BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
--------------------
NGUYỄN ANH THƯ
NGHIÊN CỨU LƯỢNG SINH KHỐI
VÀ KHẢ NĂNG HẤP THỤ CARBON CỦA RỪNG TRỒNG
CÂY BẢN ĐỊA THUẦN LOÀI TẠI CẦU HAI – PHÚ THỌ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
HÀ NỘI - 2010
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯƠNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
--------------
NGUYỄN ANH THƯ
NGHIÊN CỨU LƯỢNG SINH KHỐI
VÀ KHẢ NĂNG HẤP THỤ CARBON CỦA RỪNG TRỒNG
CÂY BẢN ĐỊA THUẦN LOÀI TẠI CÂU HAI – PHÚ THỌ
phần của môi trường sống như: nước biển dâng cao, gia tăng hạn hán, ngập
lụt, thay đổi các kiểu khí hậu, gia tăng các loại bệnh tật, thiếu hụt nguồn nước
ngọt, sự suy giảm đa dạng sinh học và gia tăng các hiện tượng khí hậu cực
đoan (WWF). Tuy nhiên các hiện tượng đó mới chỉ là những hậu quả trước
mắt mà con người có thể nhìn thấy được, còn trong tương lai, hậu quả của sự
BĐKH là vô cùng to lớn, không thể lường trước, thậm chí đe dọa đến sự sinh
tồn của nhiều loài sinh vật trên trái đất.
Nguyên nhân trực tiếp gây ra biến đổi khí hậu là hiện tượng nóng lên
toàn cầu mà một trong những nguyên nhân chủ yếu gây ra hiện tượng này là
sự phát thải quá mức khí nhà kính (KNK) vào khí quyển. Kể từ thời kỳ tiền
công nghiệp (khoảng từ năm 1750), con người đã sử dụng ngày càng nhiều
năng lượng, chủ yếu từ các nguồn nhiên liệu hóa thạch (than, dầu, khí đốt),
qua đó đã thải vào khí quyển ngày càng nhiều các chất khí gây hiệu ứng nhà
kính, làm tăng hiệu ứng nhà kính của khí quyển, dẫn đến tăng nhiệt độ của
trái đất [15]. Các khí nhà kính chủ yếu là: carbonic (CO2), Mêtan (CH4), Ôxit
nitơ, Hydrofluorocarbon (HFCs), Perfluorocarbon (PFCs) và Sunphua hexafuorit
(SF6) (UNFCCC,2005c). Theo ước tính của IPCC, CO2 chiếm tới 60%
nguyên nhân của sự nóng lên toàn cầu, nồng độ CO2 trong khí quyển đã tăng
2
28% từ 288 ppm lên 366 ppm trong giai đoạn 1850- 1998 (IPCC, 2000). Ở
giai đoạn hiện nay, nồng độ khí CO2 tăng khoảng 10% trong chu kỳ 20 năm
và đạt 379 ppm vào năm 2005 (UNFCCC, 2005b).
Sự tăng lên của các khí nhà kính dẫn đến gia tăng hiệu ứng nhà kính
của lớp khí quyển đã tạo ra một lượng bức xạ cưỡng bức với độ lớn trung
bình là 2,3w/m2 làm cho trái đất nóng lên. Theo Báo cáo đánh giá lần thứ 4
của IPCC, đến cuối thế kỷ XXI, hàm lượng khí CO2 trong khí quyển sẽ đạt
540- 970 ppm theo các kịch bản khác nhau về phát thải khí nhà kính, và như
buộc pháp lý càng chứng tỏ việc định giá rừng đã và đang trở thành một đòi
hỏi bức bách, không thể chậm trễ. Nhận thức được điều này, Việt Nam đã tích
cực tham gia các chương trình về biến đổi khí hậu của quốc tế - trong đó có
việc phê chuẩn Công ước khung Liên hợp quốc vào tháng 11 năm 1994 và
Nghị định thư Kyoto tháng 9 năm 2002.
Việc định lượng khả năng hấp thụ carbon của rừng là một phần quan
trọng trong định lượng giá trị môi trường của rừng. Tuy nhiên không phải cây
rừng nào cũng có khả năng hấ p thu ̣ carbon như nhau. Hiện nay, về vấn đề
này, các nhà khoa học Việt Nam mới chỉ chủ yếu nghiên cứu các loài cây
trồng rừng phổ biến như thông, keo, bạch đàn, …và các cây trồng rừng ngập
mặn, trong khi đó cây bản địa là một đối tượng quan trọng trong các chiến
lược phát triển lâm nghiệp của nhiều địa phương thì mới chỉ được tập trung
nghiên cứu ở lĩnh vực thống kê tài nguyên rừng và đánh giá kết quả trồng
rừng, những nghiên cứu về sinh khối cũng như khả năng hấp thu và cố định
carbon của rừng trồng cây bản địa hầu như chưa được quan tâm.
Xuất phát từ thực trạng đó, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu
lượng sinh khối và khả năng hấp thụ carbon của rừng trồng cây bản địa
thuần loài tại Cầu Hai- Phú Thọ” nhằm đóng góp thêm hiểu biết mới về vai
trò giảm phát thải khí nhà kính của các cây rừng và kiểu rừng ở Việt Nam
cũng như trên thế giới còn rất ít được nghiên cứu.
4
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Nghiên cứu sinh khối và khả năng lưu giữ carbon của rừng
1.1.1. Trên thế giới
- Nghiên cứu về sinh khối rừng
Sinh khối được xác định là tất cả các chất hữu cơ ở dạng sống và chết
trung vào các đối tượng đồng cỏ, savan, rừng rụng lá, rừng mưa thường xanh
như nghiên cứu của Duyiho; Dajoz (1971)...
Tuy đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhưng các tác giả chỉ đi sâu
nghiên cứu vào mối quan hệ giữa sinh khối và các chỉ tiêu khác ở một số loài
đơn lẻ mà chưa đánh giá được giá trị tổng hợp của nhiều loài có tác động
trong một khu vực nhất định như: Golley F.B & cộng sự (1962) (Vũ Đoàn
Thái, dẫn, 2003) đã nghiên cứu sinh khối rừng Đước đỏ (Rhizophora mangle)
tự nhiên mở đầu cho rất nhiều công trình nghiên cứu về sinh khối rừng ngập
mặn sau này ở nhiều nơi trên thế giới; Ferreira (1973) với công trình nghiên
cứu “sản lượng gỗ khô của rừng trồng Thông ở Braxin”; Pitaya-petmak của
Thái Lan (1976); Das và Ramakrisham (1987) nghiên cứu phân tích sinh khối
năng suất rừng trồng ở Đông Bắc Ân Độ; Năm 2000, Gifford đã tính được
mật độ sinh khối cho các kiểu rừng ở Australia.
Do đó công trình “Sinh khối và năng suất sơ cấp rừng thế giới – World
forest biomass and primary production data” của Canell M.G.R được cho là
tác phẩm kinh điển và quy mô nhất về sinh khối rừng kể từ khi công bố năm
1982 đến tận ngày nay, trong đó tập hợp 600 công trình đã được xuất bản về
sinh khối khô thân, cành, lá, và một số thành phần, sản phẩm sơ cấp của hơn
1200 lâm phần thuộc 46 nước trên thế giới (dẫn theo Võ Đại Hải - 2008) [7].
Whittaker R.H (1961, 1966) [51, 52], Mark P.L (1971) [46] cho rằng "Số đo
năng suất chính là số đo về tăng trưởng, tích luỹ sinh khối ở cơ thể thực vật
6
trong quần xã" và theo Rodel D.Lasco (2002), mặc dù rừng chỉ che phủ 21%
diện tích bề mặt trái đất nhưng sinh khối thực vật của nó chiếm đến 75% so
với tổng sinh khối thực vật trên cạn và lượng tăng trưởng sinh khối hàng năm
chiếm 37% [49].
Tổng kết lại, các nhà khoa học trên thế giới đã nghiên cứu sinh
dioxit carbon để xác định sinh khối. Theo đó sinh khối được đánh giá bằng
cách xác định tốc độ đồng hoá CO2.
Hai nhà khoa học Aruga và Maidi (1963) đã đưa ra phương pháp
“Chlorophyll” để xác định sinh khối thông qua hàm lượng Chlorophyll trên
một đơn vị diện tích mặt đất vì hàm lượng này là một chỉ tiêu biểu thị khả
năng của hệ sinh thái hấp thụ các tia bức xạ hoạt động quang tổng hợp (dẫn
theo Đặng Trung Tấn – 2001) [25].
Edmonton. Et. Al đề xướng phương pháp Oxygen năm 1968 nhằm định
lượng oxygen tạo ra trong quá trình quang hợp của thực vật màu xanh. Từ đó
tính ra được năng suất và sinh khối rừng.
iii) Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, công nghệ viễn thám
và hệ thống thông tin địa lý (GIS) với các công cụ như: ảnh hàng không, ảnh
vệ tinh, laze, rada, hệ thống định vị toàn cầu (GPS)... được sử dụng trong điều
tra sinh khối và đo đếm lượng carbon trong hệ sinh thái và biến đổi của chúng.
Tiên phong là P.S.Roy, K.G.Saxena và D.S.Kamat (Ấn Độ, 1956) trong công
trình “Đánh giá sinh khối thông qua viễn thám” đã nêu tổng quát vấn đề sản
phẩm sinh khối và việc đánh giá sinh khối bằng ảnh vệ tinh.
-Nghiên cứu khả năng hấp thụ carbon của rừng
Rừng là bể chứa carbon khổng lồ của trái đất và khả năng hấp thụ
carbon của thực vật đã được quan tâm từ rất sớm. Trên cơ sở các phương
pháp tiếp cận về xác định sinh khối rừng nêu trên, các nhà khoa học đã nghiên
8
cứu khả năng hấp thụ carbon cho các đối tượng khác nhau và đã thu được các
kết quả rất đáng kể.
Các nhà khoa học đã cố gắng xác định quy mô của các vùng dự trữ
carbon toàn cầu và sự đóng góp của rừng vào các vùng dự trữ cũng như
những thay đổi về lượng carbon được dự trữ như: Bolin (1977); Post,
Nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu về khả năng hấp thụ carbon của
rừng trên toàn thế giới, tiêu biểu phải kể đến:
Brown và cộng sự (1996) [34] đã ước lượng tổng lượng carbon mà hoạt
động trồng rừng trên thế giới có thể hấp thu tối đa trong vòng 50 năm (1995 2000) là khoảng 60 - 87 Gt C, với 70% ở rừng nhiệt đới, 25% ở rừng ôn đới
và 5% ở rừng cực bắc (Cairns et al., 1997) [36]. Tính tổng lại rừng trồng có
thể hấp thu được 11 - 15% tổng lượng CO2 phát thải từ nguyên liệu hoá thạch
trong thời gian tương đương. Tổng lượng hấp thu dự trữ carbon của rừng trên
toàn thế giới khoảng 830 Pg C, trong đó carbon trong đất lớn hơn 1,5 lần
carbon dự trữ trong thảm thực vật (Brown, 1997) [34].
Năm 1999, một nghiên cứu về lượng phát thải carbon hàng năm và
lượng carbon dự trữ trong sinh quyển được Malhi và Baldocchi thực hiện.
Theo các tác giả này thì sự phát thải từ các hoạt động của con người (như đốt
nhiên liệu hóa thạch,…) tạo ra 7,1 ±1,1 Gt C/năm đi vào khí quyển, 46% còn lại
trong khí quyển, khi đó 2,0 ± 0,8 Gt C/năm được chuyển vào đại dương; 1,8 ± 1,6
Gt C/năm được giữ trong bể trữ carbon trái đất (dẫn theo Võ Đại Hải - 2008) [7].
Công trình nghiên cứu tương đối toàn diện và có hệ thống về lượng
carbon tích luỹ của rừng được thực hiện bởi Ilic (2000) và Mc Kenzie (2001)
Theo Mc Kenzie (2001), carbon trong hệ sinh thái rừng thường tập trung ở
bốn bộ phận chính: thảm thực vật còn sống trên mặt đất, vật rơi rụng, rễ cây
và đất rừng. Việc xác định lượng carbon trong rừng thường được thực hiện
thông qua xác định sinh khối rừng [47].
10
Theo Schimel và cộng sự, trong chu trình carbon toàn cầu, lượng
carbon lưu trữ trong thực vật thân gỗ và trong lòng đất khoảng 2.5Tt, trong
khi đó khí quyển chỉ chứa 0.8Tt (dẫn theo Phạm Tuấn Anh - 2007) [2].
Khí quyển = 760
các hoạt động của con người, có khoảng 0.7Gt – 1.7Gt được hấp thụ bởi các
hệ sinh thái bên trên bề mặt trái đất. Và hầu hết lượng carbon trên trái đất
được tích lũy trong sinh khối cây rừng, đặc biệt là rừng mưa nhiệt đới.
Y. Morikawa đã tính khối lượng carbon chiếm 50% khối lượng sinh
khối khô, phương pháp này đã được trung tâm Hợp tác Quốc tế và xúc tiến
Lâm nghiệp Nhật Bản (JIFPRO) áp dụng (dẫn theo Võ Đại Hải - 2008) [7].
Trong các nghiên cứu về sự biến động carbon sau khai thác rừng phải
kể đến các công trình của Lasco. Theo Rodel D. Lasco (2002), lượng carbon
tích luỹ bởi rừng chiếm 47% tổng lượng carbon trên trái đất, nên việc chuyển
đổi đất rừng thành các loại hình sử dụng đất khác có tác động mạnh mẽ đến
chu trình carbon. Các hoạt động lâm nghiệp và sự thay đổi phương thức sử
11
dụng đất, đặc biệt là sự suy thoái rừng nhiệt đới là một nguyên nhân quan
trọng làm tăng lượng CO2 trong khí quyển, ước tính có khoảng 1,6 tỷ tấn/năm
trong tổng số 6,3 tỷ tấn khí CO2/năm được phát thải ra do các hoạt động của
con người. Vì vậy, khả năng lưu giữ carbon của rừng nhiệt đới và sự biến
động của nó có ý nghĩa rất to lớn trong việc hạn chế quá trình biến đổi khí hậu
toàn cầu [48].
Tổng kết lại, các nhà khoa học trên thế giới đã nghiên cứu lượng
carbon lưu trữ của rừng theo các hướng tiếp cận chủ yếu sau:
+ Tiếp cận thứ nhất: Phương pháp sinh khối - Tính toán và dự báo khối
lượng sinh khối khô của rừng/đơn vị diện tích (tấn/ha) tại thời điểm cần thiết
trong quá trình sinh trưởng. Từ đó tính lượng carbon tồn trữ trong vật chất hữu
cơ của rừng; Tại Trung Quốc có Lý Ý Đức (1999) áp dụng và từ lâu người ta đã
dùng phương pháp sinh khối để xác định lượng carbon tích luỹ của rừng – đó
cũng chính là phương pháp điều tra tài nguyên rừng truyền thống [54].
+ Tiếp cận thứ hai: Phương pháp đốt tươi và đốt khô các mẫu chất thứ
So với những vấn đề nghiên cứu khác trong lĩnh vực lâm nghiệp,
nghiên cứu về sinh khối rừng ở nước ta được tiến hành khá muộn (khoảng
cuối thập kỷ 80), mặc dù các công trình nghiên cứu tiến hành khá tản mạn và
chưa có hệ thống nhưng các nghiên cứu này cũng đã đem lại những kết quả
rất có ý nghĩa và để lại nhiều dấu ấn [7]. Các công trình nghiên cứu chỉ tập
trung vào một số đối tượng nhất định như: Rừng ngập mặn (Nguyễn Hoàng
Trí, 1986; Đặng Trung Tấn, 2001); Thông (Ngô Đình Quế, 1971; Lê Hồng
Phúc, 1996; Nguyễn Ngọc Lung và Ngô Đình Quế, Viên Ngọc Nam &
Nguyễn Dương Thụy, 1991; Nguyễn Văn Bé, 1999); Keo lá tràm (Vũ Văn
Thông; 1998; Hoàng Văn Dưỡng, 2000)... Hà Văn Tuế (1994) cũng trên cơ sở
phương pháp “cây mẫu” của Newboul P.J (1967) nghiên cứu năng suất, sinh
khối một số quần xã rừng trồng nguyên liệu giấy tại vùng trung du Vĩnh Phú [29].
Tuy nhiên, việc nghiên cứu sinh khối của các tác giả trên mới chỉ tìm ra
13
mối quan hệ giữa các bộ phận cây để từ đó đánh giá khả năng đem lại giá trị
về gỗ của cây rừng mà chưa hướng vào nghiên cứu lợi ích môi trường. Từ khi
Cơ chế phát triển sạch được thông qua và thực sự trở thành một cơ hội mới
cho ngành lâm nghiệp thì những nghiên cứu về sinh khối rừng ở nước ta bắt
đầu nhận được sự quan tâm đặc biệt của các nhà khoa học. Trong đó, đối
tượng nghiên cứu chính vẫn là các loài Thông, Keo, Bạch đàn.
Trong khoảng thời gian từ năm 2003 – 2005, Ngô Đình Quế và các
cộng tác viên đã tiến hành nghiên cứu xây dựng tiêu chí, chỉ tiêu trồng rừng
theo cơ chế phát triển sạch ở Việt Nam và bước đầu đã đánh giá khả năng hấp
thụ carbon thực tế của một số loại rừng trồng ở Việt Nam: Thông nhựa, Keo
lai, Keo tai tượng, Keo lá tràm, Bạch đàn Uro [20].
Nguyễn Ngọc Lung (2004) đã nghiên cứu sinh khối rừng trồng Thông
ba lá để làm cơ sở tính toán khả năng cố định carbon của loài cây này. Đây
hấp thụ của rừng là hầu hết các tác giả thường thiết lập mối quan hệ giữa
lượng carbon tích lũy của rừng với các nhân tố điều tra cơ bản như đường
kính, chiều cao vút ngọn, mật độ, tuổi... cụ thể như Nguyễn Tuấn Dũng
(2005) đã lập phương trình cho 2 loài Thông mã vĩ và Keo lá tràm; Ngô Đình
Quế (2005) đã xây dựng mối quan hệ cho các loài Thông nhựa, Keo lai, Keo
tai tượng, Keo lá tràm, Bạch đàn Uro; Vũ Tấn Phương (2006) xây dựng các
phương trình quan hệ cho Keo lai, Keo tai tượng, Keo lá tràm, Bạch đàn
Urophylla, Quế. Đây là những cơ sở quan trọng cho việc xác định nhanh
lượng carbon tích lũy của rừng trồng nước ta thông qua điều tra một số nhân
tố đơn giản.
Khả năng hấp thụ carbon của rừng tự nhiên cũng được quan tâm nghiên
cứu. Vũ Tấn Phương (2006) đã nghiên cứu trữ lượng carbon theo các trạng
thái rừng. Kết quả nghiên cứu cho biết: rừng giàu có tổng trữ lượng carbon
694,9 - 733,9 tấn CO2/ha; rừng trung bình 539,6-577,8 tấn CO2/ha; rừng
15
nghèo 387,0-478,9 tấn CO2/ha; rừng phục hồi 164,9 - 330,5 tấn CO2/ha và
rừng tre nứa là 116,5 - 277,1 tấn CO2/ha; đồng thời tính toán trữ lượng carbon
trong sinh khối thảm tươi cây bụi tại Hòa Bình và Thanh Hóa là 20 tấn/ha với
lau lách; 14 tấn/ha với cây bụi cao 2-3 m; khoảng 10 tấn/ha với cây bụi dưới
2m và tế guột; 6,6 tấn/ha với cỏ lá tre; 4,9 tấn/ha với cỏ tranh; cỏ chỉ, cỏ lông
lợn là 3,9 tấn/ha [18]. Đây là một kết quả nghiên cứu rất quan trọng không
những chỉ đóng góp cho phương pháp luận nghiên cứu sinh khối cây bụi thảm
tươi mà còn là căn cứ khoa học để xây dựng kịch bản đường cơ sở cho các dự
án trồng rừng CDM sau này.
Nguyễn Ngọc Lung, Nguyễn Tường Vân đã sử dụng công thức tổng
quát của quá trình quang hợp để tính ra hệ số chuyển đổi từ sinh khối khô
sang CO2 đã hấp thụ là 1,630/1. Căn cứ vào biểu quá trình sinh trưởng và biểu
gai 3 – 4cm, gai hình kim nhọn, hợp ở gốc thành từng bó, che kín đấu. Quả
kiên hình trứng, đường kính 0.8 – 1.5cm, không phủ lông.
- Đặc tính sinh học và sinh thái học
Mùa hoa tháng 4 – 5, quả rụng tháng 11 – 12. Cây 15 tuổi bắt đầu ra
hoa kết quả.
Dẻ gai đỏ là loài cây trung sinh, lúc nhỏ cần che bóng. Tái sinh tự nhiên
tốt dưới tán rừng. Sau 5 tuổi cây mọc tương đối nhanh. Cây thường phân bố ở
độ cao 300 – 1500m.
- Phân bố địa lý
Có thể gặp Dẻ gai đỏ ở các tỉnh Sơn La, Lào Cai, Hà Nội, Nghệ An, Hà
Tĩnh, Gia Lai, Kon Tum, Phú Khánh, Lâm Đồng...
- Giá trị
Lõi gỗ lớn màu nâu đỏ, giác nhạt hơn. Thớ gỗ khô, khi khô hơi nứt rạn.
Gỗ dễ làm, khó mối mục, thích hợp để xây dựng, đóng tầu thuyền, làm nông
cụ. Vỏ và đấu giàu tanin. Hạt có thể ăn được.
17
1.2.2. Sồi phảng (Castanopsis cerebrina)
- Đặc điểm nhận biết
Cây gỗ nhỡ, cao 20- 25m, đường kính có thể tới 80cm, thân thẳng phân
cành cao, có múi, gốc có bạnh vè nhỏ. Vỏ mỏng màu xám nhạt. Cành thẳng,
tỉa cành tự nhiên tốt, mỗi năm có 2 vòng cành. Lá đơn mọc cách, có lá kèm
sớm rụng, lá hình trứng ngược hoặc ngọn giáo, dài 17 – 18cm, rộng 4-8 cm
đầu có mũi nhọn ngắn, đuôi hình nêm, mép lá ở 3/4 phía đầu có răng cưa
nhọn; gân bên 16 – 20 đôi kéo dài tới đỉnh răng cưa. Màu sắc 2 mặt lá phân
biệt rõ, mặt trên xanh thẳm, mặt dưới phủ lông ngắn màu gỉ sắt óng ánh.
Cuống lá dài 1.5 – 2cm. Rễ cọc ngắn không ăn sâu, hệ rễ bên thường rộng
hơn đường kính tán lá. Cây có khả năng liền rễ.
xoan hay trái xoan dài, đầu nhọn dần, đuôi nêm rộng hoặc gần tròn, dài 8 –
20cm, rộng 3- 12cm. Lá có 3 gân gần gốc gần song song nổi rõ ở cả 2 mặt.
Cuống lá nhẵn dài 1cm. Hệ rễ hỗn hợp, rễ cọc và rễ bên đều phát triển.
Hoa tự xim viên chùy ở nách lá. Hoa lưỡng tính màu xanh vàng nhạt, 4
vòng nhị, bao phấn 4 ô mở bằng nắp, nhị thoái hóa 3, hình tam giác. Quả hạch
hình trụ hay hình trái xoan dài, dài 1 – 1.5cm, đế hình chậu hoa bọc một phần
quả.
- Đặc tính sinh học và sinh thái học
Re hương sinh trưởng trung bình. Mùa hoa tháng 2 – 3, quả chín tháng
7 -8. Thường mọc tự nhiên nơi đất ẩm, tơi xốp. Tái sinh hạt tốt dưới độ tàn
che 0.4. Khả năng tái sinh chồi mạnh.
- Phân bố địa lý
Phân bố rộng ở các nước Đông Nam Á. Ở Việt Nam, cây mọc rải rác
trong các rừng thứ sinh thuộc hầu hết các tỉnh.
- Giá trị
Gỗ tương đối tốt, màu nâu vàng nhạt, không phân biệt giác lõi, có mùi
thơm nhẹ, có thể đóng đồ dùng. Các bộ phận của cây có thể cất tinh dầu thơm.
Vỏ nhớt, thường bị bóc làm hương.
19
1.3. Nhận xét và đánh giá chung
Điểm qua các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan tới
đề tài nghiên cứu cho thấy các công trình nghiên cứu trên thế giới được tiến
hành khá đồng bộ ở nhiều lĩnh vực từ nghiên cứu cơ bản cho tới các nghiên
cứu ứng dụng, trong đó nghiên cứu sinh khối và khả năng hấp thụ carbon của
rừng được nhiều tác giả quan tâm trong những năm gần đây; các phương pháp
nghiên cứu cũng khá đa dạng và được hoàn thiện dần, đặc biệt là đã ứng dụng
phương pháp mô hình hóa để biểu diễn các mối quan hệ giữa sinh khối và
A.DC.) và Sồi phảng (Castanopsis cerebrina) trồng thuần loài.
2.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Rừng Re hương, Dẻ đỏ và Sồi phảng trồ ng thuầ n loài 12 tuổi, mật độ
1150 cây/ha ta ̣i trung tâm nghiên cứu thực nghiệm lâm sinh Cầu Hai - Phú Thọ.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về nội dung:
Đề tài tiến hành nghiên cứu rừng trồng Re hương, Dẻ đỏ và Sồi phảng
tại thời điểm điều tra, không nghiên cứu hiện trạng thảm thực vật trước khi
trồng rừng và diễn biến rừng trước thời điểm điều tra, không nghiên cứu về
lượng carbon trong đất rừng.
Đề tài thực hiê ̣n nghiên cứu đối với các bô ̣ phâ ̣n rễ, thân, cành, lá, không
nghiên cứu các bô ̣ phâ ̣n như: hoa, quả, ha ̣t.
+ Về địa điểm: trung tâm nghiên cứu thực nghiệm lâm sinh Cầu Hai Phú Thọ.
21
2.3. Nội dung nghiên cứu.
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu trên, đề tài tập trung nghiên cứu
một số nội dung sau:
- Nghiên cứu sinh khối cây cá lẻ;
- Nghiên cứu sinh khối lớp cây bụi – thảm tươi và vật rơi rụng;
- Nghiên cứu tổng sinh khối lâm phần;
- Nghiên cứu lượng carbon tích luỹ trong cây cá lẻ;
- Nghiên cứu lượng carbon tích luỹ trong lớp cây bụi – thảm tươi và vật
rơi rụng;
- Nghiên cứu tổng lượng carbon tích luỹ trong lâm phần.
Toàn bộ các bước trong quá trình nghiên cứu được thể hiện tóm tắt trong
sơ đồ sau:
Lượng sinh khối
lâm phần
Lượng C tích tụ
trong lâm phần
Lượng sinh khối của
rừng trong khu vực
Lượng C tích tụ của
rừng trong khu vực
LƯỢNG SINH KHỐI
VÀ CARBON CỦA
RỪNG TRONG KHU
VỰC NGHIÊN CỨU
Hình 2.1: Sơ đồ tiến trình nghiên cứu
2.4. Phương pháp nghiên cứu
2.4.1. Quan điểm và cách tiếp cận đề tài
Rừng đóng vai trò quan trọng trong việc chống lại sự biến đổi khí hậu
toàn cầu do ảnh hưởng của nó đến chu trình tuần hoàn carbon. Rừng trao đổi