TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN
======
LÊ THU HẰNG
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ
CỦA MỘT SỐ GIỐNG HOA CÚC NUÔI CẤY MÔ
GIAI ĐOẠN RÈN LUYỆN THÍCH NGHI
VỚI ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Sinh lý học thực vật
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
PGS. TS. NGUYỄN VĂN ĐÍNH
HÀ NỘI, 2017
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS. Nguyễn Văn Đính Khoa Sinh – KTNN trƣờng Đại học Sƣ Phạm Hà Nội 2 đã tận tình hƣớng dẫn,
giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Trong thời gian thực hiện đề tài tôi cũng nhận đƣợc sự giúp đỡ tận tình
của thầy TS. La Việt Hồng – Khoa Sinh - KTNN, cô Mai Thị Hồng – Phòng
thí nghiệm Sinh lý thực vật, đã giúp đỡ, đóng góp ý kiến để tôi hoàn thành đề
tài khóa luận, nhân đây tôi cũng xin chân thành cảm ơn.
Tôi xin cảm ơn tới các Ban Giám hiệu trƣờng ĐHSP Hà Nội 2 đã tạo
mọi điều kiện để tôi hoàn thành khóa luận này.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn tập thể cán bộ Phòng thí nghiệm Sinh
:
6-Benzylaminopurine
Kinetin
:
6- Furfurylaminopurinne
NAA
:
1- Naphthaleneacetic acid
NXB
:
Nhà xuất bản
DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1: Chồi cúc Đỏ Cờ in vitro trong 4 tuần ............................................. 24
Hình 3.2: Cây cúc đƣa ra ngoài vƣờn ƣơm ..................................................... 24
Hình 3.3b: Chiều dài rễ giống cúc Thạch Bích 0 ngày – 14 ngày .................. 27
Hình 3.6b: Chiều cao cây giống cúc Thạch Bích 0 ngày – 14 ngày ............... 31
1.1.7.4. Chăm sóc ............................................................................................ 10
1.2. Giá trị kinh tế của cây hoa cúc ................................................................. 10
1.3. Tình hình sản xuất và phát triển hoa cúc trên thế giới và Việt Nam ....... 12
1.3.1. Trên thế giới. ......................................................................................... 12
1.3.2. Ở Việt Nam. .......................................................................................... 13
1.3.3. Những thuận lợi, khó khăn khi trồng cúc ở nƣớc ta ............................. 14
1.4. Kết quả nghiên cứu chỉ tiêu sinh lý học cây hoa cúc nuôi cấy mô .......... 15
1.4.1. Trên thế giới .......................................................................................... 15
1.4.2. Ở Việt Nam ........................................................................................... 16
CHƢƠNG 2: ĐỐI TƢỢNG - PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .................. 18
2.1. Vật liệu, hóa chất và thiết bị nghiên cứu.................................................. 18
2.1.1. Đối tƣợng nghiên cứu............................................................................ 18
2.1.2. Hóa chất và thiết bị nghiên cứu............................................................. 18
2.2. Địa điểm tiến hành nghiên cứu ................................................................ 18
2.3. Nội dung nghiên cứu ................................................................................ 18
2.4. Phƣơng pháp nghiên cứu.......................................................................... 19
2.4.1. Phƣơng pháp bố trí thí nghiệm.............................................................. 19
2.4.2. Phƣơng pháp xác định các chỉ tiêu ....................................................... 20
2.4.3. Phƣơng pháp phân tích thống kê kết quả thực nghiệm ......................... 22
CHƢƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ....................................................... 23
3.1. Nhân nhanh in vitro một số giống hoa cúc hoàn chỉnh ........................... 23
3.1.1.Ảnh hƣởng của BAP kết hợp với Kinetin đến khả năng ra chồi in
vitro một số giống cúc nuôi cấy mô ................................................................ 23
3.1.2. Ra rễ - tạo cây cúc in vitro hoàn chỉnh ................................................. 24
3.2. Nghiên cứu một số đặc điểm sinh lý của cây in vitro giai đoạn rèn
luyện thích nghi với điều kiện tự nhiên .......................................................... 25
3.2.1. Đánh giá tỉ lệ sống sót ........................................................................... 25
3.2.2. Các chỉ tiêu sinh trƣởng của một số giống cúc giai đoạn vƣờm ƣơm .. 26
kinh tế cao cho ngƣời sản xuất. Hoa cúc hấp dẫn ngƣời sản xuất và kinh
doanh không chỉ bởi vì hoa cúc đẹp, có nhiều loại hoa với màu sắc khác nhau
mà hoa cúc còn là loại cây dễ trồng, dễ sản xuất, đa dạng về loài, màu sắc và
có thể trồng nhiều vụ trong năm phục vụ cho tiêu thụ và sản xuất. Ngoài tác
dụng làm cảnh, trang trí, hoa cúc còn rất có lợi cho sức khỏe. Nó đƣợc coi là
một thảo dƣợc có tác dụng rất tốt trong việc chữa bệnh. Theo Đào Mạnh
Khuyến (1993) [9] thì hoa cúc còn đƣợc sử dụng để chiết tinh dầu thơm pha
chè, ngâm rƣợu nhƣ Cúc Chi, dùng làm thuốc trừ sâu nhƣ cúc trừ sâu, đối với
ngành y dƣợc thì một số loài nhƣ Kim cúc, Bạch cúc có tác dụng chữa đau
đầu hoa mắt. Còn theo Đông y, hoa cúc có vị ngọt, hơi đắng, tính mát, có tác
dụng thanh nhiệt, giải độc, giải cảm, mát gan,…
Do nhu cầu thị hiếu của ngƣời tiêu dùng về hoa cúc càng cao do đó
phƣơng pháp nhân giống cũng liên tục đƣợc cải tiến nhằm tạo ra những giống
cây với số lƣợng lớn, chất lƣợng cao, đảm bảo nguồn giống tạo ra sạch bệnh,
họ có thể điều chỉnh đƣợc thành phần dinh dƣỡng, nhiệt độ,… theo ý muốn và
1
đƣợc tiến hành quanh năm. Cùng với sự phát triển của công nghệ sinh học
trong việc áp dụng phƣơng pháp nuôi cấy mô (in vitro) đáp ứng mọi yêu cầu
trên. Ngày nay, ở những nƣớc phát triển cũng nhƣ một số vùng chuyên canh
hoa nhƣ Đà Lạt đã đƣợc ứng dụng rất rộng rãi và phổ biến kĩ thuật nuôi cấy
mô tế bào thực vật để tạo ra số lƣợng lớn cây con với hệ số nhân giống cao,
đồng đều về chất lƣợng đáp ứng nhƣ cầu của cuộc sống [7]. Nhƣng ngƣợc lại
phƣơng pháp này cũng có một số nhƣợc điểm mà chúng ta cần lƣu ý nhƣ:
nhân nhanh với số lƣợng nhiều sẽ gây ra hiện tƣợng thoái hóa giống, giống
cây ngày một xấu và không to khỏe, mập mạp và xanh tốt nữa; trƣớc khi đem
nuôi cấy cần phải có mẫu sạch, đạt yêu cầu; ngoài ra trong quá trình nuôi cấy
cây sẽ bị thủy tinh hóa;… vì vậy chúng ta cần có những giải pháp phù hợp để
nhiên.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Hoàn thiện các quy trình trong nhân giống và chăm sóc cây trồng nuôi
cấy mô nhằm cung cấp nguồn cây giống sạch bệnh, chất lƣợng cao. Từ những
nghiên cứu có thể tìm ra đƣợc điều kiện tốt nhất để có thể tạo ra giống cúc tốt
trong giai đoạn vƣờn ƣơm để tăng năng suất và chất lƣợng cây hoa cúc đáp
ứng thị hiếu của ngƣời tiêu dùng và làm tăng giá trị kinh tế, đem lại lợi nhuận.
3
NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Giới thiệu về hoa cúc
1.1.1. Nguồn gốc cây hoa cúc
Hoa cúc có tên khoa học (Chrysanthemum sp.) đƣợc định nghĩa từ
Chrysos (vàng) và Anthemon (hoa) bởi Linneaus năm 1753, có nguồn gốc
Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam và một số nƣớc Châu Âu.
Khoảng 500 năm trƣớc công nguyên, hoa cúc lần đầu tiên đƣợc trồng ở
Trung Quốc nhƣ một loại thảo mộc có hoa. Trong thế kỉ thứ VIII sau công
nguyên, các giống hoa cúc đã đƣợc giới thiệu từ Trung Quốc đến Nhật Bản. Ở
Trung Quốc, ngƣời ta đã làm lễ “Thắng địa hoa vàng” (hoa cúc) và cây hoa
cúc đã đi vào tác phẩm hội họa từ thời gian này. Một thành phố cổ xƣa của
Trung Quốc đã đặt tên là Ju – Xian, có nghĩa là: “Thành phố hoa Cúc”. Ở
Nhật Bản, hoa cúc đƣợc sử dụng trong chính các lễ hội. Tới thế kỉ thứ XVII,
Hà Lan dƣờng nhƣ là quốc gia đầu tiên ở Châu Âu nhập khẩu hoa cúc vào
năm 1688 nhƣng nó không thể sống. Đến năm 1789, 3 giống đƣợc nhập khẩu
từ Trung Quốc đƣa vào Pháp trong đó chỉ có 1 giống sống sót và đƣợc trồng ở
Anh năm 1975. Đầu thế kỉ XIX, 8 giống sau đó từ Trung Quốc đƣợc nhập vào
Anh và năm 1826 con số đó tăng dần lên tới 48 giống cây. Năm 1836, hoa cúc
“Sinh học và hóa học của họ Cúc” đã có sự thống nhất tƣơng đối về hệ thống
học của họ Asteraceae. Họ cúc trên thế giới xếp trong 2 phân họ, 13 tông [21].
Nghiên cứu của Anderson (1987), Langton (1989) cho biết trên thế giới có
hơn 7000 giống cúc đã đƣa vào sử dụng với sự đa dạng về chủng loại, phong
phú về màu sắc [15], [22]. Việt Nam có 2 phân họ và 12 tông, nhƣng hiện tại
chia làm 17 tông. Họ cúc có khoảng 1550 chi với 23000 loài [14], [29].
Tuy nhiên, có nhiều tài liệu khác nhau về số liệu loài hoa cúc. Theo tác
giả Nguyễn Nghĩa Thìn thì họ cúc có 2500 loài và có 1100 chi [14]. Theo
Trần Lan Hƣơng và cộng sự, hoa cúc có hơn 3000 loài với kích thƣớc, màu
5
sắc khác nhau [8].
1.1.3. Đặc điểm cây hoa cúc
- Rễ: rễ cây hoa cúc thuộc một loại rễ chùm, mọc cạn, theo chiều ngang,
phân bố ở tầng mặt từ 5 – 20 cm. Khối lƣợng bộ rễ lớn do sinh nhiều rễ phụ
và lông hút, nên khả năng hút nƣớc và dinh dƣỡng mạnh. Kích thƣớc các rễ
trong bộ rễ cúc chênh lệch nhau không nhiều, số lƣợng rễ rất lớn. Có 2 loại rễ
là rễ mầm và rễ thứ sinh [7].
- Thân: hoa cúc thuộc thân thảo nhỏ. Thân cây dạng đứng hoặc bò, có
khả năng phân nhánh mạnh và có nhiều đốt giòn dễ gãy, càng lớn càng cứng.
Thân có ống tiết nhựa mủ trắng, mạch có bản ngăn đơn. Cây cao hay thấp, đốt
dài hay ngắn, sự phân cành mạnh hay yếu tùy thuộc vào từng giống, điều kiện
sinh trƣởng, phát triển. Nhìn chung cây ở điều kiện Việt Nam có thể từ 30 –
80 cm, ở điều kiện ngày dài cây cúc có thể cao từ 1,5 – 2 m.
- Lá: Lá cây cúc thƣờng xẻ thùy và có răng cƣa. Lá đơn không có lá
kèm, mọc so le nhau, bản lá xẻ thùy lông chim, lá phẳng hoặc hơi nghiêng về
phía trên. Mặt trên nhẵn, gân hình mạng lƣới, còn mặt dƣới bao phủ một lớp
lông tơ. Phiến lá mềm mỏng có thể to hoặc nhỏ, màu sắc xanh đậm hoặc nhạt
- Hạt: hạt cây hoa cúc có phôi trắng và không có nội nhũ tế bào [7].
1.1.4. Yêu cầu đặc điểm ngoại cảnh của cây hoa cúc
- Nhiệt độ: Hoa cúc có nguồn gốc ôn đới, nên đa số ƣa khí hậu mát mẻ.
Với Việt Nam, mùa thu là mùa có khí hậu tƣơng đối mát mẻ và thuận lợi,
nhiệt độ thích hợp cho cây sinh trƣởng và phát triển là 150C - 200C, bên cạnh
cũng có một số giống cúc chịu đƣợc nhiệt độ 30 – 350C. Tuy nhiên, nhiệt độ
quá cao (350C) hay quá thấp (100C) đều làm ảnh hƣởng tới sinh trƣởng và
phát triển của cây. Ở thời kì cây con và thời kì ra hoa cây có yêu cầu nhiệt độ
cao hơn [13].
- Ánh sáng: Ánh sáng có ảnh hƣởng mạnh tới quá trình phát sinh hình
thái của mô nuôi cấy, bao gồm cƣờng độ, chu kì và thành phần quang phổ ánh
7
sáng. cúc là cây trồng cạn, không chịu đƣợc úng, có sinh khối lớn và bộ lá to,
do vậy cũng chịu hạn kém. Ánh sáng có sự ảnh hƣởng rất lớn đến sự ra hoa và
phân hóa mầm hoa của cây hoa cúc. Tuy nhiên ở mỗi thời kỳ sinh trƣởng và
phát triển cây có yêu cầu ánh sáng khác nhau:
+ Thời kỳ cây non: Khi cây ra rễ cây cần ít ánh sáng vì lúc này cây non
còn sử dụng các chất dinh dƣỡng dự trữ.
+ Thời kỳ chuẩn bị phân cành: cây cần nhiều ánh sáng để quang hợp tạo
các chất hữu cơ cần thiết cho hoạt động sống của cây.
Cúc đƣợc xếp vào cây ngày ngắn, thời kỳ để phân hóa mầm hoa tốt nhất
là 10 giờ chiếu sáng/ngày với nhiệt độ là 20 - 250C. Thời gian chiếu sáng kéo
dài thì thời gian sinh trƣởng của cây cúc dài hơn, thân cao, lá to, chất lƣợng
hoa tăng. Thời gian chiếu sáng ngắn thì sẽ kích thích phân hóa mầm hoa sớm,
cây ngắn, chất lƣợng hoa kém [13].
- Độ ẩm: Độ ẩm đất thích hợp khoảng 600C - 700C và độ ẩm không khí
thích hợp khoảng 550C - 650C là thuận lợi cho cây sinh trƣởng và phát triển
1.1.7.2. Chuẩn bị đất
Giá thể thích hợp cho cúc là hỗn hợp đất và phân chuồng ủ hoại mục.
Đất trƣớc khi trồng phải tiến hành xử lí mầm bệnh, pH = 6 - 6,5.
Khu vực trồng cây phải cao ráo, thoáng nƣớc. Trƣớc khi trồng phải cuốc
đất thật tơi xốp, phơi ải 15 ngày, nếu đất chặt phải bổ sung thêm tro, trấu (giữ
nguyên hình dạng trấu để tạo độ thông thoáng). Lên luống đất cao 35 - 40cm,
rộng 0,7 - 0,9m.
1.1.7.3. Trồng cây
Trồng cây ra đất tiến hành ra ngôi cây và tiêu chuẩn ra ngôi: Cây đầy đủ
thân, lá (3 - 5 lá), rễ, phát triển bình thƣờng [1].
Cúc phát triển khỏe, lá rộng to nên khoảng cách 5 x 8 cm. Trồng cúc
không đƣợc trồng quá sâu và nén đất chặt, nếu trồng sâu cây sẽ phát triển
chậm và bị thối thân [5].
9
1.1.7.4. Chăm sóc
Điều kiện tự nhiên thuận lợi, mát mẻ với nhiệt độ cho cúc sinh trƣởng và
phát triển tốt là: 150C - 200C. Tuy nhiên, cũng có một số giống hoa cúc có thể
chịu đƣợc nhiệt độ cao hơn 300C - 350 C. Nếu nhiệt độ dƣới 150C và trên
350C chậu hoa cúc sẽ phát triển kém, màu sắc hoa nhợt nhạt, chất lƣợng hoa
xấu.
Khi cây đã bám rễ trên giá thể tiến hành phun phân bón lá Thiên Nông
hoặc Đầu Trâu với nồng độ 5 g/lit nƣớc, 3 ngày phun 1lần.
Tƣới nƣớc: Cúc là loại cây cần nhiều nƣớc trong quá trình phát triển,
trung bình 1 ngày tƣới 2 lần là đủ. Nếu cây mới đem ra trồng cần phủ nylon 3,
4 ngày để hở từ từ để cây có thể thích nghi đƣợc với môi trƣờng tự nhiên và
chú ý không nên tƣới nhiều hoặc đẫm nƣớc quá sẽ dễ làm thối rễ, thối thân.
Thƣờng xuyên loại bỏ lá già, tạo độ thông thoáng và tránh sâu bệnh. Khi
phòng khách, bàn làm việc, trong các lễ viếng,… Cúc còn đƣợc trồng đại trà
nhằm mục đích cắm hoa bình, trồng trong bồn hay để trang trí,…[5]. Theo Lê
Kim Liên thì học cúc gồm 374 loài, trong đó có 181 loài đã biết giá trị sử
dụng [1].
Làm thuốc: Cây hoang dại 85%, 16 loài cây trồng.
Làm cảnh: 30 loài (nhập nội có nguồn gốc nƣớc ngoài).
Rau ăn: 31 loài tự nhiên, 4 loài trồng.
Thuốc trừ sâu: 3 loài ( không gây độc).
Phân xanh: 1 loài, cúc quỳ ở Mỹ dùng để phủ đất trống bạc màu.
Chất béo và tinh dầu: 12 loài, đặc biệt là cây thanh hao.
Ngoài ra cúc còn đƣợc dùng để pha chè, ngâm rƣợu (cúc vàng, Kim
cúc,…), làm thuốc chữa bệnh (cúc Trắng chữa nhức đầu, đau mắt,..); rau cải
cúc thƣờng trồng làm rau ăn.
Bên cạnh việc đáp ứng nhu cầu trên, hoa cúc đồng thời cũng đem lại
nguồn kinh tế cho ngƣời dân Việt Nam: Quý 3 năm 2008 xuất khẩu hoa đạt
11
tới 1,4 triệu USD [31].
Việc xuất khẩu hoa ngày một tăng cao trong 10 tháng năm 2016 với kim
ngạch đạt 11,5% triệu USD, tăng 37,9%. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu hoa
Cúc các loại đạt cao nhất với 7 triệu USD, tăng 23,4% so với cùng kỳ 2009
[31].
Ngày nay cùng với sự phát triển khoa học công nghệ thì việc sản xuất và
nhân giống hoa cúc trở nên dễ dàng hơn rất nhiều. Ngƣời ta đã có thể kéo dài
tuổi thọ của hoa, điều khiển hoa theo ý muốn, trồng trái vụ hoặc cho nở hoa
vào các dịp lễ tết đã làm cho giá trị của hoa cúc đƣợc tăng lên nhiều lần.
1.3. Tình hình sản xuất và phát triển hoa cúc trên thế giới và Việt Nam
Với sự đa dạng về chủng loại, màu sắc, kiểu dáng, hƣơng thơm dịu, dễ
lƣợng cành cắt hàng năm là 50.841.500 cành và đạt năng suất 635625ha [25].
Ở Trung Quốc, cúc là 1 trong 10 loài hoa cắt quan trọng sau Hồng và Cẩm
chƣớng chiếm khoảng 20% tổng số hoa cắt trên thị trƣờng bán buôn ở Bắc
Kinh và Côn Minh. Vùng sản xuất hoa cúc chính là Quảng Đông, Thƣợng
Hải, Bắc Kinh bao gồm các giống ra hoa mùa Hè, Thu, Đông sớm và Xuân
muộn với loại cúc đơn, màu đƣợc ƣa chuộng nhất là vàng, trắng, đỏ [10].
Hàng năm, một số nƣớc vừa xuất khẩu vừa nhập khẩu hoa cúc do đặc điểm
của giống với môi trƣờng và điều kiện khí hậu các nƣớc khác nhau nên các
giống hoa cúc trồng cung cấp cho thị trƣờng khác nhau.
1.3.2. Ở Việt Nam.
Ở Việt Nam, hoa cúc đƣợc du nhập vào đầu thế kỉ XV, đến đầu thế kỉ
XIX đã hình thành một số vùng chuyên canh nhỏ cũng cấp cho ngƣời tiêu
dùng, một phần để chơi thƣởng thức, một phần phục vụ việc cúng lễ và một
phần dùng làm dƣợc liệu.
Nếu xét về cơ cấu chủng loại tất cả các loại hoa thì trƣớc những năm
1997 diện tích hoa hồng nhiều nhất chiếm 31% nhƣng từ 1998 trở lại đây với
trên 15.000 ha trồng hoa cúc trên cả nƣớc, diện tích trồng hoa cúc đã vƣợt lên
13
chiếm 42%, trong đó hoa hồng chỉ còn 29,4%. Hiện nay hoa cúc là loại hoa
có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất, chiếm gần 50% tổng kim ngạch xuất khẩu
hoa cây cảnh của cả nƣớc.
Ở nƣớc ta hiện nay hoa cúc có măt khắp nơi từ vùng núi cao đến đồng
bằng, từ nông thôn đến thành thị nhƣng chủ yếu tập trung ở các vùng hoa
truyền thống của thành phố, khu công nghiệp, khu du lịch nghỉ mát nhƣ Ngọc
Hà, Quảng An, Nhật Tân (Hà Nội), Đằng Hải, Đằng Lâm (Hải Phòng), Gò
Vấp, Hoặc Môn (Thành phố Hồ Chí Minh), Thành phố Đà Lạt (Lâm Đồng)
với tổng diện tích trồng hoa khoảng 2000 ha. Riêng Hà Nội và Đà Lạt hàng
+ Thiếu trang thiết bị nhà lƣới, nhà kính, nhà bảo quản.
+ Thiếu đội ngũ cán bộ kỹ thuật, các nhà nghiên cứu về cây hoa.
1.4. Kết quả nghiên cứu chỉ tiêu sinh lý học cây hoa cúc nuôi cấy mô
1.4.1. Trên thế giới
Hoa cúc có nguồn gốc rất lâu đời, song mãi đến thế kỉ XX nó mới có giá
tri thƣơng mại trên thế giới và trở thành sản phẩm hoa cắt có giá trị sản xuất
cao, mang lại lợi nhuận lớn cho ngƣời sản xuất, cho nên hoa cúc đã trở thành
một đề tài đƣợc nhiều khoa học trên thế giới đi sâu nghiên cứu trên lĩnh vực
nhƣ chọn tạo giống, nhân giống, kĩ thuật trồng và chăm sóc,…
Sussex (1989) sử dụng thành công đỉnh sinh trƣởng để nuôi cấy in vitro
[27], kết quả thí nghiệm cho thấy phƣơng pháp tối ƣu để mẫu có tỷ lệ sống sót
và tỷ lệ tái sinh chồi cao nhất là bảo quản chồi đỉnh cúc trƣớc nuôi cấy mô 2
ngày trong điều kiện lạnh dần từ 0,20C đến 40C với 10% Dimethyl sulfoxide
và 3% Glucose, có nhiều giống đã đạt các tỷ lệ này tới 100%.
Theo Strelitus và Zhuravie (1986) [26] thì tổng nhiệt hữu hiệu của cây
hoa cúc là 17000C và nhiệt độ thích hợp cho sự sinh trƣởng, phát triển từ 20 –
250C. Nhiệt độ lớn hơn hoặc bằng 300C ảnh hƣởng đến màu sắc chất lƣợng
hoa, nhiệt độ nhỏ hơn hoặc bằng 100C ảnh hƣởng đến sinh trƣởng, phát triển
của cây hoa cúc.
15
1.4.2. Ở Việt Nam
Ở nƣớc ta việc trồng, chăm sóc cây hoa cúc từ lâu chỉ theo kinh nghiệm
truyền thống từ đời này sang đời khác. Việc nhân và giữ giống đƣợc tiến hành
bằng phƣơng pháp tỉa chồi, giâm cành qua nhiều năm làm cho giống bị thoái
hóa rất mạnh, sâu bệnh nhiều làm giảm năng suất, phẩm chất và giá trị thƣơng
mại. Trong những năm gần đây cùng với quá trình đổi mới đất nƣớc tốc độ đô
thị hóa ngày càng mạnh, nhu cầu về hoa ngày càng trở nên thiết yếu nên công