Nghiên cứu tiềm năng, đề xuất nguyên tắc và giải pháp thực hiện đồng quản lý rừng tại khu bảo tồn thiên nhiên ngọc sơn, ngỗ luông, tỉnh hòa bình - Pdf 43

1

MỞ ĐẦU
Sự cần thiết của đề tài
Việt nam được đánh giá là một trong 16 nước có tính đa dạng sinh học cao
trên toàn cầu với nhiều loài động, thực vật hoang dã quí hiếm. Trải qua 50 năm hình
thành và phát triển, đến nay nước ta đã có 164 khu rừng đặc dụng (bao gồm 30
Vườn Quốc gia, 69 khu dự trữ thiên nhiên, 45 khu bảo vệ cảnh quan, 20 khu nghiên
cứu thực nghiệm khoa học) và 03 khu bảo tồn biển chứa đựng các hệ sinh thái, cảnh
quan đặc trưng, tiêu biểu cho hệ sinh thái trên cạn và ngập nước. Đây là những tài
sản thiên nhiên vô cùng quí giá ban tặng, phục vụ nhu cầu của con người.
Diện tích rừng và mức độ đa dạng sinh học ở nước ta trong những năm qua
vẫn đang trên đà suy giảm về cả số lượng và chất lượng, các chức năng quan trọng
của rừng ít được phát huy, môi trường ảnh hưởng, hạn hán, lũ lụt xảy ra thường
xuyên, gây thiệt hại cho hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp cũng như đời sống
của người dân. Một trong số những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do công
tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng chưa được quan tâm đúng mức. Các khu rừng
đặc dụng, nơi lưu trữ nguồn tài nguyên rừng phong phú, đa dạng về sinh học, đang
đối mặt với các nguy cơ về việc xâm hại tài nguyên rừng. Sự cần thiết phải tìm
kiếm một cơ chế quản lý, hưởng lợi hợp lý giữa các bên liên quan để bảo vệ tài
nguyên rừng bền vững. Trong bối cảnh quản lý của nước ta hiện nay, sẽ là các cản
trở lớn cho việc bảo tồn và bảo vệ nguồn tài nguyên rừng. Bởi chúng ta chưa có một
cơ chế quản lý phù hợp, gắn kết sức mạnh của người dân, cộng đồng và các bên liên
quan trong bảo vệ và gìn giữ nguồn tài nguyên rừng một cách bền vững.
Để khắc phục tình trạng trên, Chính phủ, các ngành, các cấp, các Ban quản lý
khu bảo tồn thiên nhiên của nước ta đã và đang thay đổi cách tiếp cận trong quản lý
tài nguyên rừng, trao đổi kinh nghiệm, phù hợp với những thông lệ, tiêu chí quản lý
bảo tồn thiên nhiên quốc tế. Vấn đề quản lý rừng bền vững đang được rất nhiều
người quan tâm, việc quản lý rừng có sự tham gia của cộng đồng đang là một hướng
đi có hiệu quả. Nhận thức rõ được điều này gần đây Thủ tướng Chính phủ ban hành


giải pháp đồng quản lý rừng, nhằm góp phần vào thực hiện công tác quản lý bền


3

vững tài nguyên rừng tại khu BTTN Ngọc Sơn - Ngổ Luông nói riêng và các khu
BTTN khác như khu vực Ngọc Sơn - Ngổ Luông nói chung.
Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần làm cơ sở cho việc nhìn nhận,
điều chỉnh các cơ chế, chính sách một cách hợp lý đối với việc quản lý tài nguyên
thiên nhiên tại khu vực nghiên cứu, các vùng lân cận và trong cả nước có điều kiện
tương tự như khu BTTN Ngọc Sơn - Ngổ Luông.
Chương 1.
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Nhận thức chung về đồng quản lý.
Hiện nay trên phạm vi toàn cầu, đang ở trong giai đoạn phát triển kinh tế gắn
việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên, điều đó cũng dẫn đến một hệ lụy là sự cạn kiệt
nguồn tài nguyên thiên nhiên nói chung và tài nguyên rừng nói riêng. Vấn đề đặt ra
cho mỗi quốc gia là nghiên cứu tìm ra giải pháp quản lý sử dụng tài nguyên thiên
nhiên một cách bền vững. Trong những năm gần đây, đã có nhiều tác giả đã đưa ra
hàng loạt các giải pháp về quản lý, trong đó có sự hợp tác giữa các bên tham gia.
Đây là vấn đề rất quan trọng đối với sự thành công của công tác quản lý nguồn tài
nguyên rừng, quan tâm nhất là việc giải quyết ổn thỏa lợi ích của người dân nơi có
rừng hài hoà với mục tiêu chung của quốc gia. Vấn đề này còn khá mới mẻ đối với
Việt Nam, đặc biệt là ở các khu rừng đặc dụng.
Thuật ngữ "đồng quản lý" được sử dụng để mô tả sự bố trí, sắp xếp chính
thức hoặc không chính thức giữa chính phủ, thành phần tư nhân hoặc tầng lớp dân
cư liên quan đến việc quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên. Sự thịnh hành của hình
thức quản lý này đang tăng lên đáng kể trong 20 năm qua, có thể tìm thấy rất nhiều,
ví dụ ở các nước đang phát triển nơi mà tình trạng đói nghèo và sự suy thoái nguồn

là bảo tồn thiên nhiên để trở thành “đồng minh tự nguyện”.
Đồng quản lý là một quá trình hợp tác giữa các cộng động địa phương với
các tổ chức nhà nước trong việc sử dụng và quản lý tài nguyên thiên nhiên hoặc các
tài sản khác. Các bên liên quan, nhà nước hay tư nhân, cùng nhau thông qua một


5

hiệp thương xác định sự đóng góp của mỗi đối tác và kết quả là cùng nhau ký một
hiệp ước phù hợp mà các đối tác đều chấp nhận được (Wild và Mutebi, 1996) [74].
Trên cơ sở các khái niệm và định nghĩa đã nêu trên, căn cứ vào điều kiện cụ
thể ở Việt Nam cho một khu bảo tồn thiên nhiên có thể đi đến khái niệm chung
mang tính chất tương đối về đồng quản lý tài nguyên rừng trong luận văn này như
sau: “Đồng quản lý là việc tổ chức sắp xếp lại quyền và trách nhiệm giữa các bên
tham gia trong quản lý tài nguyên rừng. Hoạt động sắp xếp này liên quan đến việc
chuyển từ hình thức đưa ra quyết định từ trên xuống dưới và thiếu sự phối kết hợp
giữa người bản địa với việc quản lý nguồn tài nguyên của Nhà nước, sang hình thức
đưa ra quyết định có sự chia sẻ, hợp tác và thoả thuận của các bên liên quan trong
quản lý, bảo tồn nguồn tài nguyên rừng”.
1.2. Nghiên cứu đồng quản lý trên thế giới.
Quốc gia đầu tiên trên thế giới đặt nền móng cho phương pháp tham gia quản
lý tài nguyên rừng và khái niệm tham gia quản lý rừng là Ấn Độ vào năm 2004.
Đồng quản lý (hay hợp tác quản lý) bảo vệ rừng được tiến hành trong thời gian này
và nhanh chóng lan rộng tới các quốc gia thuộc các nước châu Phi, châu Mỹ La
Tinh và châu Á.
Nghiên cứu của Eva Wollenberg, Bruce Campbell, Sheeona Shackletton,
Davi Edmunds và Patricia Shanley (2004) tại Orissa và Uttarkhand ở Ấn Độ, Bộ
lâm nghiệp cho phép người dân được trực tiếp tiếp cận với sản phẩm rừng, đất rừng,
lợi ích từ tài nguyên rừng hoặc tạo cơ hội để họ được tiếp cận với cách quản lý rừng
của nhà nước. Ngược lại thì Nhà nước cho phép người dân hợp tác với họ để quản

Ở Thái Lan theo kết quả đánh giá của các nhà khoa học khi đồng quản lý tài
nguyên rừng trên thế giới lan đến Châu Á thì Thái Lan là một nước được đánh giá
đạt nhiều thành tựu trong công tác xây dựng các chương trình đồng quản lý bảo vệ
rừng. Các cộng đồng dân cư có đời sống phụ thuộc vào tài nguyên rừng thường có
nhiều kinh nghiệm khi đóng vai trò là người bảo vệ hoặc người tham gia quản lý
khu bảo tồn.
Trong báo cáo “Liên minh cộng đồng” đồng quản lý rừng ở Thái Lan đã có
nghiên cứu điểm tại vườn quốc gia Dông Yai nằm ở Đông Bắc và khu rừng phòng
hộ Nam Sa ở phía Bắc Thái Lan. Đó là những vùng quan trọng đối với công tác bảo
tồn đa dạng sinh học, đồng thời cũng là những vùng có đặc điểm độc đáo về kinh tế


7

- xã hội, về thể chế truyền thống của cộng đồng người dân địa phương trong quản lý
và sử dụng tài nguyên (Poffenberger, M. và McGean, B. 1993) [98].
Tại Dong Yai, người dân đã chứng minh được khả năng của họ trong việc tổ
chức các hoạt động bảo tồn, đồng thời phối hợp với Cục Lâm nghiệp Hoàng gia xây
dựng hệ thống quản lý rừng đảm bảo ổn định về môi trường sinh thái cũng như
phục vụ lợi ích của người dân trong khu vực. Tại Nam Sa, cộng đồng dân cư cũng
rất thành công trong công tác quản lý rừng phòng hộ. Họ khẳng định rằng chính phủ
khuyến khích và chuyển giao quyền lực thì họ chắc chắn sẽ thành công trong việc
kiểm soát các hoạt động khai thác quá mức nguồn tài nguyên rừng, các hoạt động
phá rừng và tác động tới môi trường. Đồng quản lý ở Thái Lan có thể trở thành bài
học kinh nghiệm quý báu cho Việt Nam bởi vì Thái Lan cũng là một nước trong
vùng Đông Nam Á, đặc biệt Việt Nam là quốc gia có một số đặc điểm tương đồng
về điều kiện tự nhiên và văn hoá xã hội [98].
Ở Nam Phi, tại Vườn quốc gia Kruger trước đây người dân đã chuyển đi từ
Makuleke, khi chính phủ mới thành lập đã cho phép người dân trở lại vùng đất
truyền thống để sinh sống. Để đạt được quyền sử dụng đất đai cũ, người dân phải

giữa sự tốt đẹp nhất của hai thế giới” nhà nước văn minh và thổ dân.
Ở Uganda khi tiến hành nghiên cứu về lĩnh vực đồng quản lý tại vườn quốc
gia Bwindi Impenetrable và MgaHinga Gorilla thuộc Uganda hai nhà nghiên cứu
Winld và Mutebi, 1996 [98]. Cho thấy hợp tác quản lý được thực hiện giữa ban
quản lý vườn quốc gia và cộng đồng dân cư. Hai bên thoả thuận ký kết quy ước cho
phép người dân khai thác bền vững một số lâm sản, đồng thời có nghĩa vụ tham gia
quản lý bảo vệ tài nguyên thiên nhiên trên địa bàn của cộng đồng. Đồng quản lý chỉ
có hai đối tác là Ban quản lý và cộng đồng dân cư địa phương.
Ở Canada kể từ khi ký hiệp định Northern Quebec và James Bay năm 1975,
việc sắp xếp công tác đồng quản lý ở Canada đã tăng lên nhanh chóng. Có rất nhiều
hình thức sắp xếp công tác đồng quản lý và nhiều ban chính thức liên quan đến
Tuần lộc, cá Vôi trắng, các sản phẩm lâm nghiệp và phi lâm nghiệp và các loại cá
được đặt tên nhưng rất ít. Việc sắp xếp quyền đồng quản lý đối với chủ đề này là
một chủ điểm giữa tỉnh Saskatchewan, công ty quản lý lâm nghiệp Mistik và các
cộng đồng người dân thuộc Hội đồng bộ lạc Meadow.


9

Ở Brazil, nông dân đã giúp quản lý 2,2 triệu ha rừng phòng hộ, khoảng một
nửa số huyện ở Zimbabuê tham gia vào chương trình CAMPFIRE. Ở đó người dân
có thể chia sẻ lợi nhuận từ du lịch trong các khu rừng bảo vệ động vật hoang dã, các
chương trình này giúp nhà nước bảo vệ được rừng, giúp người dân cải thiện được
quyền tiếp cận với tài nguyên rừng. Tuy nhiên, chưa giúp người nghèo cải thiện
đáng kể kế sinh nhai.
Năm 1975 nhà nước Nepal thực hiện quốc hữu hóa rừng, tập trung quản lý
bảo vệ rừng và đất rừng, kết quả là người dân ở đây đã ít quan tâm đến bảo vệ rừng
của nhà nước dẫn đến trong vòng 20 năm hàng triệu ha rừng bị tàn phá. Từ năm
1978, Chính phủ đã giao quyền quản lý bảo vệ rừng cho người dân để thực hiện
chính sách phát triển lâm nghiệp. Tuy nhiên, sau một thời gian người ta nhận thấy

lâm nghiệp. Dưới tỉnh Chi cục Kiểm lâm trực thuộc sở NN&PTNT, các hạt kiểm
lâm thuộc chi cục kiểm và một số nơi như tỉnh Hòa Bình có các Ban quản lý khu
bảo tồn thiên nhiên trực thuộc chi cục Kiểm lâm.
Thực tế cho thấy tài nguyên rừng ở nước ta trước đây do nhà nước quản lý và
quyết định mọi phương án quản lý và sử dụng. Với phương thức quản lý này diện
tích rừng trong thời gian qua suy giảm nhanh chóng cả về số lượng lẫn chất lượng,
các khu rừng đặc dụng mặc dù có cơ chế quản lý tốt hơn, nhưng cũng bị xâm phạm
nghiêm trọng làm cho tài nguyên rừng ngày càng suy thoái và cạn kiệt. Đã có một
số đề tài, dự án của các tổ chức nước ngoài và trong nước được thực hiện nhằm
quản lý bền vững cho các khu rừng đặc dụng.
Hội thảo quốc gia về lâm nghiệp tại Hà Nội năm 2001 đã làm rõ các yếu tố
khuôn khổ pháp lý của rừng cộng đồng, việc thực thi các chính sách hỗ trợ cho quản
lý rừng cộng đồng tại Việt Nam. Trong hội thảo có rất nhiều báo cáo và các vấn đề
thảo luận như “Báo cáo về khuôn khổ pháp lý, chính sách của Nhà nước và hiện
trạng quản lý rừng cộng đồng ở Việt Nam” của các tác giả Phạm Xuân Phương, Hà
Công Tuấn, Vũ Văn Mễ, Nguyễn Hồng Quân; Các báo cáo về sự vận dụng chính
sách lâm nghiệp nhà nước ở cấp tỉnh của các tác giả Sheelagh, Orelly, Vũ Hữu
Tuynh, Nguyễn Ngọc Lung, Lê Ngọc Anh, Nguyễn Hải Nam, Cao Vĩnh Hải,…
Cuối cùng hội thảo đi đến kết luận cộng đồng đang quản lý 15% diện tích rừng của
nhà nước, đó là thực tế mang tính khách quan và ngày càng có một vị trí quan trọng
trong hệ thống quản lý tài nguyên rừng ở Việt Nam. Tuy nhiên, vẫn còn một số


11

những vướng mắc trong khuôn khổ chính sách hưởng lợi từ rừng khi tham gia bảo
vệ và phát triển như không quy định cộng đồng dân cư thôn bản là đối tượng của
chính sách này.
Tại khu BTTN Pù Luông giáp ranh với khu BTTN Ngọc Sơn - Ngổ Luông,
trong nghiên cứu về phối hợp quản lý và bảo tồn Ulrich Apel, Oliver C. Maxwell và

nghiên cứu của các tác giả cho thấy tuy nhà nước chưa quy định quyền hưởng lợi
của cộng đồng với những diện tích rừng cộng đồng hiện đang quản lý, song trên
thực tế cộng đồng đang quản lý và có quyền hưởng lợi, phân chia lợi ích từ rừng.
Về hiệu quả đạt được từ quản lý bảo vệ rừng cộng đồng ở nước ta cho đến
nay chưa có đánh giá hiệu quả quản lý rừng cộng đồng ở quy mô toàn quốc. Tuy
nhiên, căn cứ vào 3 kết quả Hội thảo quốc gia về quản lý rừng cộng đồng ở Việt
Nam được tổ chức tại Hà Nội (tháng 6/2000, tháng 11/2001 và tháng 11/2004) có
thể đưa ra một số nhận định sau:
- Nhiều nơi rừng cộng đồng được bảo vệ và phát triển tốt hơn, những nơi
rừng do cộng đồng quản lý hầu như không bị chặt phá, do không có xâm hại nên
rừng ngày càng tăng trưởng.
Đối với diện tích rừng do cộng đồng nhận khoán bảo vệ, hàng năm được Nhà
nước hoặc chủ rừng trả tiền công khoán, đã góp phần giải quyết một phần khó khăn
về đời sống cho một bộ phận dân cư.
Đối với diện tích rừng và đất rừng chính quyền địa phương giao, cộng đồng
có thể tận dụng khi rừng chưa khép tán hoặc đất trống chưa trồng rừng để canh tác
kết hợp cây nông nghiệp, chăn thả dưới tán rừng, được các dự án đầu tư hỗ trợ vốn
để sản xuất, được hưởng lợi sản phẩm từ rừng.
Đối với diện tích rừng cộng đồng quản lý theo truyền thống cho đến nay hầu
như cộng đồng có toàn quyền quyết định việc sử dụng tài nguyên rừng, trong đó
đáp ứng nhu cầu lâm sản cho các công trình chung của cộng đồng, giải quyết nhu
cầu gỗ làm nhà cho các hộ gia đình.
- Tiết kiệm chi phí cho Nhà nước: Hiện nay có nhiều cộng đồng đang quản lý
rừng hầu như không có sự hỗ trợ của Nhà nước về kinh phí, nhưng rừng vẫn được
bảo vệ tốt.


13

- Rừng cộng đồng đã góp phần bảo vệ nguồn nước, giải quyết một phần nhu

Đồng quản lý tài nguyên rừng ở nước ta tuy chưa có những nghiên cứu hoàn
chỉnh, nhưng trong điều kiện thực tế cho thấy phương pháp này là một trong những
xu hướng phù hợp với điều kiện bảo tồn đa dạng sinh học trong các khu rừng đặc
dụng. Thấy được tầm quan trọng của công tác đồng quản lý tài nguyên rừng, Thủ
tướng Chính phủ ban hành quyết định 126/2012/QĐ-TTg thí điểm cách làm này.
1.4. Phân tích cơ sở khoa học và thực tiễn thực hiện đồng quản lý rừng
tại khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn – Ngổ Luông.
1.4.1. Cơ sở lý luận:
1.4.1.1. Tính đa dạng về chủ thể và hình thức quản lý tài nguyên rừng
Theo Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004, có 4 chủ thể chính tham gia
quản lý rừng là Nhà nước, các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân.
- Nhà nước thống nhất quản lý và định đoạt đối với rừng tự nhiên và rừng
được phát triển bằng vốn của Nhà nước. Quản lý nhà nước về lâm nghiệp (tài
nguyên rừng) là một hình thức khẳng định chủ quyền của nhà nước đối với tài
nguyên rừng. Nhà nước quản lý, sử dụng tài nguyên rừng phục vụ mục tiêu kinh tếxã hội, môi trường quốc gia. Quản lý nhà nước có thế mạnh về pháp luật, chính sách
và tài chính.
- Các tổ chức và doanh nghiệp quản lý tài nguyên thiên nhiên với nhiều hình
thức khác nhau và hướng đến nhiều mục tiêu khác nhau. Các hệ thống quản lý rừng
đặc dụng, rừng phòng hộ với mục tiêu chính là bảo tồn thiên nhiên, bảo vệ môi
trường. Các doanh nghiệp quản lý, sử dụng tài nguyên lại có mục tiêu chủ đạo là
kinh doanh. Được giao theo Nghị định 01 của Chính phủ trước đây, hoặc Nghị định
163 của Chỉnh phủ hiện nay. Các tổ chức có thế mạnh trong quản lý về khoa học,
công nghệ, vốn và thị trường. Tuy nhiên trong loại hình hình quản lý theo tổ chức
có nhiều cách quản lý các đối tượng rừng khác nhau, được quy định bằng các văn
bản pháp luật của nhà nước, dẫn đến các phương pháp, hình thức quản lý, chia sẻ
lợi ích, sự tham gia của các bên cũng khác nhau, trong đó loại hình rừng đặc dụng
có một cơ chế quản lý, chia sẻ lợi ích khá đặc thù, tính bảo tồn sự đa dạng được coi
là gốc rễ của loại hình tổ chức này.





16

sức mạnh tổng hợp đảm bảo cho sự thành công của công tác quản lý tài nguyên
rừng.
1.4.1.2. Đồng quản lý, kết hợp bảo tồn tài nguyên rừng và phát triển bền
vững.
- Bảo tồn và phát triển là hai mặt đối lập nhưng thống nhất. Tài nguyên
thiên nhiên nói chung và tài nguyên rừng nói riêng là nguồn nguyên liệu cần thiết
đối với phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Để phục vụ cho mục tiêu phát
triển, con người đã không ngừng khai thác các nguồn tài nguyên hữu hạn này. Bảo
tồn tài nguyên rừng sẽ mâu thuẫn với phát triển kinh tế. Tuy nhiên, nếu khai thác
một cách quá mức, thiếu kiểm soát, không theo kế hoạch làm cạn kiệt tài nguyên
rừng, hệ quả của nó là phá vỡ tính bền vững về kinh tế - xã hội và môi trường.
Chính vì vậy, cần phải bảo tồn, duy trì khả năng tái tạo các tài nguyên cho sự phát
triển ổn định lâu dài. Đồng quản lý tài nguyên rừng khu bảo tồn sẽ là phương thức
hiệu quả cho tiến trình kết hợp giữa bảo tồn và phát triển.
- Đồng quản lý giải quyết được mâu thuẫn giữa bảo tồn và phát triển. Nhà
nước có chiến lược, chính sách bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên và thường nảy
sinh mâu thuẫn với các cộng đồng địa phương đang sử dụng tài nguyên (đối tượng
bảo tồn) phục vụ các nhu cầu của đời sống. Giữa cộng đồng và quốc gia sẽ đạt được
đồng nhất trong các mục tiêu bảo tồn và phát triển nếu như tiến tới thỏa thuận về
một phương thức đồng quản lý. Sự hợp tác sẽ chiếm ưu thế khi có sự tham gia của
các bên liên quan, đồng thời các mâu thuẫn được giải quyết, các mục tiêu đặt ra
được thực hiện có hiệu quả.
1.4.2. Cơ sở khoa học và thực tiễn.
1.4.2.1. Đồng quản lý dựa trên cơ sở tiến bộ khoa học và kiến thức bản địa.
- Người dân sống trong khu bảo tồn có trình độ hiểu biết không cao, song họ
có rất nhiều kinh nghiệm thực tế về tài nguyên rừng. Đồng quản lý sẽ ứng dụng kết

các nguồn tài nguyên rừng mà họ đang quan tâm.
1.4.2.3. Đồng quản lý với việc bảo tồn bản sắc văn hoá cộng đồng và chiến
lược xoá đói giảm nghèo.
Cùng với sự phát triển của xã hội, sự hoà nhập quốc tế về văn hoá ngày
càng gia tăng. Điều này đã làm mai một không ít những bản sắc văn hoá độc đáo
của cộng đồng người địa phương. Nét văn hóa đặc sắc của người Mường, những


18

sinh hoạt văn hoá dân gian và cả những tri thức về quản lý và sử dụng tài nguyên
rừng ngày càng bị thiếu vắng. Bởi vậy, bảo tồn bản sắc văn hoá, kiến thức bản địa
cũng là một trong những chiến lược lâu dài của tỉnh và của đất nước. Đồng quản lý
tài nguyên rừng sẽ khuyến khích người dân sử dụng những kiến thức, sáng kiến và
thể chế cộng đồng cho công tác bảo tồn và phát triển. Chu trình sử dụng và bảo tồn
kiến thức bản địa được thể hiện như sau.

Kiến
thức
Phát
triển

Sử
dụng

Bảo tồn

Kiến thức
mới


về tổ chức và quản lý hệ thống rừng đặc dụng.
- Quyết định số 57/QĐ-TTg ngày 09 tháng 01 năm 2012 của Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020
- Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg ngày 14 tháng 8 năm 2006 của Thủ tướng
Chính phủ về việc ban hành quy chế quản lý rừng.
- Quyết định số 18/2007/QĐ-TTg phê duyệt chiến lược phát triển lâm nghiệp
Việt Nam giai đoạn 2006-2020.
- Quyết định số 126/QĐ-TTg ngày 02 tháng 02 năm 2012 của Thủ tướng
Chính phủ về việc thí điểm chia sẻ lợi ích trong quản lý bảo vệ và phát triển bền
vững rừng đặc dụng. Đây là một văn bản quan trọng mở ra cơ chế chia sẻ lợi ích
đồng quản lý tài nguyên rừng.
- Quyết định số 24/2012/QĐ-TTg ngày 01/6/2012 của Thủ tướng chính phủ,
về chính sách đầu tư phát triển rừng đặc dụng giai đoạn 2011 - 2020.
- Công ước Đa dạng sinh học mà Việt Nam đã tham gia năm 1994,
- Quyết định số 106/2006/QĐ-BNN ngày 27 tháng 11 năm 2006 của Bộ
trưởng bộ NN&PTNT về ban hành bản hướng dẫn quản lý rừng cộng đồng dân cư
thôn.
- Quyết định số 07/2012/QĐ-TTg ngày 08/02/2012 của Thủ tướng Chính
phủ về Ban hành một số chính sách trong công tác bảo vệ rừng.
- Thông tư số 70/2007/TT-BNN ngày 01 tháng 8 năm 2007 của Bộ Nông


20

nghiệp và Phát triển Nông thôn về việc hướng dẫn xây dựng và tổ chức thực hiện
quy ước bảo vệ và phát triển rừng trong cộng đồng dân cư thôn.
- Thông tư 78/2011/TT-BNNPTNT ngày 11 tháng 11 năm 2011 của Bộ
NN&PTNT quy định chi tiết thi hành Nghị định 117 của Chính phủ về tổ chức và
quản lý hệ thống rừng đặc dụng.
Tóm lại: Cơ sở khoa học và thực tiễn của đồng quản lý tài nguyên rừng cho

những yêu cầu, đòi hỏi cần được giải quyết của đề tài:
“Nghiên cứu tiềm năng, đề xuất nguyên tắc và giải pháp thực hiện Đồng
quản lý rừng tại khu BTTN Ngọc Sơn- Ngổ Luông tỉnh Hòa Bình”.
Sẽ góp phần cung cấp thêm những thông tin về đồng quản lý rừng. Trên cơ
sở đánh giá tiềm năng đồng quản lý rừng tại khu BTTN Ngọc Sơn - Ngổ Luông,
đưa ra các nguyên tắc và giải pháp quản lý rừng khả thi được áp dụng tại địa
phương nhằm quản lý tốt nguồn tài nguyên rừng khu bảo tồn.


22

Chương 2.
MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
2.1. Mục tiêu nghiên cứu.
2.1.1. Đánh giá tiềm năng đồng quản lý rừng trong khu bảo tồn.
2.1.2. Đánh giá được mức độ tác động, tham gia của các bên liên quan vào
rừng đặc dụng, những chính sách và giải pháp đã áp dụng.
2.1.3. Xây dựng các nguyên tắc Đồng quản lý rừng giữa các bên liên quan
đến bảo vệ rừng và bảo tồn.
2.2. Đối tượng nghiên cứu.
- Thực trạng tài nguyên thiên nhiên trong khu bảo tồn.
- Cơ chế chính sách của các cấp có liên quan đến công tác quản lý bảo vệ,
bảo tồn tài nguyên rừng đặc dụng.
- Những tác động của các bên liên quan đến quản lý rừng Khu bảo tồn thiên
nhiên Ngọc Sơn – Ngổ Luông.
- Kiến thức bản địa và thể chế của cộng đồng dân cư trong quản lý tài
nguyên thiên nhiên.
2.3. Giới hạn nghiên cứu.
Do điều kiện về thời gian, nhân lực và kinh phí của đề tài còn hạn chế nên

với các yêu cầu đặt ra.
- Phát triển bền vững đang là yêu cầu và đòi hỏi cấp thiết của thực tiễn. Quản
lý rừng bền vững là một trong những nội dung có vai trò vô cùng quan trọng. Để
tìm ra được các nguyên tắc và giải pháp đồng quản lý tại khu vực nghiên cứu thì
phương pháp tiếp cận của đề tài là tiếp cận tổng hợp. Ngoài việc phân tích những cơ
sở lý luận và thực tiễn thực hiện đồng quản lý tại khu vực, đề tài còn quan tâm đến
việc đánh giá các tiềm năng của đồng quản lý. Đặc biệt chú ý đến chế độ hưởng lợi
của các bên tham gia và cách giải quyết các mâu thuẫn còn đang tồn tại trong công
tác quản lý bảo vệ tài nguyên rừng đặc dụng.
- Đồng quản lý là việc quản lý rừng có sự tham gia của các cơ quan, tổ chức,
người dân, cộng đồng xã hội. Cho nên để giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa các
bên tham gia, do đó cần phải sử dụng cách tiếp cận đa phương.


24

- Đề tài kế thừa các tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu, đồng thời
tiến hành điều tra thu thập bổ sung các thông tin sơ cấp. Trên cơ sở đánh giá, phân
tích các kết quả này, đề tài đề xuất một số nguyên tắc và giải pháp đồng quản lý
rừng tại khu bảo tồn theo hướng phát triển tài nguyên rừng bền vững.
- Triển khai thực hiện các nội dung nghiên cứu, vai trò của tác giả là hỗ trợ
còn các đối tác là người thực hiện chính (đồng quản lý trên cơ sở tự nguyện của các
đối tác và chính họ xây dựng và thực hiện sau này).
2.5.2. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
Các bước thực hiện nghiên cứu được sơ đồ hoá như sau:
Thu thập các tài liệu có liên
quan

Khảo sát tổng thể khu vực
nghiên cứu

Các tài liệu kế thừa đảm bảo được tính cập nhật (mới nhất), chính thống (cơ
quan, tổ chức có chức năng ban hành) và đảm bảo độ chính xác phù hợp với yêu
cầu của chủ đề nghiên cứu.
2.5.2.2. Thu thập tài liệu, thông tin ngoại nghiệp.
* Phương pháp chọn địa điểm nghiên cứu: Chọn điểm nghiên cứu là đại diện
tương đối cho khu vực nghiên cứu. Dựa trên các tiêu chí chọn xã.
- Xã có địa bàn hành chính nằm trong khu bảo tồn, có diện tích và các trạng
thái rừng đặc trưng cho vùng nghiên cứu.
- Xã có địa bàn hành chính nằm ở vùng đệm khu bảo tồn, có diện tích và các
trạng thái rừng đặc trưng cho vùng nghiên cứu, tiếp giáp và liên quan ảnh hưởng
đến tài nguyên rừng theo địa giới hành chính của xã nằm chọn trong khu bảo tồn.
Đảm bảo tính liên kết thống nhất trong nhận xét, đánh giá.
- Có các hành vi vi phạm các quy định về bảo vệ và phát triển rừng, bảo tồn
thiên nhiên lớn, tài nguyên rừng thường xuyên bị xâm hại.
- Đời sống người dân còn gặp nhiều khó khăn, đa số người dân có đời sống
gắn bó với với tài nguyên rừng, thường xuyên gây áp lực lớn tới tài nguyên rừng
của khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn - Ngổ Luông.
- Có các dân tộc ít người đại diện cho các xã vùng đệm của khu bảo tồn thiên
nhiên Ngọc Sơn - Ngổ Luông.
- Có vị trí quan trọng trong kiểm soát các hoạt động khai thác lâm sản trong
khu vực khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn - Ngổ Luông và vùng đệm.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status