ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------------------------------------
NGUYỄN KIM THÀNH
THÁI ĐỘ CỦA NGƢỜI DÂN HUYỆN VỤ BẢN,
TỈNH NAM ĐỊNH ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ
SỬ DỤNG NƢỚC SẠCH
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Tâm lý học
Mã số: 60 31 80
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS - TS Võ Thị Minh Chí
Hà Nội - 2012
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................... 5
1. Lý do chọn đề tài ................................................................................... 5
2. Mục đích nghiên cứu ............................................................................. 6
3. Đối tƣợng nghiên cứu ............................................................................ 6
4. Khách thể và địa bàn nghiên cứu........................................................... 6
5. Giả thuyết nghiên cứu ............................................................................ 7
6. Nhiệm vụ nghiên cứu............................................................................. 7
7. Phƣơng pháp nghiên cứu ....................................................................... 7
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI......................................... 9
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu.............................................................. 9
1.1.1. Nghiên cứu thái độ ở các nước trên thế giới ................................... 9
1.1.2. Nghiên cứu thái độ ở Việt Nam ..................................................... 14
1.2. Một số khái niệm cơ bản của đề tài nghiên cứu ............................... 16
Danh mục từ viết tắt
ÐTB
Ðiểm trung bình
ÐVT
Ðõn vị tính
LHPN
Liên hiệp phụ nữ
PCT
Phó chủ tịch
PVS
Phỏng vấn sâu
STT
Số thứ tự
VSNT
Vệ sinh nông thôn
đƣợc vai trò của nƣớc sạch và thói quen, tập quán sinh hoạt cũ từ xa xƣa
vẫn còn tồn tại trong nhân dân đó là việc sử dụng nƣớc ao, nƣớc giếng phục
5
vụ cho nhu cầu ăn, uống hàng ngày mặc dù ở những địa phƣơng đó nƣớc
sạch đã đƣợc đấu nối đến từng hộ dân.
Việc nâng cao nhận thức và nâng cao thói quen sử dụng nƣớc sạch của
ngƣời dân là vô cùng cần thiết, đặc biệt nó có ý nghĩa hơn với ngƣời dân
sinh sống trên địa bàn huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định bởi đây là địa bàn
trọng điểm đƣợc Dự án nƣớc sạch và vệ sinh nông thôn tỉnh Nam Định lựa
chọn để xây dựng thí điểm một nhà máy cấp nƣớc mới phục vụ nhu cầu
sinh hoạt của nhân dân. Tính đến thời điểm tháng 5 năm 2012, nhà máy
nƣớc đã đƣợc vận hành nhƣng ngƣời dân trên địa bàn các xã còn chƣa coi
việc sử dụng nƣớc sạch (nƣớc máy đƣợc cung cấp bởi dự án) là thói quen
trong sinh hoạt hàng ngày của họ. Phải chăng đối với ngƣời dân, nƣớc sạch
cho dù cần thiết nhƣng chƣa phải là yếu tố quyết định bởi bên cạnh đó họ
vẫn sử dụng các nguồn nƣớc khác nhau. Đó là những lý do thúc đẩy chúng
tôi tiến hành đề tài nghiên cứu “Thái độ của ngƣời dân huyện Vụ Bản, tỉnh
Nam Định đối với vấn đề sử dụng nƣớc sạch”.
2. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thái độ của ngƣời dân trên địa bàn huyện Vụ Bản, tỉnh Nam
Định đối với vấn đề sử dụng nƣớc sạch, từ đó có những kiến nghị với các
cấp chính quyền, ngƣời dân và dự án cung cấp nƣớc tại đây để ngƣời dân
có thái độ đúng đắn hơn nữa với việc sử dụng nƣớc sạch.
3. Đối tƣợng nghiên cứu
Thái độ của ngƣời dân với việc sử dụng nƣớc sạch.
4. Khách thể và địa bàn nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu:
- 250 ngƣời dân tại 4 xã trên địa bàn huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.
- Đƣa ra các kiến nghị để ngƣời dân có thái độ đúng đắn hơn trong sử
dụng nƣớc sạch.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
7.1
Phƣơng pháp nghiên cứu tài liệu:
Tìm đọc, phân tích, tổng hợp các tài liệu, các công trình nghiên cứu
liên quan đến đề tài nghiên cứu. Từ đó xác định nội dung của các khái niệm
cơ bản, xây dựng cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu.
7.2 Phƣơng pháp phỏng vấn sâu:
- Phỏng vấn sâu 25 ngƣời dân tại 4 xã trên địa bàn huyện Vụ Bản
7
- Phỏng vấn sâu 20 cán bộ địa phƣơng/đại diện các đơn vị cấp nƣớc
7.3 Phƣơng pháp điều tra bằng bảng hỏi: Là phƣơng pháp chính để
thu thập những thông tin về vấn đề cần nghiên cứu.
7.4
Phƣơng pháp đàm thoại với chuyên gia
Tham khảo ý kiến của chuyên gia đã và đang nghiên cứu về vấn đề
liên quan đến nƣớc sạch và vệ sinh của Trung tâm Nƣớc sạch và VSNT
Quốc gia.
7.5 Phƣơng pháp xử lý số liệu: phƣơng pháp này nhằm xử lý các dữ
liệu thu thập đƣợc bằng chƣơng trình SPSS.
8.
Cấu trúc của luận văn
mới đã đƣợc hai ông chú ý tới. Từ sự phát hiện này của W.I.Thomas và
F.Znaiecki đã dẫn tới sự bùng nổ các cuộc nghiên cứu về thái độ xã hội. Và
các công trình nghiên cứu đã tập trung tìm hiểu định nghĩa, cấu trúc, chức
năng và mối quan hệ giữa thái độ - hành vi.
- Thời kỳ thứ 2 (từ Đại chiến Thế giới lần 2 - cuối những năm 50
của thế kỷ XX): biểu hiện cơ bản của thời kỳ này là sự hoài nghi vai trò của
thái độ trong việc chi phối hành vi. Chính kết luận của La Piere: những gì
chúng ta nói và chúng ta làm đôi khi rất khác nhau (nghĩa là khoảng cách
giữa thái độ và hành vi là rất lớn - sau này kết luận này đƣợc mang tên
“nghịch lý La Piere”) đã đặt nền móng cho sự hoài nghi trên. Kết luận này
tuy không phủ nhận toàn bộ các cố gắng nghiên cứu về thái độ thông qua
sự biểu hiện bằng lời của các công trình đi trƣớc, nhƣng vì nhiều nguyên
9
nhân khác nhau nhƣ: chiến tranh, hoặc có sự bế tắc trong việc lý giải các
nghịch lý nảy sinh mà số lƣợng các công trình nghiên cứu về thái độ ở giai
đoạn này có sự giảm sút đáng kể.
- Thời kỳ thứ 3 (từ cuối những năm 50 đến nay): có thể nói đây là thời
kỳ phục hồi của các nghiên cứu thái độ. Và vấn đề thái độ đã có một vị trí
xứng đáng trong các công trình nghiên cứu của Tâm lý học xã hội. Các tác
giả nhƣ M. Rokeach (1968), M.P. Zanna và J.R. Rempell (1988), W.J. Mc
Guire (1969, 1985) ... đã tiếp tục đƣa ra những quan niệm mới về định
nghĩa, cấu trúc và chức năng của thái độ. Thời kỳ này cũng đã chứng kiến
sự xuất hiện của những “tiểu lý thuyết” nhƣ: lý thuyết giải thích mối quan
hệ giữa thái độ - hành vi, “thuyết bất đồng nhận thức”; “thuyết tự thể hiện”,
“thuyết tự tri giác”, lý thuyết về các phƣơng pháp nghiên cứu sự hình thành,
thay đổi thái độ, các thang đo thái độ: “phương pháp điện cơ mặt”, đo quan
điểm giáo điều, kỹ thuật “đường ống giả vờ - bogus pipeline” [13,tr.12].
Trong các nghiên cứu nhằm lý giải tại sao hành vi lại ảnh hƣởng tới
đƣợc làm rõ, hay đôi khi nói đến cơ sở khách quan của thái độ, ngƣời ta cố
tìm ra các thuộc tính di truyền sinh lý của cá nhân [12, tr.490].
Các nhà tâm lý học thuộc trƣờng phái tâm lý học Mác xít đã có nhiều
công trình nghiên cứu về thái độ thể hiện qua một số học thuyết nhƣ: thuyết
định vị của V.A.Iadov, thuyết thái độ nhân cách của V.N. Miasixev…
Thuyết định vị của V.A.Iadov: V.A.Iadov cho rằng con ngƣời có hệ
thống các tổ chức định vị phức tạp, đƣợc tổ chức bốn bậc theo các mức độ
khác nhau, định vị bậc cao có thể chi phối định vị bậc thấp [8, tr.322]. Bậc
1: các tâm thế bậc thấp hình thành trên cơ sở các nhu cầu, các tình huống đơn
giản; bậc 2: các định vị phức tạp hơn hình thành trên cơ sở các tình huống giao
tiếp trong nhóm nhỏ; bậc 3: các định hƣớng chung của các sở thích đƣợc hình
thành trong những lĩnh vực hoạt động xã hội cụ thể; bậc 4: hệ thống định hƣớng
giá trị, điều chỉnh hành vi và hoạt động của nhân cách trong những tình huống
nhất định.
11
Nhƣ vậy, theo lý thuyết này, tâm thế là một dạng định vị, điều chỉnh
hành vi, phản ứng của cá nhân trong những tình huống đơn giản và nó giúp
cho việc điều chỉnh hành vi của cá nhân trong nhóm nhỏ, trong nghề
nghiệp, trong hệ thống xã hội. Điều này cho phép lý giải hợp lý hành vi xã
hội của cá nhân cũng nhƣ mâu thuẫn giữa hành vi và thái độ. Tuy có những
thành công nhất định nhƣng thuyết này chƣa làm rõ nội hàm khái niệm
“định vị” và cơ chế điều chỉnh hành vi bằng những định vị trong tình huống
xã hội. Tuy nhiên, thuyết “định vị” đã cho chúng ta cách nhìn nhận thái độ
ở một góc độ mới, cho phép thiết lập sợi dây liên hệ giữa các cách tiếp cận
vấn đề hành vi của nhân cách từ góc độ tâm lý học đại cƣơng, xã hội học và
tâm lý học xã hội.
Thuyết thái độ nhân cách của V.N. Miaxisev: Dựa trên tƣ tƣởng “khía
đó và đƣợc E. Erikson gọi là các “cung thái độ có ý nghĩa”. Không gian
chủ quan không phải lúc nào cũng trùng hợp với không gian các quan hệ xã
hội mà các cá nhân tham gia một cách khách quan. Ta thƣờng gặp sự “pha
trộn” thái độ chủ quan của cá nhân với các quan hệ xã hội mà cá nhân tham
gia một cách khách quan. Lomov cũng cho rằng, tuy thái độ là một thuộc
tính tƣơng đối ổn định, bền vững, phản ánh lập trƣờng của cá nhân với hiện
thực khách quan, nhƣng thái độ chủ quan cũng có thay đổi, kéo theo sự
thay đổi rất cơ bản trong biểu hiện của nhân cách. Theo ông, sự thay đổi vị
trí khách quan của mỗi cá nhân trong xã hội đòi hỏi phải có sự đổi mới thái
độ chủ quan của nó. Phƣơng thức hình thành thái độ chủ quan của cá nhân
đƣợc Lomov nêu ra là thông qua hoạt động và giao tiếp. Cá nhân phải đổi
mới cả hình thức, phƣơng pháp và mức độ tích cực của hoạt động và giao
tiếp để khắc phục những mâu thuẫn giữa vị thế xã hội khách quan của cá
nhân và thái độ chủ quan của nó.
Nhƣ vậy, trên cơ sở những đề xuất, quan điểm nghiên cứu nhân cách,
trong đó có thái độ chủ quan của cá nhân, Lomov đã vạch ra cơ sở khoa
học, phƣơng pháp luận cho việc nghiên cứu thái độ.
Ở CHDC Đức (cũ): Vấn đề thái độ cũng đƣợc nghiên cứu khá kỹ trong
Tâm lý học xã hội, tiêu biểu là các nhà tâm lý học xã hội nhƣ: H. Hipsơ, M.
13
Phovec, V. Nayzơ, V. Dorxt, M. Phovec. Chẳng hạn, M. Phovec cho rằng
thái độ đƣợc hình thành thông qua bốn cơ chế tâm lý xã hội khác nhau là:
bắt chƣớc, đồng nhất hoá, giảng dạy và chỉ dẫn, trong đó: “bắt chước” là
quá trình hình thành thái độ một cách tự phát, các cơ chế còn lại thể hiện
quá trình hình thành thái độ một cách có ý thức và tích cực ở chủ thể
[9,tr.46].
Tóm lại, với cách tiếp cận hoạt động - nhân cách, gắn thái độ với
nhu cầu và điều kiện hoạt động, coi thái độ là hệ thống có thứ bậc, nhìn
Thƣơng (2005),
“Thái độ đối với nghề nghiệp của nhà tham vấn tâm lý trẻ” - Luận văn
Thạc sỹ của tác giả Đỗ Ánh Tuyết (2008),
“Nghiên cứu về thái độ đối với việc rèn luyện NVSP của sinh viên
CĐSP Thanh Hoá” của tác giả Nguyễn Thị Hoa,
“Thái độ đối với môn Tâm lí học lãnh đạo quản lí của học viên phân
viện Tp HCM- Học viện Chính trị quốc gia HCM” của Nguyễn Thanh
Giang (luận văn thạc sỹ tâm lý học),
“Thái độ học tập của sinh viên trƣờng ĐHSPKT Hƣng Yên” của Lê
Ngọc Phƣơng (luận văn thạc sỹ tâm lý học),
“Thái độ của Sinh viên Trường ĐHSPKT Nam Định đối với hoạt động
rèn luyện nghiệp vụ sư phạm” của tác giả Nguyễn Thị Nhung (2009).
Qua một số công trình nghiên cứu kể trên, ta có thể thấy nghiên cứu
về thái độ đã đƣợc các tác giả quan tâm ứng dụng ở các lĩnh vực khác nhau
của cuộc sống. Sự phong phú trong cách tiếp cận về thái độ cho thấy vai trò,
tầm quan trọng của thái độ cũng nhƣ ứng dụng của nó trong thực tiễn cuộc
sống. Các trƣờng phái, quan điểm khác nhau về thái độ cho thấy sự đa dạng
trong cách tiếp cận, sự khó khăn trong việc nghiên cứu, nắm bắt thái độ
một cách chính xác. Tác giả William Mc Guire trong cuốn “ Sổ tay Tâm lý
học xã hội” đã khẳng định “Thái độ và sự thay đổi thái độ vẫn là một trong
những đề tài đƣợc nghiên cứu nhiều nhất trong tâm lý học xã hội. Sự cố
gắng của các nhà tâm lý học trong các nghiên cứu về thái độ nhằm hiểu rõ,
15
dự đoán, kiểm soát và thay đổi hành vi con ngƣời đã mang lại rất nhiều kết
quả. Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng, thái độ là một khái niệm tâm lý học
khó xác định một cách chính xác. Chính vì vậy, mặc dù đƣợc nghiên cứu
nhiều nhƣng còn gây nhiều tranh cãi”. Cũng qua các công trình nghiên cứu
kể trên, ta thấy đƣợc vấn đề sử dụng nƣớc sạch và thái độ của ngƣời dân
những cử chỉ, phong thái, ý nghĩ liên quan đến những hoàn cảnh xã hội. [15,
tr.67].
- H.Fillmore định nghĩa: “thái độ là sự sẵn sàng phản ứng tích cực
hoặc tiêu cực đối với đối tượng hay các ký hiệu (biểu tượng) trong môi
trường..., là sự định hướng của cá nhân đến các khía cạnh khác nhau của
môi trường và là cấu trúc có tính cơ động”.R. Martens thì khẳng định thái
độ là xu hƣớng thƣờng xuyên đối với các tình huống xã hội, nó biểu thị sự
thống nhất của ý nghĩ, tình cảm và hành động. Thái độ của con ngƣời có
mối quan hệ chặt chẽ với hành vi, đƣợc xác định bằng tình huống thống
nhất bên trong [4, tr. 280]. Theo quan niệm này, thái độ và hành vi đã đƣợc
khẳng định là có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
- T. Newcom - cho rằng: thái độ là thiên hƣớng hành động, nhận thức,
tƣ duy của cá nhân với khách thể có liên quan [8,tr.87 ]. Theo ông, thái độ
của chủ thể đối với khách thể sẽ hiển nhiên quy định tính sẵn sàng phản
ứng của chủ thể theo một cách thức nhất định. Điều này không phải luôn
luôn đúng trong mọi trƣờng hợp vì thái độ là một hiện tƣợng tâm lý ở cấp
độ ý thức. Vì vậy, thái độ bên trong không phải lúc nào cũng đƣợc thể hiện
ra bên ngoài một cách thẳng thắn và trọn vẹn. Trong nhiều trƣờng hợp, thái
độ bên trong có thể đƣợc giấu kín, kiềm chế, thậm chí nó thể hiện ra bên
ngoài bằng những hành vi đối lập. Và rõ ràng là, biểu hiện của cá nhân bị
chi phối rất nhiều bởi môi trƣờng xã hội và hoàn cảnh thực tế cá nhân sinh
sống. Quan điểm của Newcom đã cho thấy sự phức tạp trong nội dung và
biểu hiện của thái độ cũng nhƣ sự khó khăn, phức tạp khi nghiên cứu về
vấn đề này.
- H.C.Triandis (1971) quan niệm: “Thái độ là những tư tưởng được
hình thành từ những xúc cảm, gây tác động đến hành vi nhất định ở một
17
giai cấp nhất định trong những tình huống xã hội, thái độ của con người
B.Ph.Lomov cho rằng: “thái độ là những thuộc tính liên kết của nhân
cách, chúng để lại dấu ấn nhất định trên toàn bộ quá trình tâm lý, hiện
tượng tâm lý này đặc biệt được biểu hiện dưới sắc thái tình cảm và trong
các khâu của quá trình gắn liền với sự lựa chọn và quyết định” [12, tr.225].
D.N. Uzơnate thì quan niệm: Thái độ là một trạng thái trọn vẹn của chủ
thể, đó là sự phản ứng cơ bản đầu tiên đối với tác động của tình huống
trong đó chủ thể đặt ra và giải quyết các nhiệm vụ. [11,tr.45].
Nhƣ vậy, do xuất phát từ nhiều góc độ khác nhau, nhƣng với quan
điểm tiếp cận thái độ dƣới góc độ hoạt động - giao tiếp - nhân cách, các nhà
Tâm lý học Xô viết đã đặt nền móng cho việc nghiên cứu về vấn đề này.
Điều đó có ý nghĩa rất lớn trong việc nghiên cứu vấn đề thái độ trong Tâm
lý học nói chung, Tâm lý học xã hội và Tâm lý học nhân cách nói riêng.
* Quan điểm về “thái độ” của các nhà tâm lý học Việt Nam
Trong từ điển tiếng Việt, thái độ đƣợc định nghĩa là: “Cách nhìn nhận,
hành động của cá nhân về một hƣớng nào đó trƣớc một vấn đề, một tình
huống cần giải quyết. Đó là tổng thể những biểu hiện ra bên ngoài của ý
nghĩ, tình cảm của cá nhân đối với con ngƣời hay một sự việc nào đó”.
Tác giả Nguyễn Khắc Viện, trong cuốn Từ điển Tâm lý học đã đƣa ra
cách hiểu về thái độ nhƣ sau: “Trƣớc một số đối tƣợng nhất định, nhƣ hàng
hóa nào đó, hoặc một ý tƣởng nào đó (chính trị, tôn giáo, triết lý…), nhiều
ngƣời thƣờng có những phản ứng tức thì, tiếp nhận dễ dàng hay khó khăn,
đồng tình hay chống đối, nhƣ đã có sẵn những cơ cấu tâm lý tạo ra sự định
hƣớng cho việc ứng phó. Từ những thái độ sẵn có, tri giác về các đối tƣợng
cũng nhƣ tri thức bị chi phối; về vận động thì thái độ gắn với tƣ thế.
Thái độ liên quan với động cơ và các dục vọng bản năng, nhƣng khác
với dục vọng, là khi đã tỏ thái độ rồi vị tất nó đã dịu đi, nhƣ khi thỏa mãn
dục vọng… Thái độ thay đổi trong quá trình hoạt động và tùy hoàn cảnh.
Thái độ là một khái niệm tâm lý học khá xác định một cách chính xác,
cho nên mặc dù thái độ đƣợc nghiên cứu nhiều, nhất là về mặt xã hội,
20
Thái độ là thuộc tính tâm lý, là quan điểm, là cách cƣ xử, là thiên
hƣớng của cá nhân đối với hiện thực, là tâm thế xã hội, là động cơ thúc đẩy
hành động.
Thái độ của cá nhân là sự phản ánh các mối quan hệ của con ngƣời
đối với hiện thực. Khi nói đến thái độ của con ngƣời là nói đến hệ thống
các mối quan hệ của cá nhân đó đối với hiện thực. Thái độ chủ yếu do tình
cảm, nhận thức, xu hƣớng, ý chí, niềm tin và hành vi tạo nên.
Thái độ bao gồm sự đánh giá dƣơng tính hoặc âm tính về con ngƣời,
sự vật và hiện tƣợng. Con ngƣời không phải chỉ là những nhà quan sát thế
giới một cách trung tính mà họ còn luôn đánh giá cái gì họ thấy. Thái độ có
tính bền vững theo nghĩa luôn luôn tồn tại theo thời gian dài. Có thể có
trƣờng hợp, một sự tức giận nhất thời về một điều gì đó thì không phải là
thái độ, nhƣng ấn tƣợng âm tính, lâu dài về một ngƣời nào đó thì lại là thái
độ. Thái độ mang tính chất đánh giá ở chỗ nó bao gồm phản ứng dƣơng
tính hoặc âm tính về một điều gì đó.
Trên cơ sở các nhận xét trên, chúng tôi cho rằng: Thái độ là một thuộc
tính của nhân cách, phản ánh mối quan hệ của cá nhân với những tác
động của môi trường xung quanh, tạo ra sự định hướng cho hành động,
suy nghĩ, tình cảm của cá nhân. Thái độ được biểu hiện thông qua nhận
thức, xúc cảm và hành vi của con người.
Từ định nghĩa này, có thể rút ra một số nội dung chủ yếu nhƣ sau:
Thái độ phản ánh mối quan hệ giữa cá nhân với những tác động từ
môi trƣờng khách quan bên ngoài (môi trƣờng tự nhiên, môi trƣờng xã hội).
Thái độ qui định sự sẵn sàng hành động của chủ thể với đối tƣợng
theo một hƣớng nhất định. Khi con ngƣời có thái độ nào đó đối với đối
tƣợng, họ sẽ chủ động, sẵn sàng hành động với đối tƣợng một cách nhanh
Mặt nhận thức: Nhận thức là một trong ba mặt cơ bản nhất của đời
sống tâm lý con ngƣời: nhận thức, xúc cảm tình cảm và hành vi. Nhận thức
là quá trình phản ánh những thuộc tính của sự vật, hiện tƣợng vào đầu óc
con ngƣời thông qua lăng kính chủ quan của chủ thể nhận thức. Nhận thức
của con ngƣời từ mức thấp đến cao; từ đơn giản, cảm tính đến nhận thức
22
đúng bản chất của đối tƣợng. Trong cấu trúc của thái độ, nhận thức là sự
hiểu biết của cá nhân về đối tƣợng của thái độ (cho dù hiểu biết đó là đúng
hay sai). Khi một sự vật, hiện tƣợng tác động đến cá nhân, để có thái độ
nhất định đối với sự vật hiện tƣợng thì trƣớc hết cá nhân phải có hiểu biết
về sự vật hiện tƣợng đó. Chính vì vậy, nhận thức là “điều kiện cần”, là cơ
sở cho việc hình thành thái độ.
Mặt xúc cảm tình cảm: Xúc cảm - tình cảm là sự rung cảm của chủ thể
đối với những sự vật, hiện tƣợng có liên quan đế sự thỏa mãn hay không thỏa
mãn nhu cầu và động cơ của họ [20,tr.16]. Trong cấu trúc thái độ, tình cảm
thể hiện ở các cảm xúc của cá nhân đối với đối tƣợng của thái độ. Tình cảm
đƣợc hình thành trong quá trình tiếp cận với đối tƣợng, dƣới ảnh hƣởng của
môi trƣờng xã hội. Biểu hiện của tình cảm có thể là thích hay không thích,
quan tâm hay không quan tâm. Trên cơ sở nhận thức đúng đắn về giá trị
của đối tƣợng, con ngƣời sẽ có những tình cảm, sự đánh giá tƣơng ứng với
nhận thức về đối tƣợng đó. Đối với hành vi, tình cảm tích cực có thể kích
thích chủ thể hành động tích cực, từ đó hình thành nên thái độ tích cực và
ngƣợc lại tình cảm tiêu cực có thể kìm hãm tính tích cực hoạt động của chủ
thể.
Mặt hành động: hành động là sự thể hiện ứng xử của chủ thể đối với
đối tƣợng, trên cơ sở nhận thức và tình cảm. Trong cấu trúc của thái độ thì
hành động là sự thể hiện của thái độ ra bên ngoài, hành động là một thành
phần cấu thành lên thái độ. Nói cách khác, thái độ muốn biểu hiện ra bên
huống khác nhau theo một cách thức nhất định, tiết kiệm thời gian và sức
lực phần lớn là nhờ vào các kinh nghiệm, các khuôn mẫu mà chúng ta có.
Sở dĩ thái độ có chức năng này vì thái độ là một thuộc tính của nhân cách
nên nó tƣơng đối ổn định. Khi khuôn mẫu thái độ đã đƣợc hình thành, nó sẽ
giúp chúng ta nhanh chóng tìm ra cách ứng xử phù hợp với đối tƣợng cụ
thể. Nhƣ vậy, thái độ đã làm cho kinh nghiệm trở nên có ý nghĩa.
- Chức năng biểu hiện: Thái độ là phƣơng tiện giúp con ngƣời thoát
khỏi các căng thẳng nội tâm, biểu lộ cảm xúc và thể hiện giá trị nhân cách
của bản thân. Hệ thống thái độ của mỗi ngƣời hợp lại tạo thành bộ mặt tâm
24
lí, thành nhân cách riêng của mình. Vì vậy, thông qua thái độ của cá nhân
đối với tự nhiên, với xã hội và với bản thân ta cũng có thể biết đƣợc giá trị
nhân cách của cá nhân đó.
- Chức năng bảo vệ cái tôi (tự vệ): trong những tình huống xung đột
nội tâm (giữa các suy nghĩ, niềm tin, giữa thái độ và hành vi…), chúng ta
thƣờng tìm cách tự bào chữa, thậm chí tìm một ngƣời khác chịu trách
nhiệm thay mình hoặc hợp lý hóa hành vi của mình. Quá trình này dẫn đến
sự thay đổi thái độ tƣơng ứng, giúp con ngƣời giảm bớt căng thẳng và tạo
sự cân bằng nội tâm.
- Chức năng điều chỉnh: “thái độ đảm bảo sự tham gia của cá nhân vào
cuộc sống của xã hội, quy định phương pháp hoạt động và mối quan hệ của cá
nhân với người khác và do đó, quyết định tính chất và mức độ tham gia của họ
vào sự phát triển quan hệ xã hội” [12, tr.383].
Khi thái độ của cá nhân đối với đối tƣợng đã đƣợc hình thành, nó sẽ quy
định hành vi của cá nhân với đối tƣợng đó theo một hƣớng nhất định [10, tr.55].
1.2.1.4. Các loại thái độ
Khi nghiên cứu thái độ các nhà tâm lý học đã đứng ở các góc độ khác
nhau để phân loại thái độ. Ta có thể kể đến một số cách phân loại sau: