i
LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là: Trần Thị Thanh Huyền
Sinh ngày : 09 tháng 05 năm 1990
Học viên lớp Cao học Kinh tế KT22A, chuyên ngành Kinh tế Nông
nghiệp, Trường Đại học Lâm Nghiệp.
Tôi xin cam đoan : Đề tài "“Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ
cán bộ công chức cấp xã tại huyện Phúc Thọ, TP.Hà Nội” do TS.Trần Thị
Thu Hà hướng dẫn. Đây là công trình của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu
trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình
nghiên cứu khoa học nào.
Nếu nội dung nghiên cứu của tôi trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên
cứu nào đã công bố, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm và tuân thủ kết luận
đánh giá của Hội đồng luận văn khoa học.
Hà Nội, ngày tháng
TÁC GIẢ
Trần Thị Thanh Huyền
năm 2016
ii
LỜI CẢM ƠN
Sau gần 2 năm phấn đấu vượt qua nhiều khó khăn để học tập, với sự ủng
hộ, động viên của gia đình, sự quan tâm tạo điều kiện thuận lợi của nhà
trường và sự dạy dỗ tận tình của quý thầy cô giáo cùng với sự nỗ lực của bản
thân, tôi đã hoàn thành chương trình đào tạo cao học Kinh tế nông nghiệp về
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ................................................................ v
DANH MỤC CÁC BẢNG ............................................................................ vi
DANH MỤC CÁC HÌNH ............................................................................ vii
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ ................................................ 5
1.1. Cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng CBCC cấp xã. ............................... 5
1.1.1. Một số khái niệm .................................................................................. 5
1.1.2. Sự cần thiết nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã ...................... 12
1.1.3 Các tiêu chí đánh giá chất lượng công chức ......................................... 15
1.1.4 Tiêu chuẩn CBCC cấp xã .................................................................... 20
1.2. Cơ sở thực tiễn về nâng cao chất lượng CBCC cấp xã ........................... 27
1.2.1. Kinh nghiệm của các nước trên thế giới về nâng cao chất lượng đội ngũ
CBCC cấp xã................................................................................................ 27
1.2.2. Kinh nghiệm về nâng cao chất lượng CBCC cấp xã ở Việt Nam ........ 30
1.2.3. Kinh nghiệm các nước và các địa phương .......................................... 34
1.2.4. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu ........................................................ 35
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .... 38
2.1. Đặc điểm cơ bản của huyện Phúc Thọ, TP Hà Nội ................................ 38
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên .............................................................................. 38
2.1.2. Đặc điểm kinh tế - văn hóa - xã hội .................................................... 42
2.1.3. Đánh giá chung về đặc điểm của huyện Phúc Thọ ảnh hưởng đến chất
lượng CBCC cấp xã ở huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội .......................... 44
iv
2.2. Phương pháp nghiên cứu ....................................................................... 45
2.2.1. Phương pháp chọn điểm nghiên cứu.................................................... 45
2.2.2. Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu ................................................. 46
Nguyên nghĩa
HTCT:
Hệ thống chính trị
BCH:
Ban chấp hành
CBCC:
Cán bộ,công chức
CCB:
Cựu chiến binh
CNH:
Công nghiệp hóa
HĐH:
Hiện đại hóa
CCHC:
Cải cách hành chính
Mặt trận tổ quốc
QLNN:
Quản lý nhà nước
SKSS:
Sức khoẻ sinh sản
TP. Hà Nội:
Thành phố Hà Nội
THCS:
Trung học cơ sở
THPT:
Trung học phổ thông
TNCS:
Thanh niên cộng sản
UBND:
Uỷ ban nhân dân
51
3.3
Trình độ văn hóa của CBCC cấp xã
52
3.4
Trình độ chuyên môn và lý luận chính trị của CBCC cấp xã
53
3.5
Trình độ quản lý nhà nước của CBCC cấp xã
54
3.6
3.7
3.8
3.9
3.10
3.11
3.12
DANH MỤC CÁC HÌNH
STT
3.1
3.2
Tên hình
Biểu đồ tỷ lệ CBCC cấp xã qua đào tạo tin học
Trang
59
Biểu đồ tỷ lệ CBCC cấp xã biết sử dụng thành thạo Word, Excel,
Power point thành thạo
60
1
MỞ ĐẦU
1.
Lý do chọn đề tài
Chính quyền cấp xã có vai trò đặc biệt quan trọng, là cơ sở của hệ thống
chính trị, là “cánh tay” nối dài của Đảng, Nhà nước ở cơ sở, là nơi gần dân
nhất và sát dân nhân. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng dạy: “Cấp xã là
cấp gần dân nhất, là nền tảng của hành chính. Cấp xã làm được thì mọi việc
đều xong xuôi”, “cán bộ là cái gốc mọi công việc”. Thông qua đội ngũ
thách, phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, có lối sống lành mạnh,
giản dị, gắn bó với nhân dân, được nhân dân tín nhiệm... Tuy nhiên, trong đội
ngũ CBCC cấp xã nói chungcòn nhiều vấn đề đáng lo ngại, kiến thức và trình
độ hiểu biết về lý luận thực tiễn của CBCCchưa theo kịp yêu cầu của tình hình
hiện nay; khi thực hiện nhiệm vụ còn quan liêu, cửa quyền hoặc lúng túng
trong giải quyết các quan hệ phát sinh, giải quyết công việc theo cảm tính và ý
thức chủ quan.
Cấp xã là cấp giữ vị trí hết sức quan trọng, là nền tảng của hệ thống chính
trị, là cấp trực tiếp tổ chức, vận động nhân dân thực hiện chủ trương đường lối
của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, phát huy quyền làm chủ của
nhân dân, chăm lo đời sống nhân dân, là “cầu nối” giữa Đảng, Nhà nước với
nhân dân. Sự thay đổi về kinh tế - xã hội trong những năm đổi mới, đặc biệt
trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế đã đặt ra những thách thức lớn đối với
việc thực hiện nhiệm vụ quản lý Nhà nước ở địa phương. Vì vậy, việc chăm lo
xây dựng đội ngũ CBCC cấp xã có chất lượng là nhiệm vụ thường xuyên, có ý
nghĩa hết sức quan trọng cả trước mắt cũng như lâu dài trong sự nghiệp cách
mạng của Đảng. Nâng cao chất lượng cho đội ngũ cán bộ cơ sở là một trong
những chính sách vô cùng quan trọng của Đảng và Nhà nước trong quá trình
đổi mới ngày nay.
Vì vậy, tác giả lựa chọn nghiên cứu “Giải pháp nâng cao chất lượng đội
ngũ cán bộ công chứccấp xã tại huyện Phúc Thọ, TP.Hà Nội” làm luận văn
3
tốt nghiệp thạc sỹ, chuyên ngành Kinh tế Nông nghiệp với mong muốn góp
phần xây dựng đội ngũ CBCCcấp xã đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã
hội trên địa bàn ở huyện.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1.
4
3.2.3. Phạm vi về thời gian:
Số liệu, tư liệu về chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã ở huyện Phúc Thọ,
TP. Hà Nội là số liệu, tư liệu thứ cấp đã được công bố trong 3 năm 2012-2014
và các số liệu sơ cấp qua điều tra sẽ được thu thập vào cuối năm 2015.
4.
Nội dung nghiên cứu
- Cơ sở lý luận và thực tiễn về CBCCcấp xã và nâng cao chất lượng
CBCCcấp xã.
- Thực trạng chất lượng CBCC cấp xã ở huyện Phúc Thọ,TP. Hà Nội, kết
quả đã đạt được và những vấn đề còn tồn tại cần khắc phục, các nguyên nhân
dẫn đến tồn tại về chất lượng CBCC cấp xã ở huyện Phúc Thọ, TP. Hà Nội.
- Giải pháp nâng cao chất lượng CBCC cấp xã ở huyện Phúc Thọ, TP.Hà Nội.
5
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ
1.1. Cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng CBCCcấp xã.
1.1.1. Một số khái niệm
1.1.1.1. Khái niệm về “cán bộ"
Theo Điều 1 của Pháp lệnh Công chức do Ủy ban Thường vụ Quốc hội
ban hành ngày 9/3/1998: "CBCClà công dân Việt Nam, trong biên chế và
nghiệp, dạy nghề; cán bộ được bổ nhiệm, đề bạt hoặc bầu cử.
+ Cán bộ được hưởng lương và chính sách đãi ngộ căn cứ vào nội dung,
chất lượng hoạt động và thời gian công tác của họ.
Như vậy, hiểu theo nghĩa chung nhất, cán bộ là người lãnh đạo, quản lý
hoặc người làm chuyên môn, nhà khoa học hay công chức, viên chức làm
việc, hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc từ các nguồn khác. Họ được
hình thành từ tuyển dụng, phân công công tác sau khi tốt nghiệp ra trường, từ
bổ nhiệm, đề bạt hoặc bầu cử.
Đảng và Nhà nước ta xác định công tác cán bộ là khâu quan trọng nhất,
có ý nghĩa quyết định tới chất lượng và hiệu quả công việc, là khâu then chốt
trong sự nghiệp cách mạng, là một trong những yếu tố quan trọng góp phần
vào những thành công trong sự nghiệp đổi mới đất nước, đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Lúc sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
đưa ra định nghĩa về cán bộ hết sức khái quát, giản dị và dễ hiểu. Theo
Người: "Cán bộ là người đem chính sách của Đảng, Chính phủ giải thích cho
dân chúng hiểu rõ và thi hành, đồng thời đem tình hình dân chúng báo cáo
cho Đảng, Chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng"[8].
Theo khoản 3, Điều 4Luật CBCCsố 22/2008/QH12 “Cán bộ xã, phường,
thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ
7
chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân
dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội;
công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh
chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và
hưởng lương từ ngân sách nhà nước”[10].Như vậy, theo quy định của Luật
CBCC năm 2008 đã khẳng định và chỉ rõ khái niệm, đối tượng và quy định về
cán bộ cấp xã.
lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức
trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được
bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp
luật”[10].
Chính phủ đã ban hành Nghị định 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009,về
chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với CBCC cấp xã và
những người hoạt động không chuyên trách cấp xã. Với mục đích hoàn thiện
và cụ thể hóa chính sách đối với công chức cấp xã. Công chức cấp xã có các
chức danh sau đây:
a) Trưởng Công an;
b) Chỉ huy trưởng Quân sự;
c)Văn phòng- thống kê;
d) Địa chính- xây dựng- đô thị và môi trường (đối với phường,
thị trấn) hoặc Địa chính – nông nghiệp –xây dựng và môi trường (đối với xã);
e) Tài chính- kế toán;
f) Tư pháp- hộ tịch;
g) Văn hóa- xã hội.[6]
Về số lượng cán bộ chuyên trách, công chức cấp xã:
Theo Nghị định 121/2003/NĐ-CP ngày 21/10/2003 của Chính phủ
thì công chức cấp xã quy định như sau:
1. Đối với xã đồng bằng, phường và thị trấn:
9
- Dưới 10.000 dân được bố trí không quá 19 cán bộ, công chức;
- Từ 10.000 dân trở lên, cứ thêm 3.000 dân được bố trí thêm 01 cán
bộ, công chức, nhưng tối đa không quá 25 cán bộ, công chức.
2. Đối với xã miền núi, vùng cao, vùng sâu, vùng xa, hải đảo:
- Dưới 1.000 dân được bố trí không quá 17 cán bộ, công chức;
người sử dụng, sự kết hợp cả tiêu chuẩn và đòi hỏi của người sử dụng, kết
hợp cả tiêu chuẩn và đòi hỏi của người tiêu dùng.
Hiểu một cách khái quát là “cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con
người, một sự việc”. Theo cách hiểu như vậy, có thể định nghĩa về chất lượng
đội ngũ CBCCcấp xã như sau: “Chất lượng đội ngũ CBCCcấp xã là tập hợp
tất cả các thuộc tính của từng CBCC cấp xã cùng phối hợp chặt chẽ, thống
nhất cả về ý chí lẫn hành động của đội ngũ CBCC cấp xã có khả năng đáp
ứng với mục tiêu, yêu cầu tại một thời điểm nhất định”. Chất lượng đội ngũ
CBCCcấp xã được xem xét dưới nhiều giác độ khác nhau:
Thứ nhất, chất lượng đội ngũ CBCCcấp xã được xác định trong mối
quan hệ giữa số lượng với vai trò, vị trí và chức năng nhiệm vụ được giao.
Trong đó, mỗi cá nhân phát huy được hết năng lực, sở trường của mình hoàn
thành tốt công việc được giao, góp phần thúc đẩy cho bộ máy vận hành thông
suốt và đạt hiệu quả cao nhất.
Thứ hai, chất lượng đội ngũ CBCCcấp xã được thể hiện ở hiệu lực, hiệu
quả hoạt động của bộ máy chính quyền cấp xã và phụ thuộc nhiều yếu tố như:
Năng lực, phẩm chất, tính tích cực, tự giác của mỗi CBCC. Điều kiện cơ sở
vật chất, tính tổ chức khoa học, tính hợp lý trong hoạt động của bộ máy.
Trong đó chất lượng hoạt động của đội ngũ CBCCcấp xã là yếu tố quan trọng
nhất, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của chính quyền cấp xã.
Thứ ba, chất lượng đội ngũ CBCCcấp xã là sự tổng hợp chất lượng của
từng CBCCthể hiện qua các giác độ sau:
- Phẩm chất chính trị, đạo đức: Đó là quan điểm, lập trường tư tưởng, đạo
11
đức lối sống của CBCCcấp xã, sự tín nhiệm của nhân dân và uy tín của họ
trước tập thể, cộng đồng.
- Trình độ năng lực: Bao gồm trình độ học vấn, trình độ chuyên môn
thực hiện thắng lợi các chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật
của Nhà nước tại cơ sở.
- Đội ngũ CBCCcấp xã là những người trực tiếp gần gũi, gắn bó với nhân
dân, sống, làm việc và hàng ngày có mối quan hệ chặt chẽ với dân.
-CBCCcấp xã có vai trò quyết định trong xây dựng, củng cố tổ chức bộ máy
chính quyền cơ sở, phát triển phong trào cách mạng của quần chúng ở cơ sở.
- Đội ngũ CBCCcấp xã còn là một trong những nguồn quan trọng cung cấp
cán bộ cho cấp huyện, tỉnh, thành phố và Trung ương.
1.1.2.2. Sự cần thiết nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã
Công cuộc đổi mới, phát triển đất nước của Đảng, Nhà nước và nhân dân
ta đã đạt được những thành tựu to lớn về mọi mặt kinh tế - xã hội; chính trị,
an ninh quốc phòng và hội nhập kinh tế, đã tạo cho đất nước ta có thế và lực,
sức mạnh tổng hợp lớn hơn nhiều so với trước đây. Đảng và Nhà nước ta đã
có nhiều chủ trương, chính sách lớn trong việc đổi mới cơ chế quản lý, nâng
cao chất lượng đội ngũ CBCC nói chung trong cơ quan của Đảng, Nhà nước,
MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội.
Riêng đối với đội ngũ CBCC cấp xã đã có nhiều các chính sách đổi mới
đó là xác nhập đội ngũ CBCC cấp xã vào trong biên chế; thực hiện chính sách
tiền lương và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; được thực hiện các chính
sách đào tạo, bồi dưỡng thực hiện chính sách BHXH và nhiều chế độ chính
sách khác: Đối với đội ngũ CBCC cấp xã theo quy định tại điều 7 Nghị định
09/1998/NĐ-CP ngày 23/1/1998 của Chính phủ thì “Chế độ sinh hoạt phí
quy định trong Nghị định này được thực hiện từ ngày 01 tháng 01 năm 1998;
các quy định trong Nghị định số 50/CP ngày 26 tháng 7 năm 1995 của Chính
13
phủ về chế độ sinh hoạt phí đối với cán bộ xã, phường, thị trấn trái với Nghị
định này đều bãi bỏ”[2]. Như vậy từ ngày 01/01/1998 trở đi cán bộ cấp xã mới
xã dân, quan liêu, hách dịch, cửa quyền; cục bộ địa phương, lợi ích nhóm, mất
đoàn kết; còn có hiện tượng chạy chức, chạy bằng cấp, tham nhũng lãng phí,
có các biểu hiện lợi dụng quyền hạn làm trái các nguyên tắc của quản lý nhà
nước,tham nhũng, lãng phí ... gây bất bình trong dân, tổn hại đến uy tín, làm
giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Mặt khác, các thế lực
thù địch tiếp tục lợi dụng đả kích, vu khống, kích động, gây bạo loạn, mất ổn
định chính trị , trật tự an toàn xã hội. Các cơ quan có thẩm quyền đã quyền tra
làm rõ, khởi tố và xử lý nghiêm minh theo pháp luật nhiều vụ tham nhũng,
lãng phí, các biểu hiện tiêu cực, xuống cấp về chính trị, tư tưởng đạo đức của
CBCC cấp xã đã được phát hiện, nhân dân tố giác, báo chí phản ánh.
- Nâng cao trình độ, năng lực của đội ngũ CBCC cấp xã đáp ứng với yêu
cầu của quá trình đẩy mạnh CNH –HĐH.
Công cuộc đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước phấn đấu đến năm 2020 đất
nước ta cơ bản trở thành nước CNH theo hướng hiện đại, đã và đang đặt ra
những yêu cầu và thách thức lớn là: Toàn cầu hóa và cách mạng hóa khoa học
– công nghệ phát triển mạnh mẽ, thúc đẩy quá trình hình thành xã hội thông
tin và kinh tế tri thức. Điều đó đỏi hỏi phải có nguồn nhân lực thích ứng với
khoa học công nghệ phát triển cũng như sự tác động của toàn cầu hóa, trong
đó đội ngũ CBCC cấp xã là một trong những nhân tố quan trọng của nguồn
nhân lực.
Quá trình đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới xây dựng đất nước và
hội nhập ngày càng sâu và toàn diện với quốc tế đặt ra yêu cầu về xây dựng
và hoàn thiện thể chế, hệ thống pháp luật, đẩy mạnh CCHC, nâng cao hiệu
lực, hiệu quả quản lý hành chính nhà nước. CCHC là khâu liên quan trực tiếp
đến nghĩa vụ và quyền lợi của nhân dân; là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên
15
trong suốt quá trình lãnh đạo, điều hành của cả hệ thống chính trị; là giải pháp
độ văn hoá ở nước ta được chia thành các cấp độ từ thấp đến cao (tiểu học,
trung học cơ sở, phổ thông trung học).
- Tiêu chí về trình độ đào tạo nghề nghiệp: trình độ đào tạo nghề nghiệp
của công chức là trình độ chuyên môn của công chức đã được đào tạo qua các
trường lớp với văn bằng chuyên môn phù hợp với công việc được giao. Trình
độ đào tạo nghề nghiệp ứng với hệ thống văn bằng hiện nay được chia thành
các trình độ sơ cấp, trung cấp, cao đẳng, đại học, trên đại học.
1.1.3.2. Tiêu chí đánh giá kỹ năng nghề nghiệp
Kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được trong một
lĩnh vực nào đó vào thực tế. Kỹ năng nghề nghiệp bao giờ cũng gắn với một
hoạt động cụ thể ở một lĩnh vực cụ thể như kỹ năng ra quyết định, kỹ năng
phối hợp, kỹ năng viết báo cáo, kỹ năng soạn thảo văn bản... Đây là sản phẩm
của quá trình tư duy kết hợp với việc tích luỹ kinh nghiệm thông qua đào tạo,
bồi dưỡng, rèn luyện, công tác.
Kỹ năng nghề nghiệp là tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng công
chức khi thực thi nhiệm vụ. Công chức cần có những kỹ năng nhất định để
thực thi nhiệm vụ. Tuy nhiên, có những kỹ năng cần thiết cho mọi công chức
và có những kỹ năng không thể thiếu đối với một nhóm công chức nhất định
phụ thuộc vào tính chất công việc mà họ đảm nhận. Việc phân chia kỹ năng
nghề nghiệp thành các nhóm là cơ sở để xác định nội dung bồi dưỡng kỹ năng
cho các nhóm công chức khác nhau. Căn cứ vào kết quả mà các kỹ năng
hướng đến thì kỹ năng nghề nghiệp đối với công chức có thể chia thành các
nhóm sau:
- Nhóm kỹ năng liên quan đến đề xuất, ban hành, thực hiện và kiểm tra
các chính sách, các quyết định quản lý như kỹ năng thu thập, tổng hợp, phân
tích và đánh giá thông tin; kỹ năng triển khai quyết định quản lý; kỹ năng
phối hợp; kỹ năng đánh giá dư luận.
17
18
hiệu lực, hiệu quả của từng cá nhân trong đội ngũ công chức khi sử dụng các
nguồn lực sẵn có. Đầu ra của công việc được đánh giá theo 5 hướng: số lượng
công việc người công chức hoàn thành; chất lượng của các công việc đã hoàn
thành; tính hiệu quả của chi phí; tính kịp thời của từng công việc đã hoàn
thành; thực hiện các quy định và chỉ thị hành chính.
- Tính hành chính: là tiêu chí đặc thù để đánh giá tính chuyên nghiệp của
nghề “công chức”. Hoạt động của công chức khi thực thi công vụ là hoạt
động có tổ chức và tuân thủ những quy chế bắt buộc. Tính hành chính thể
hiện thông qua tính kịp thời khi thực thi nhiệm vụ, việc thực hiện nghiêm túc
các quy định, tuân thủ mệnh lệnh cấp trên, khả năng chịu được áp lực cao,
thích ứng với sự thay đổi trong công việc.
- Tỷ lệ công chức được đào tạo bài bản về quản lý nhà nước: việc đào tạo
này khác với đào tạo nghề nghiệp ở chỗ nó trang bị cho công chức những kiến
thức về nhà nước, pháp luật, quản lý nhà nước. Việc đào tạo này cần có bài
bản và hệ thống, tránh hiện tượng chắp vá và hiện tượng được tuyển dụng làm
công chức rồi mới đào tạo.
- Nếp sống văn hoá công sở và hành vi ứng xử trong công vụ: hoạt động
của công chức chủ yếu tại công sở, nơi trực tiếp thể hiện mối quan hệ giữa
Nhà nước và công dân, tổ chức. Để đảm bảo đúng bản chất của nhà nước
phục vụ nhân dân, nếp sống văn hoá công sở phải được thực hiện nghiêm túc
bằng các quy định của Nhà nước. Bên cạnh đó, hành vi ứng xử của công chức
trong công vụ, trong mối quan hệ với công dân, tổ chức cũng rất quan trọng,
thể hiện ở thái độ, tác phong, cách ăn nói, lắng nghe... Điều này được đánh
giá qua hoạt động thanh tra công vụ và của xã hội qua báo chí, dư luận xã
hội...
Để đánh giá tính chuyên nghiệp cần phân tích sản phẩm đầu ra mà công
chức đã thực hiện, đối chiếu với kết quả của các công chức khác cùng thực