Nghiên cứu vai trò hệ sinh thái rừng ngập mặn tới phát triển kinh tế của người dân huyện giao thủy tỉnh nam định - Pdf 43

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
---------------------

TRẦN NGỌC DIỆP

NGHIÊN CỨU VAI TRÒ CỦA HỆ SINH THÁI RỪNG NGẬP
MẶN TỚI PHÁT TRIỂN SINH KẾ CỦA NGƯỜI DÂN
HUYỆN GIAO THỦY- TỈNH NAM ĐỊNH

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

Hà Nội, 2010


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
-----------------

TRẦN NGỌC DIỆP

NGHIÊN CỨU VAI TRÒ CỦA HỆ SINH THÁI RỪNG NGẬP
MẶN TỚI PHÁT TRIỂN SINH KẾ CỦA NGƯỜI DÂN
HUYỆN GIAO THỦY- TỈNH NAM ĐỊNH


dân vùng ven biển.
Giao Thủy là một huyện miền biển của tỉnh Nam Định có hệ sinh thái
rừng ngập mặn đặc trưng là nguồn sinh kế chủ yếu của người dân tại địa
phương. Các hộ gia đình ở đây phần lớn tham gia vào các hoạt động sản xuất
nông, lâm, ngư nghiệp; sinh kế của họ phụ thuộc vào tiềm năng và các nguồn
lợi sẵn có của hệ sinh thái rừng ngập mặn nơi đây. Để đảm bảo cuộc sống
người dân liên tục khai thác các nguồn lợi từ RNM như lấy củi, nuôi ong lấy
mật, phá rừng làm đầm nuôi tôm cua và các thủy sản khác .... một cách quá


2
mức. Trước thực trạng đó, nhằm góp phần nâng cao nhận thức của người dân
về tầm quan trọng của rừng ngập mặn tới chính đời sống của người dân từ đó
góp phần ổn định và phát triển bền vững hệ sinh thái rừng ngập mặn có sự
tham gia của người dân, gián tiếp đảm bảo sự phát triển sinh kế cho người
dân, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu vai trò của hệ sinh thái rừng
ngập mặn tới phát triển sinh kế của người dân huyện Giao Thủy – Nam Định”


3
Chương 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.Rừng ngập mă ̣n
1.1.1 Rừng ngập mặn và phân bố rừng ngập mặn ở Việt Nam
Rừng ngâ ̣p mă ̣n (RNM) là kiể u rừng phát triể n trên vùng đấ t lầ y, ngâ ̣p
nước mă ̣n của vùng cửa sông, ven biể n, do ̣c theo các sông ngòi, kênh ra ̣ch có
nước lơ ̣ do thủy triề u lên xuố ng hàng ngày.
Viê ̣t Nam có bờ biể n dài khoảng 3.260 km và hê ̣ thố ng sông ngòi dày
đă ̣c chở phù sa đổ ra cửa sông, ven biể n, ta ̣o ra nhiề u baĩ lầ y thuâ ̣n lơ ̣i cho sự
hiǹ h thành các RNM. Theo nghiên cứu của Phan Nguyên Hồ ng (1991, 1993)

26,092ha
17%
700ha
0%

20,842ha
13%
2,300ha
1%

§«ng Nam Bé vµ
Tp HCM
§ång b»ng s«ng
Cöu Long

Hiǹ h 1. Phân bố diện tích rừng ngập mặn theo khu vực
(Nguồn: Viện điều tra quy hoạch rừng, 2001)

1.1.2. Đa dạng sinh học của RNM
Đa dạng sinh học của hệ sinh thái RNM Việt Nam rất phong phú. Hệ
thực vật chủ yếu gồm 37 loài cây ngập mặn thực thụ và 72 loài cây tham gia
[13]. Các loài cây RNM được thống kế theo giá trị sử dụng gồm: 30 loài cung
cấp gỗ, than, củi; 14 loài cung cấp tannin; 21 loài làm dược liệu và để nuôi
ong; 24 loài có thể sử dụng làm phân xanh và 1 loài có khả năng cung cấp
dịch nhựa cho chế biến nước giải khát, đường, rượu.
Nguồn lợi thủy sản của vùng RNM cũng rất phong phú. Số loài cá nước
lợ vùng cửa sông, ven biển vùng RNM đã phát hiện là 516 loài. Ở cửa sông
Hồng, theo thống kê có 129 loài với 54 loài có giá trị kinh tế; ở cửa sông ven
biển Quảng Ninh đã phát hiện 193 loài với 86 loài có giá trị kinh tế (Vũ
Trung Tạng, 2003); vùng nước lợ ở các cửa sông Gành Hào, Bồ Đề, Bảy Háp

Ở khu RNM Cần Giờ năm 1963 trước khi rừng bị rải chất độc hóa học
cũng đã khai thác 17.400 stere củi và 10.000 lá dừa nước (Viên Ngọc Nam,
2002) và năm 1992 lượng củi tỉa thưa cao nhất là 19.000 stere.


6
Trước 1985 nguồn tannin sử dụng trong quá trình thuộc da chủ yếu
cung cấp từ vỏ các loài Đước đôi (Rhizophoza apiculata) ở miền Nam và
Đước vòi (Rhizophora stylosa) ở miền Bắc.
Nuôi ong được phát triển tại một số khu vực RNM ở miền Bắc như
khu RAMSAR Xuân Thủy (Nam Định), RNM Tiền Hải, Thái Thụy (Thái
Bình), hàng năm thu khoảng 20 – 50 tấn mật ong.
RNM còn được khai thác dưới dạng du lịch sinh thái như khu dự trữ
sinh quyển Cần Giờ, Vườn quốc gia Đất Mũi, Khu dự trữ thiên nhiên Thạnh
Phú (Bến Tre), Vườn quốc gia Xuân Thủy (Nam Định), …
Về mặt môi trường, hệ sinh thái RNM có vai trò to lớn trong việc cố
định phù sa, lấn biển, chống xói lở bờ biển, hạn chế tác hại của sóng, gió, bão,
đặc biệt là các đai rừng phòng hộ ven biển ở miền Bắc và vùng Đồng bằng
sông Cửu Long. Kết quả nghiên cứu bước đầu cho thấy giá trị sử dụng gián
tiếp (đa dạng sinh học, thủy sản, bảo vệ môi trường…) của hệ sinh thái RNM
là rất to lớn so với giá trị sử dụng trực tiếp (gỗ, củi), chiếm từ 90 – 95% tổng
giá trị kinh tế của hệ sinh thái RNM (N. Alger và Trí NH, 1998; Nguyễn
Ngọc Bình, 2002). Vương Văn Quỳnh đã nhiều năm nghiên cứu về vai trò
môi trường của rừng ngập mặn, các nghiên cứu của ông đã chỉ rõ vai trò to
lớn của rừng ngập mặn trọng việc làm suy giảm động năng của sóng biển từ
đó có tác dụng bảo vệ bờ biển và các công trình ven biển.
1.2.

Sinh kế và tài nguyên rừng


tài nguyên tự nhiên của địa phương.
Dự án CAMPFIRE (chương trình Cộng đồng Quản lý Các khu vực Tài
nguyên bản địa) ở ZIMBAWE đã được phát triển như là một nỗ lực nhằm
cung cấp cho các cộng đồng địa phương quyền tiếp cận, kiểm soát và chịu
trách nhiệm quản lý tài nguyên rừng trên đất đai của họ. Các mục tiêu liên


8
quan là tạo quyền cho các cộng đồng để thực hiện các quyết định về các tài
nguyên, đảm bảo cho họ tiếp nhận một sự chia xẻ công bằng các lợi ích từ
khai thác tài nguyên và tăng cường sự hỗ trợ định chế ở cấp cộng đồng. Các
hoạt động của chương trình bao gồm việc lập kế hoạch săn bắn và quản lý lửa
rừng của địa phương. Kiểm soát sự xâm nhập và các hoạt động khác liên quan
đến động vật hoang dã và phân phối thu nhập. Ở một số nơi, CAMPFIRE đã
tạo ra những thành công đáng kể, gia tăng thu nhập của các hộ gia đình và
cộng đồng, giảm sự xâm nhập và các vấn đề nảy sinh từ những sự tương tác
với tài nguyên rừng và tăng cường thái độ và phương thức bảo tồn của địa
phương (IIDE, 1994; Murombedzi, 1992; Murphree, 1996; Scoones và
Matose, 1993; Trích từ Hoàng Hữu Cải, 2006 [7] )
Theo Molnar (1983) động cơ để những người sử dụng tài nguyên đầu
tư vào việc quản lý nếu như tài nguyên có thể đáp ứng một phần quan trọng
nhu cầu của những người sử dụng, nếu các lợi ích này có thể thu nhập nhanh
chóng và đều đặn. Trường hợp này thấy rõ nhất trong một cuộc điều tra các
hệ thống bản địa dựa trên nhóm sử dụng ở Nepal. Kết quả của cuộc điều tra
cho thấy: các nhóm sử dụng này chỉ có khả năng quản lý tích cực khi tài
nguyên đủ phong phú và cung cấp những lợi ích đáng kể. Nếu những người
sử dụng cảm thấy rằng tài nguyên địa phương họ quá nghèo hay quá nhỏ để
có thể tạo ra lượng bù đắp cho các nỗ lực cần thiết để bảo vệ và quản lý nó,
họ không có động lực để đầu tư quản lý. Như vậy, rừng ở trạng thái sẵn sàng
đi vào sản xuất có khả năng tạo động lực lớn hơn cho sự quản lý tập thể ở địa

môi trường rừng.
Đinh Đức Thuận và các cộng sự (2005) đã nêu rõ vai trò của rừng với
nguồn sinh kế của các hộ gia đình (HGĐ) sống phụ thuộc vào rừng trong
nghiên cứu “lâm nghiệp giảm nghèo và sinh kế nông thôn”. Đề tài phân tích
ảnh hưởng của chính sách đến nguồn thu nhập của HGĐ từ đó đưa ra các giải


10
pháp để cung cấp các khuyến nghị cụ thể và phù hợp với thực tiễn tại địa
phương cho tiến trình hoạch định chính sách, làm thế nào để bảo vệ rừng và
các sản phẩm từ từng có thể đóng góp một cách bền vững vào việc cải thiện
cuộc sống của người dân sống phụ thuộc vào rừng ở nước ta [27]
Liên quan đến vai trò của RNM đối với việc phát triển sinh kế của
người dân, Lal P. N (1990), đã tiến hành nghiên cứu đánh giá lợi ích kinh tế
tại chỗ của HST RNM ở Fiji, bằng việc áp dụng cách tiếp cận dựa trên nguồn
thu nhập, phương pháp chi phí thay thế và trao đổi quyền sử dụng phi thị
trường. Kết quả nghiên cứu cho thấy lợi ích ròng sinh kế của người dân địa
phương trong sử dụng sản phẩm tại chỗ trong vùng RNM (rau, LSNG ...) hầu
như tương đương với các sản phẩm thương mại (ví dụ như gỗ, than củi ...).
Trong trường hợp có sử dụng kết hợp với nuôi trồng thủy sản thì lợi ích ròng
sinh kế tại chỗ lớn hơn rất nhiều [38].
Nguyễn Hoàng Trí và cộng sự (2002) đã tiến hành xây dựng khung
phân tích để lượng giá tổng giá trị kinh tế của HST RNM Cần Giờ TP HCM
nhằm làm rõ giá trị của khu dự trữ sinh quyển đối với lợi ích cộng đồng địa
phương. Kết quả cho thấy tổng lợi ích ròng sử dụng trực tiếp từ RNM tăng lên
đáng kể [42]
Lê Thanh Bình (2003) đã nêu ra được sự đa dạng, phong phú của các
loài động thưc vật vùng đất ngập mặn và nguy cơ suy giảm các loài động,
thực vật này do các hoạt động sản xuất nông, lâm, ngư của người dân trong
vùng từ đó đưa ra các giải pháp để phát triển bền vững hệ sinh thái đất ngập

- Đề xuất một số giải pháp góp phần bảo vệ và phát triển hệ sinh thái
rừng ngập mặn đồng thời đảm bảo phát triển sinh kế của người dân.
2.2. Đối tượng và giới hạn nghiên cứu
2.2.1. Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hệ sinh thái rừng ngập mặn và sinh
kế của người dân huyện Giao Thủy – Nam Định.
2.2.2. Giới hạn nghiên cứu:
- Giới hạn về nội dung: Do thời gian có hạn nên tác giả chỉ giới hạn
nghiên cứu trong phạm vi sau:
+ Đối với hệ sinh thái rừng ngập mặn chỉ nghiên cứu: đặc điểm cấu
trúc tổ thành, mật độ, tính đa dạng sinh học (đa dạng loài).


13
+ Đối với sinh kế của người dân: chỉ tiến hành nghiên cứu sinh kế từ
các hoạt động sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp của người dân hai xã Giao
Thiện và Giao Xuân.
+ Đối với vai trò của rừng ngập mặn: xem xét vai trò trực tiếp của rừng
như các thu nhập trực tiếp và vai trò gián tiếp đến nuôi trồng thủy hải sản và
bảo vệ môi trường.
- Giới hạn về không gian:
+ Nghiên cứu về RNM và sinh kế của đề tài chỉ tiến hành tại 2 xã Giao
Thiện và Giao Xuân thuộc vùng đệm của VQG Xuân Thủy
- Giới hạn về thời gian: Thời gian tiến hành trong 1 năm
2.3. Nội dung nghiên cứu
Để đáp ứng mục tiêu đã đề ra, đề tài tập trung vào các nội dung sau đây:

2.3.1. Nghiên cứu đặc điểm của hệ sinh thái rừng ngập mặn:
- Cấu trúc tổ thành: Mật độ, tổ thành
- Tính đa dạng sinh học: đa dạng loài động, thực vật.

sống của người dân từ góc độ trực tiếp (trong cơ cấu thu nhập kinh tế hộ) và
từ góc độ gián tiếp (đến ảnh đến các hoạt động tạo thu nhập khác như nuôi
tôm cá, v..).
Quá trình nghiên cứu của đề tài được thực hiện theo sơ đồ sau:


15

Xác định mục tiêu và nội
dung nghiên cứu

Điều tra hiện trạng kinh
tế xã hội và sinh kế

Điều tra một số đặc điểm
lâm học của RNM

Đánh giá vai trò của
RNM đối với sinh kế

Đề xuất giải phát phát
triển sinh kế và quản lý
RNM bền vững

Hình 2.1: Các bước nghiên cứu đề tài
2.4.2. Phương pháp thu thập và sử lý số liệu
2.4.2.1. Phương pháp thu thập số liệu
a) Thu thập số liệu thứ cấp
- Các tài liệu cần thu thập
+ Các văn bản, chính sách pháp luật của nhà nước liên quan đến vấn đề

Ngoài ra tuyến điều tra còn được thực hiện dọc các đầm tôm, bờ đê vì
đây là nơi tập trung nhiều thành phần loài thực vật nhất.


17
Tùy từng điều kiện lập địa mà RNM có những thành phần khác nhau vì
vậy khi điều tra RNM ta tiến hành trên các điều kiện lập địa khác nhau (bãi
triều đang bồi ngập triều thường xuyên, bãi triều ngập triều trung bình, bãi
triều ngập triều cao, bãi triều ít khi ngập triều hoặc ta phân theo vùng nước
mặn, nước lợ)
Tại mỗi điều kiện lập địa, lập 3 ô tiêu chuẩn (OTC) với diện tích mỗi
OTC là 1000m2 (20mx50m). Các OTC được bố trí theo chiều từ biển vào đất
liền. Các OTC được lập bằng thước dây, góc vuông được xác định theo định
lý Phitago. Sau khi khép góc kiểm tra sai số thỏa mãn
triển hệ sinh thái rừng ngập mặn với phát triển sinh kế của họ.
Thảo luận nhóm nông dân, nhóm cán bộ quản lý nhằm đánh giá:


19
Mức độ phụ thuộc của người dân vào rừng và vai trò của rừng đối với
sự phát triển sinh kế của họ.
Những thuận lợi, tồn tại, thách thức trong việc giải quyết hài hòa mối
quan hệ giữa bảo vệ rừng và phát triển cộng đồng
Giải pháp nhằm giải quyết hài hoà mối quan hệ đó.
- Phân tích thuận lợi, tồn tại khi quản lý RNM trong quá trình phát triển
sinh kế.
2.4.2.2.Phuơng pháp sử lý và phân tích số liệu
Các số liệu thu thập được tổng hợp dưới dạng các bảng biểu, sơ đồ sau đó
được sử lý và phân tích định lượng bằng phần mềm SPSS 13.0.
- Xác định các chỉ tiêu cấu trúc tổ thành quần xã thực vật ở mỗi xã:
+ Mật độ quần xã (cây/ha)
+ Xác định hệ số tổ thành = nx10/N (n: số cá thể của 1 loài; N Tổng số
cá thể điều tra), từ đó thiết lập công thức tổ thành cho từng quần xã ở mỗi
khu vực nghiên cứu.
+ Xác định loài ưu thế
Phương pháp chuyên gia
Do đối tượng nghiên cứu rộng, mối quan hệ giữa phát triển rừng và phát
triển sinh kế là mối quan hệ rất khó giải quyết vì thế đề tài lựa chọn phương
pháp chuyên gia để bổ xung lấy ý kiến của những nhà quản lý để đánh giá
hiện trạng và tìm ra giải pháp giải quyết hài hòa mối quan hệ đó.


20
Chương 3

bao gồm các nhóm chính: nhóm đất cát pha và thịt nhẹ, đất trung bình, đất thịt
nặng đến sét. Hàm lượng sét dẻo thường phổ biến và chiếm ưu thế ở các khu
vực xa bờ biển, nơi ít chịu ảnh hưởng của sóng triều. Ngược lại ở khu bãi
triều ven biển lại tích tụ chủ yếu thành phần cát, cát pha sét, khoáng vật chính
là Thạch anh và Fenpat.
Diện tích tự nhiên của huyện là 23.823,80ha, được bao bọc bởi sông và
biển. Huyện có 32km bờ biển, nằm giữa sông Hồng và sông Sò. Hàng năm 2
con sông này mang phù sa bồ đắp, mở rộng đất đai của huyện ra hướng biển
đông khoảng 200 ha đất bãi bồi màu mỡ. Đất đai của huyện được chia làm 2
vùng: vùng đồng nội 16.754,18 ha đã được ngọt hóa, thuận lợi cho việc canh
tác lúa nước. Vùng bãi bồi ven biển 6.339,66 ha thuận lợi cho phát triển nuôi
trồng thủy hải sản và trồng rừng ngập mặn.
3.1.3. Khí hậu thủy văn
Khí hậu
Huyện Giao Thủy nói chung và 2 xã nghiên cứu nói riêng nằm trong
vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng trực tiếp của khí hậu và chế
độ thủy triều vùng ven biển đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam.
Khu vực nghiên cứu một năm có 2 mùa rõ rệt là mùa mưa từ tháng 4
đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau. Nhiệt độ không khí
trung bình năm là 23,10C, Tháng một nhiệt độ xuống thấp nhất khoảng 12,10C.
Nằm tiếp giáp với biển Đông, khu vực nghiên cứu thuộc vùng có lượng
mưa lớn của đồng bằng Bắc Bộ, lượng mưa bình quân là 1921mm/năm, phân
bố không đều giữa các tháng trong năm. Tháng thấp nhất là 22mm, tháng cao
nhất lên tới 331,1mm. Về mùa mưa, lượng mưa chiếm từ 80%-85% tổng


22
lượng mưa cả năm. Lượng mưa phân bố không đều ngay cả trong mùa mưa,
thường tập trung vào một số đợt mưa lớn kéo dài kèm theo bão lớn gây hại
nghiêm trọng đến hệ sinh thái rừng ngập mặn. Do lượng mưa kéo dài, lại gặp

Mạng lưới sông ngòi trên địa bàn đều nằm trong lưu vực sông Hồng
bao gồm 3 sông chính là sông Hồng, sông Vọp và sông Trà. Mật độ khá dày
đặc, bình quân 1,9 – 2,5km/km2. Tổng lượng nước lớn, hàng năm sông Hồng
đưa ra biển gần 100 tỉ m3 nước và hàng chục triệu tấn vật liệu cứng với hàm
lượng phù sa trung bình 1kg/m3 qua cửa sông Ba Lạt. Trầm tích bãi triều là
bùn sét pha cát mịn, tốc độ lắng đọng nhanh. Do hàng năm có lượng bùn cát
lớn vận chuyển ra biển nên tốc độ lấn biển diễn ra nhanh, trung bình 80 – 120
m/năm với chiều cao từ 5 – 10cm/năm.
Chế độ thủy triều ở vùng biển khá thuần nhất, phần lớn là nhật triều với
thời gian khoảng 25 ngày/tháng, có 5 - 7 ngày trong tháng là bán nhật triều,
biên độ 3 - 4m. Độ cao trung bình mức triều cường ở cửa Ba Lạt là 3,2m, mức
triều kiệt trung bình là 0,4. Khi triều cao sóng lớn thường gây nguy hiểm cho
đê biển, đe dọa các công trình ven đê. Đợt triều cường ngày 23 tháng 11 năm
2006 đã gây thiệt hại nặng nề cho vùng ven biển. Triều cường dâng cao, nước
biển tràn ngập vào ruộng đồng làm cho hàng loạt cây trồng bị chết, hàng loạt
hoạt động sản xuất bị ngừng trệ, đời sống nhân dân trong vùng gặp khó khăn.
Sóng biển là yếu tố dễ nhận nhất của động lực biển. Năng lượng sóng
biển là nguyên nhân trực tiếp làm xói mòn và sạt lở bờ biển, đê biển. Khi
sóng vỗ vào bờ biển hoặc đê biển và vỡ ra thì toàn bộ năng lượng của sóng
được truyền hết vào đó gây ra xói mòn và sạt lở. Do vùng bãi biển của khu
vực khá bằng phẳng và trống trải nên sóng khá lớn, độ cao của sóng thường từ
2,5 - 3m, độ cao nhất có lúc đạt 4,5m rất nguy hiểm cho đê biển. Vì vậy, cần



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status