i
LỜI CẢM ƠN
Luận văn Thạc sỹ khoa học lâm nghiệp “Nghiên cứu đề xuất quy
hoạch bảo vệ và phát triển rừng huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội giai đoạn
2012 -2020" được hoàn thành theo chương trình Đào tạo Sau đại học của
trường Đại học Lâm nghiệp, niên khóa 2010 - 2012.
Với tấm lòng biết ơn sâu sắc của bản thân, tôi xin gửi lời cảm ơn sự
hướng dẫn quý báu, nhiệt tình, đầy trách nhiệm và nhiệt huyết của thầy giáo
PGS.TS Nguyễn Bá Ngãi, người thầy đã bồi dưỡng, khuyến khích, và truyền
đạt những kiến thức và kinh nghiệm quý báu cho tác giả trong suốt thời gian
học tập, công tác cũng như thực hiện luận văn.
Qua đây, cho phép tôi được gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo đã trực
tiếp tham gia giảng dạy, các thầy cô giáo trong khoa Đào tạo Sau đại học
trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam.
Nhân dịp này tôi cũng xin bày tỏ sự cảm ơn tới Uỷ ban nhân dân huyện
Ba Vì, Hạt Kiểm lâm Ba Vì, Ban quản lý Vườn Quốc gia Ba Vì, gia đình,
bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Đề tài được hoàn thành với sự nỗ lực cố gắng của bản thân song do
kiến thức và thời gian còn hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót nhất
định, rất mong đón nhận được những ý kiến đóng góp từ phía các Nhà khoa
học, thầy cô để đề tài được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn./.
Hà Nội, ngày 30 tháng 10 năm 2012
Học viên
Nguyễn Thị Vân
ii
1.1.1.Trên thế giới 5
1.1.2.Ở Việt Nam 10
Chương 2. MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
19
2.1. Mục tiêu nghiên cứu 19
2.1.1. Mục tiêu tổng quát 19
2.1.2. Mục tiêu cụ thể
19
2.2. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
2.2.1. Đối tượng nghiên cứu
19
2.2.2. Phạm vi nghiên cứu
19
19
2.3. Nội dung nghiên cứu 19
2.4. Phương pháp nghiên cứu
20
25
3.1.3. Khí hậu, thủy văn 26
3.1.4. Địa chất, thổ nhưỡng
27
3.1.5. Tài nguyên du lịch 28
3.2. Tình hình kinh tế
28
3.2.1. Kinh tế chung
28
3.2.2. Ngành nông nghiệp
29
3.2.3. Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng
3.2.4. Dịch vụ
30
31
3.3. Thực trạng phát triển xã hội
3.3.1. Dân số, dân tộc
39
iv
4.1.2. Cơ sở thực tiễn
42
4.2.1. Hiện trạng sử dụng đất đai chung (19 xã có rừng và đất lâm nghiệp)
43
4.2.2. Diện tích đất lâm nghiệp huyện Ba Vì 44
4.2.3. Diện tích đất lâm nghiệp phân theo đơn vị hành chính
4.2.4. Diện tích đất lâm nghiệp phân theo chủ quản lý
46
4.2.5.Diện tích đất lâm nghiệp phân theo 3 loại rừng
48
45
4.2.6. Trữ lượng các loại rừng 49
4.2.7. Hệ thực vật, động vật rừng
50
4.3. Đánh giá công tác bảo vệ và phát triển rừng huyện Ba Vì………51
67
69
4.4.4. Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng huyện Ba Vì
76
4.4.5. Tổng hợp vốn đầu tư thực hiện quy hoạch và dự toán hiệu quả 89
v
4.4.6. Đề xuất các giải pháp thực hiện quy hoạch 93
KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. Kết luận 100
2. Tồn tại
102
3. Khuyến nghị
102
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
100
HĐND
Hội đồng nhân dân
5
KTXH
Kinh tế xã hội
6
NLKH
Nông lâm kết hợp
7
QĐ
Quyết định
8
TCLN
Tổng cục Lâmnghiệp
9
DANH MỤC CÁC BẢNG
Tên bảng
TT
Trang
3.1
Một số chi tiêu kinh tế tổng hợp của huyện ba Vì
29
4.1
Thống kê diện tích các loại đất đai
43
4.2
Diện tích đất lâm nghiệp
44
4.3
Diện tích đất lâm nghiệp phân theo đơn vị hành chính
61
4.9
Quy hoạch đất lâm nghiệp theo 3 loại rừng
68
4.10 Quy hoạch diện tích cho thuê môi trường
73
4.11 Kế hoạch phát triển rừng huyện Ba Vì
82
4.12 Kế hoạch bảo vệ rừng huyện Ba Vì
87
4.13 Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng huyện Ba Vì
88
4.14 Tổng hợp nhu cầu vốn đầu tư
90
1
2
rừng, trong nhiều năm qua Đảng và Chính phủ đã không ngừng đầu tư xây
dựng và phát triển rừng .
Huyện Ba Vì có 1/3 diện tích đồi núi, chủ yếu có địa hình cao dốc, chia
cắt phức tạp, giao thông đi lại gặp nhiều khó khăn, đây là nơi sinh sống chủ
yếu của đồng bào các dân tộc Kinh, Dao, Mường với tập quán canh tác lạc
hậu, trình độ dân trí hạn chế, đời sống còn nhiều thiếu thốn. Chính vì vậy,
việc xây dựng và phát triển rừng trên địa bàn gặp rất nhiều khó khăn, hệ thống
rừng nơi đây chưa đáp ứng được yêu cầu về phòng hộ, bảo vệ môi trường,
phát triển kinh tế - xã hội và an ninh quốc phòng.
Nhằm sử dụng rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn huyện hiệu quả, quản
lý bảo vệ rừng tốt hơn, đẩy nhanh hơn nữa trồng rừng kinh tế, phòng hộ môi
trường, sinh thái, cảnh quan du lịch; xây dựng các trang trại rừng cũng như xây
dựng và phát triển rừng khu vực Tây Bắc của thành phố Hà Nội, việc quy hoạch
bảo vệ và phát triển rừng ổn định và bền vững trên địa bàn huyện là việc làm vô
cùng cấp thiết và quan trọng hiện nay, tạo vành đai xanh, bảo vệ sinh thái cho
Thủ đô Hà Nội.
Việc nghiên cứu, quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng huyện Ba Vì, thành
phố Hà Nội nhằm bố cục hợp lý về mặt không gian tài nguyên rừng và bố trí cân
đối các hạng mục sản xuất kinh doanh, làm cơ sở cho việc lập kế hoạch, định
hướng cho sản xuất kinh doanh lâm nghiệp đáp ứng nhu cầu lâm sản cho nền
kinh tế quốc dân, cho kinh tế địa phương, cho xuất khẩu và cho đời sống nhân
dân, đồng thời phát huy những tác dụng có lợi khác của rừng.
Để có những cơ sở, luận cứ góp phần quy hoạch phát triển lâm nghiệp
trên địa bàn huyện cho phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương, nhằm quản
lý, bảo vệ chặt chẽ, sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên quý giá, phục vụ cho
mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của huyện, tác giả tiến hành nghiên cứu đề
tài:“Nghiên cứu đề xuất quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng huyện Ba Vì,
thành phố Hà Nội giai đoạn 2012 -2020".
4
hiệu quả. Công tác quy hoạch bảo vệ và phát triển lâm nghiệp luôn được chú
trọng và coi là nhiệm vụ chiến lược trong quản lý rừng và đất rừng.
Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng là một bộ phận cấu thành của quy
hoạch tổng thể phát triển nông thôn. Do đó công tác quy hoạch bảo vệ và phát
triển rừng cần có sự phối hợp chặt chẽ với quy hoạch tổng thể phát triển kinh
tế - xã hội nông thôn nhằm tránh sự chồng chéo, hạn chế lẫn nhau giữa các
ngành. Thực chất của công tác quy hoạch là tổ chức không gian và thời gian
phát triển cho một ngành hoặc một lĩnh vực sản xuất trong từng giai đoạn cụ
thể. Mỗi ngành kinh tế muốn tồn tại và phát triển thì nhất thiết phải thực hiện
quy hoạch, sắp xếp một cách hợp lý mà trong đó công tác điều tra cơ bản
phục vụ cho quy hoạch phát triển phải đi trước một bước. Quy hoạch bảo vệ
và phát triển rừng có ý nghĩa rất quan trọng đối với ngành lâm nghiệp nói
riêng và sự phát triển kinh tế xã hội nói chung. Nếu công tác quy hoạch bảo
vệ và phát triển lâm nghiệp được chú ý quan tâm đúng mức thì sự phát triển
của ngành lâm nghiệp sẽ mang lại tính bền vững, trong điều kiện ngược lại sẽ
gặp những trở ngại, khó khăn. Ngày nay khi nhu cầu của xã hội về lâm sản
đáp ứng cho nguyên liệu, gỗ, củi … ngày càng cao, tạo áp lực ngày càng lớn
vào tài nguyên rừng và đất rừng thì vấn đề quy hoạch bảo vệ và phát triển
rừng một cách bền vững càng trở lên quan trọng và cấp thiết hơn bao giờ hết,
và đã trở thành một nguyên tắc hàng đầu trong chiến lược phát triển lâm
nghiệp của mỗi quốc gia nói riêng và trên toàn thế giới nói chung [5].
Cách nhìn nhận về quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng sao cho hợp lý
đã được nhiều tác giả khác nhau đề cập tới ở những mức độ rộng hẹp khác
nhau. Việc đưa ra một khái niệm thống nhất là một điều rất khó thực hiện,
song phân tích qua các khái niệm cho thấy có những điểm giống nhau, đó là
dựa trên quan điểm về sự phát triển bền vững thì các hoạt động có liên quan
canh tác nông nghiệp của các diện tích đất đai tại Đức. Lý thuyết này chỉ chú
6
ý đến các yếu tố kinh tế xã hội cho quy hoạch sản xuất nông nghiệp. Ông cho
rằng khoảng cách giữa khu sản xuất và nơi tiêu thụ sản phẩm là một tham số
kinh tế, các khu sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, chăn nuôi cần được quy
hoạch xung quanh trung tâm tiêu thụ sản phẩm. Vì vậy, hình thành “Vành đai
Thuenen” là cơ sở cho quy hoạch sản xuất lâm nông nghiệp.
Vào thế kỷ 19, có các giả thuyết về “ Vùng đồng nhất ”, từ đó hình
thành lý thuyết về “ Phép vi phân không gian địa lý” để tạo các nhân tố kinh
tế trong quy hoạch. Vào đầu thế kỷ 20, lý thuyết về “Phép vi phân không gian
địa lý ” được sử dụng để giao đất cho khu công nghiệp. Lần đầu tiên các nhân
tố địa thế được Weber đề cập cho quy hoạch vào năm 1909 [32]. Thêm vào
đó, Christaller năm 1933 [30] đã xây dựng khung khái niệm về “Các khu vực
trung tâm” cho quy hoạch vùng. Có thể cho rằng những ý tưởng của Weber
năm 1921 trong tác phẩm “Hình thành các Bang hợp lý” bằng lý thuyết tổ
chức với các khái niệm “Lập địa hợp lý” và “Năng suất sử dụng” mở đầu thời
kỳ quy hoạch phát triển lâm nông nghiệp [33]. Theo lý thuyết trên thì việc
phân chia đất đai theo địa lý với vùng sản xuất là nền tảng của quy hoạch
vùng cho sản xuất lâm nông nghiệp.
Tại Mỹ, bang Wiscosin đã ra đạo luật sử dụng đất đai vào năm 1929,
tiếp theo là xây dựng kế hoạch sử dụng đất đầu tiên cho vùng Oneide của
Wiscovin. Kế hoạch này đã xác định các diện tích cho sử dụng lâm nghiệp,
nông nghiệp và nghỉ ngơi giải trí. Hạn chế của quy hoạch này là tạo việc khai
thác rừng quảng canh, không kiểm soát lửa rừng và chống xói mòn.
Tại Châu Âu, vào thập kỷ 30 và 40 quy hoạch ngành giữ vai trò lấp chỗ
trống của quy hoạch vùng được xây dựng vào đầu thế kỷ. Năm 1946 Jacks
G.V. đã cho ra đời chuyên khảo đầu tiên về phân loại đất đai với tên “Phân
về đất đai, thiết lập các tổ chức sử dụng đất phù hợp, yêu cầu sử dụng theo
quy trình kế hoạch và kỹ thuật, tăng cường sự thông hiểu về sử dụng đất và
khuyến khích xây dựng cơ chế giám sát và cưỡng chế” [27].
8
Năm 1988, Dent và nhiều tác giả nghiên cứu sâu về quy trình quy
hoạch. Ông khái quát quy hoạch sử dụng đất trên 3 cấp khác nhau và mối
quan hệ của các cấp: kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia, cấp vùng (tỉnh,
huyện) cấp cộng đồng (xã, thôn). Ông còn đề xuất quá trình quy hoạch gồm 4
giai đoạn và 10 bước. [21]
Trong khi xây dựng khung đánh giá đất đai, lần đầu tiên tổ chức FAO
năm 1976 đã đề xuất cấu trúc khung quy hoạch sử dụng đất với 10 điểm chính
[22]. Trong đó phân loại đánh giá và đề xuất các kiểu và dạng sử dụng đất
được xét như là các bước chính trong quá trình quy hoạch. Năm 1980,
Buchwald đề xuất quá trình quy hoạch 8 bước, trong đó những nghiên cứu
đánh giá về sinh thái và kinh tế xã hội được đề cập tách biệt ở các bước khác
nhau [29]. Điểm hạn chế này tạo nên sự thiếu tính liên ngành trong quy
hoạch. Maydell năm 1984 cho rằng 4 điểm chính trong quá trình quy hoạch
nông lâm nghiệp tại các nước nhiệt đới là: phân tích xu hướng nghĩa là phân
tích hiện trạng và phát triển; xác định mục tiêu và nhiệm vụ; phân tích
phương pháp và tiến hành đánh giá.
Xem xét đến các khía cạnh riêng, có thể dẫn ra đây một số quy trình
quy hoạch được nhiều chương trình, dự án áp dụng. Theo Zimmermann năm
1989 tổ chức GTZ của Đức đưa ra và thử nghiệm quy trình quy hoạch tại
nhiều nước, trong đó có dự án Lâm nghiệp xã hội Sông Đà của Việt Nam.
Quy trình này dựa trên quá trình phân tích tình hình, chuẩn đoán hiện trạng và
phân tích mục tiêu. Các kỹ thuật của phương pháp phân tích tối ưu hóa mục
tiêu (ZOPP) được sử dụng [34]. Năm 1987, Spitzer đề xuất các bước quy
các cấp tuổi cao vào diện tích khai thác. Phương pháp “Lâm phần kinh tế” và
hiện nay là phương pháp “ Lâm phần” không căn cứ vào tuổi rừng mà dựa
vào đặc điểm cụ thể của mỗi lâm phần tiến hành phân tích, xác định sản lượng
và biện pháp kinh doanh, phương thức điều chế rừng.
Một vài kết luận rút ra từ kinh nghiệm của thế giới
10
Tổng kết các tài liệu nghiên cứu có liên quan đến quy hoạch lâm nông
nghiệp và sử dụng đất cấp địa phương trên thế giới, tác giả có một số kết luận
phục vụ cho nghiên cứu quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng cấp huyện ở Việt
Nam như sau:
Mặc dù đã có những nghiên cứu đề xuất và thử nghiệm về quy hoạch sử
dụng đất nhưng chưa có một lý thuyết hoàn chỉnh về quy hoạch lâm nông
nghiệp cấp địa phương. Tuy vậy, những nghiên cứu và quy trình quy hoạch
trên thế giới có thể được nghiên cứu và áp dụng trong điều kiện ở Việt Nam
theo các hướng sau:
- Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng cấp huyện phải lấy quy hoạch sử
dụng đất làm nền tảng, kết hợp hài hoà giữa ưu tiên của cấp trên với nhu cầu
của cộng đồng thông qua sự tham gia trực tiếp của người dân.
- Phân tích được mối quan hệ tác động lẫn nhau của các cấp quy hoạch
lâm nông nghiệp để xác định rõ nội dung và phương pháp quy hoạch bảo vệ
và phát triển rừng có tính đặc thù riêng của mỗi cấp.
- Các phương pháp đánh giá đất đai của FAO, quy trình lập kế hoạch sử
dụng đất cần được áp dụng trong quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng cấp
huyện, nhưng đòi hỏi phải điều chỉnh phù hợp với hoàn cảnh của cộng đồng
nông thôn Việt Nam.
1.1.2.Ở Việt Nam
Đảng và Nhà nước có quan điểm rõ ràng về quy hoạch phát triển lâm
mâu thuẫn.
Đầu thập kỷ 90, các vấn đề quy hoạch lâm nông nghiệp cấp vi mô được
nhiều tác giả đề cập và nghiên cứu. Các nghiên cứu của Reichenberg (1992)
[22] và các nhà nghiên cứu trong nước đều cho rằng Việt Nam chưa có quy
hoạch sử dụng đất, quy hoạch nông nghiệp và lâm nghiệp cấp vi mô được xây
dựng trên cơ sở xem xét mọi khía cạnh của tất cả các ngành trong tương lai,
vì vậy việc tiến hành quy hoạch lâm nông nghiệp còn thiếu cơ sở thực hiện.
12
Năm 1990 Tổng cục quản lý ruộng đất có ban hành bản hướng dẫn quy hoạch
sử dụng đất vi mô. Nhiều tỉnh đã triển khai thực hiện quy hoạch vi mô theo
hướng dẫn này. Tuy nhiên, khi triển khai gặp những khó khăn về phương
pháp chưa thống nhất
Trong đầu những năm 90, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng ra đời
năm 1991 được sửa đổi thay thế vào năm 2004, Luật Đất đai sửa đổi năm
1993 và đặc biệt là các Nghị định 02/CP năm 1994, Nghị định 01/CP năm
1995, Nghị định 64/CP năm 1993 là cơ sở tiền đề cho quy hoạch lâm
nông nghiệp cấp xã. Cùng lúc ra đời của Luật Đất đai, Luật Bảo vệ và
Phát triển rừng, nhiều người cho rằng quy hoạch vĩ mô là quy hoạch phản
ánh hiện trạng và phân chia 3 loại đất sử dụng và 3 loại rừng. Hai định
nghĩa mới được xác nhận cho quy hoạch quốc gia và cấp tỉnh. Các nhà
khoa học trong nước và nước ngoài đều cho rằng quan điểm quy hoạch
nông lâm nghiệp cấp địa phương nên theo các hướng sau:
Tiến hành nghiên cứu và thực thi khả năng kết hợp quy hoạch lâm nông
nghiệp dựa vào chức năng sử dụng của đất với đánh giá tiềm năng của đất.
Rà soát và xem xét lại hệ thống chính sách nhằm hướng tới đa mục
đích sử dụng đất đai bằng việc đa dạng hóa các hoạt động sản xuất trong mỗi
bản quy hoạch của cộng đồng.
trọng tập quán nương rẫy cố định, lấy xã làm đơn vị để lập kế hoạch và giao
đất, có sự tham gia tích cực của người dân, già làng, trưởng bản và chính
quyền xã. Hạn chế của chương trình này là chưa có kế hoạch sử dụng chi tiết
nên khó tránh khỏi các mâu thuẫn của cộng đồng phát sinh sau quy hoạch.
Bản đánh giá về trường hợp Tử Nê cho thấy cần phải có một kế hoạch sử
dụng đất chi tiết hơn hiện nay thì mới đáp ứng được yêu cầu, tránh được các
mâu thuẫn của cộng đồng phát sinh sau quy hoạch.
Sự tham gia của người dân trong quá trình quy hoạch là một khái niệm
mới. Vũ Văn Mễ và Desloges năm 1996 cho rằng "Điểm quan trọng là thu hút
14
người dân tham gia vào tất cả các giai đoạn trong quá trình quy hoạch sử dụng
đất và giao đất lâm nghiệp ngay từ khi bắt đầu. Sự tham gia này tất nhiên sẽ
khác nhau về phạm vi và mức độ tùy theo nội dung hoạt động và giai đoạn
tiến hành" [7].
Trong công trình “Đất rừng Việt Nam”, Nguyễn Ngọc Bình (1996) [1]
đã đưa ra những quan điểm nghiên cứu và phân loại đất rừng trên cơ sở những
đặc điểm cơ bản của đất rừng Việt Nam.
Năm 1997, Đặng Văn Phụ, Hà Quang Khải [8] trong chương trình tập
huấn hỗ trợ lâm nghiêp xã hội của Trường đại học lâm nghiệp đã đưa ra khái
niệm về hệ thống sử dụng đất và đề xuất một số hệ thống, kỹ thuật sử dụng
đất bền vững trong điều kiện Việt Nam. Trong đó các tác giả đã đi sâu phân
tích quan điểm về tính bền vững: Khái niệm tính bền vững và phát triển bền
vững; Hệ thống sử dụng đất bền vững; Kỹ thuật sử dụng đất bền vững; Các chỉ
tiêu đánh giá tính bền vững trong các hệ thống và kỹ thuật sử dụng đất.
Tài liệu tập huấn về quy hoạch sử dụng đất và giao đất lâm nghiệp có sự
tham gia của người dân, tác giả Trần Hữu Viên (1997) [18] đã kết hợp
phương pháp quy hoạch sử dụng đất trong nước và của một số dự án quốc tế
phát triển rừng nước ta hình thành và phát triển muộn hơn nhiều. Vì vậy
những nghiên cứu cơ bản về kinh tế, xã hội, kỹ thuật và tài nguyên rừng làm
cơ sở cho công tác quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng chưa được giải quyết,
nên công tác này ở nước ta đang trong giai đoạn vừa tiến hành vừa nghiên cứu
áp dụng.
Theo Chiến lược phát triển Lâm nghiệp quốc gia giai đoạn 2006-2020
một trong những tồn tại mà Bộ NN&PTNT đánh giá là: “ Công tác quy hoạch
nhất là quy hoạch dài hạn còn yếu và chậm đổi mới, chưa kết hợp chặt chẽ
với quy hoạch của các ngành khác, còn mang nặng tính bao cấp và thiếu tính
khả thi. Chưa quy hoạch 3 loại rừng hợp lý và chưa thiết lập được lâm phần
16
ổn định trên thực địa”. Đây cũng là nhiệm vụ nặng nề và cấp bách đối với
ngành lâm nghiệp ở nước ta hiện nay.
Các văn bản chính sách của Nhà nước đề cập đến quy hoạch phát triển
lâm nghiệp thể hiện qua: Hiến pháp của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam năm 1992 nêu “Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy
hoạch và pháp luật, đảm bảo sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả. Nhà
nước giao đất cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu
dài”. Luật đất đai năm 2003 quy định rõ 3 nhóm đất với 6 quyền chung của
người sử dụng đất, tùy theo từng loại đất và mục đích sử dụng mà được giao
cho tổ chức, cá nhân quản lý và sử dụng. Luật bảo vệ và phát triển rừng năm
2004 quy định về quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng, quyền và nghĩa vụ
của chủ rừng, phân định rõ 3 loại rừng. Nghị định 23 về thi hành Luật Bảo vệ
và phát triển rừng quy định về việc: quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển
rừng; giao rừng, cho thuê rừng; thống kê, kiểm kê, theo dõi diễn biến tài
nguyên rừng; tổ chức quản lý rừng, bảo vệ rừng, phát triển rừng và sử dụng
rừng. Nhằm cụ thể hóa hơn nữa công tác quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng,
chưa được phân biệt rõ. Phương pháp quy hoạch dựa trên thuộc tính của đất
đai mà ít xem đến tiềm năng của đất đai, nhu cầu, khả năng thích ứng của cây
trồng và thị trường. Phương pháp quy hoạch có sự tham gia của người dân
đang được chú ý và thí điểm ở một số nơi. Những kết quả đưa ra tuy đạt được
một số thành công nhưng chưa được tổng kết, hiệu quả của quy hoạch chưa
được khẳng định.
Nội dung của quy hoạch lâm nông nghiệp tuy đã được xác định tương
đối rõ ràng ở một số nghiên cứu và chương trình dự án, nhưng vẫn chưa có sự
thống nhất về mặt quan điểm giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch lâm
nông nghiệp.
18
Cùng với sự phát triển đi lên của kinh tế xã hội thì quy hoạch luôn phải
đi trước một bước. Quy hoạch bảo vệ và phát triển lâm nghiệp cũng vậy, nó
luôn đi theo phát triển kinh tế xã hội, nó đảm bảo và thể hiện được tầm nhìn
của các nhà lãnh đạo trong việc phân vùng kinh tế và sử dụng một cách tối đa
có hiệu quả nhưng hài hoà giữa các vùng trong chiến lược phát triển lâm
nghiệp chung của đất nước.
Ở Việt Nam đã tiến hành quy hoạch bảo vệ và phát triển lâm nghiệp
cho các cấp quản lý, kinh doanh và các cấp quản lý lãnh thổ ở tầm vĩ mô, vi
mô. Trên cơ sở quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng trong phạm vi lãnh thổ
một quốc gia, xác định phương hướng, nhiệm vụ phát triển lâm nghiệp trên
toàn quốc, xác định tiến độ thực hiện từng hạng mục làm cơ sở cho việc quy
hoạch bảo vệ và phát triển lâm nghiệp của các tỉnh. Khi lập quy hoạch sử
dụng đất phải thu thập nhu cầu sử dụng đất cho các mục đích của các đơn vị
hành chính trực thuộc. Trong quy hoạch sử dụng đất của mỗi cấp phải thể
hiện phương án phân bổ quỹ đất đối với diện tích thuộc nhiệm vụ quy hoạch
của cấp mình.