa phương xem xét, trả thù lao theo mức
phù hợp với mức tiền lương chung của thị trường lao động tại địa phương và khả
năng cân đối ngân sách địa phương. Ủy ban nhân dân địa phương xem xét, quyết
định mức thù lao cụ thể sau khi trình Thường trực Hội đồng nhân dân cùng cấp. Ủy
ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo, hướng dẫn các sở,
ban, ngành, huyện, xã triển khai thực hiện.[6]
Do nhu cầu thì vô hạn nhưng nguồn lực thì có hạn, vì vậy mỗi xã cần phải sử
dụng có hiệu quả các nguồn lực huy động được, kết hợp các nguồn lực một cách hài
hòa để đạt được mục tiêu cao nhất. Lồng ghép nguồn vốn trên địa bàn của xã để
thực hiện một hoặc nhiều chương trình dự án, chế độ, chính sách: xác định thứ tự
ưu tiên trong dự toán ngân sách và kế hoạch đầu tư phát triển năm, phù hợp với Đề
án xây dựng Nông thôn mới; thực hiện từ khâu lập, phân bổ, giao dự toán ngân sách
và kế hoạch đầu tư phát triển, thực hiện, giám sát và đánh giá kết quả; phải đảm bảo
không làm thay đổi mục tiêu, tổng mức vốn đầu tư phát triển; UBND xã có trách
nhiệm huy động các nguồn lực trên địa bàn; UBND xã phải thông báo công khai
mức đầu tư cho từng công trình, dự án, nhiệm vụ và mức hỗ trợ cho từng đối tượng;


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status