BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
ĐÀO THỊ THÙY DƯƠNG
ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG ĐỒNG QUẢN LÝ RỪNG
CỦA CÁC BÊN LIÊN QUAN LÀM CƠ SỞ ĐỀ XUẤT
NGUYÊN TẮC VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
ĐỒNG QUẢN LÝ TẠI VƯỜN QUỐC GIA
CÁT TIÊN - ĐỒNG NAI
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Hà Nội, 2011
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
ĐÀO THỊ THÙY DƯƠNG
ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG ĐỒNG QUẢN LÝ RỪNG
CỦA CÁC BÊN LIÊN QUAN LÀM CƠ SỞ ĐỀ XUẤT
NGUYÊN TẮC VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
ĐỒNG QUẢN LÝ TẠI VƯỜN QUỐC GIA
tác động và suy giảm.
Khác với rừng sản xuất và rừng phòng hộ, việc thành lập, xây dựng kế
hoạch và tổ chức quản lý rừng đặc dụng thường được tiếp cận một chiều từ
trên xuống, chưa quan tâm hoặc quan tâm chưa đúng mức đến vai trò và vị trí
của các bên liên quan, sự phối hợp giữa các bên liên quan trong công tác quản
lý bảo vệ rừng chưa nhịp nhàng, thiếu chặt chẽ dẫn đến có lúc, có nơi khó
khăn, lúng túng trong chỉ đạo, triển khai quản lý bảo vệ rừng đặc dụng, trong
khi đó tiềm năng quản lý bảo vệ rừng trong xã hội chưa được khai thác, chưa
khuyến khích thu hút được các lực lượng tham gia một cách tích cực trong
công tác quản lý bảo vệ rừng.
2
Vườn Quốc Gia Cát Tiên là khu bảo tồn thiên nhiên nằm trên địa bàn
ba huyện Tân Phú, Vĩnh Cửu ( Đồng Nai), Cát Tiên, Bảo Lộc ( Lâm Đồng) và
Bù Đăng ( Bình Phước), cách Thành Phố Hồ Chí Minh 150 km về phía Bắc.
Đặc trưng của vườn quốc gia này là rừng nhiệt đới ẩm. VQG Cát Tiên được
thành lập theo quyết định số 01/CT ngày 13 tháng 01 năm 1992 của Thủ
tướng chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trên cơ sở kết nối khu
rừng cấm Nam Cát Tiên (được thành lập theo quyết định số 360/TTg, ngày 07
tháng 07 năm 1978 của Thủ tướng chính phủ) và khu bảo tồn thiên nhiên Tây
Cát Tiên (được thành lập theo quyết định số 194/CT, ngày 09 tháng 08 năm
1986 của Chủ tịch hội đồng Bộ trưởng).
Việc thành lập VQG đã làm thay đổi phần lớn cuộc sống của người dân
sống trong khu vực cùng đệm. Thực tế cho thấy rằng các cộng đồng chủ yếu
tìm nguồn sinh kế từ rừng của VQG như khai thác lâm sản, sử dụng đất rừng
trồng cây nông nghiệp, bãi chăn thả gia súc, tạo nên nhiều tiêu cực cho quản
lý bảo vệ rừng nhưng vẫn không nâng cao được đời sống của cộng đồng.
Những hoạt động này chỉ được xem là cách sinh kế tạm thời, không bền vững.
Areas) Borrini – Feyerabend, 1996 [6] chỉ ra rằ ng: đồ ng quản lý là tìm kiếm
sự hợp tác, trong đó các bên liên quan cùng nhau thoả thuận chia sẻ chức
năng quản lý, quyền và nghĩa vụ trên một vùng lãnh thổ hoặc một khu vực tài
nguyên dưới tình trạng bảo vệ. Cũng theo Borrini – Feyerabend, 2000 khái
niệm về đồng quản lý như là một dạng hợp tác trong đó có hai hoặc nhiều đối
tác xã hội hiệp thương với nhau xác định và thống nhất việc chia sẻ chức năng
quản lý, quyền và trách nhiệm về một vùng, một lãnh thổ hoặc nguồn tài
nguyên thiên nhiên được xác định. Đồng thời đối với mục tiêu về văn hoá,
chính trị việc đồng quản lý là nhằm tìm kiếm sự “công bằng” trong quản lý tài
nguyên thiên nhiên. Trong đó thuật ngữ “tiếp cận số đông” trong quản lý tài
nguyên, kết hợp giữa nhiều đối tác có vai trò khác nhau, nhằm mục tiêu chung
là bảo tồn thiên nhiên, phát triển bền vững và chia sẻ công bằng quyền lợi liên
quan đến tài nguyên.
4
Đồ ng quản lý ngươ ̣c với các hợp đồ ng dựa trên hô ̣ gia điǹ h, bao gồ m
các khu vực đất khá rô ̣ng có thể đươ ̣c chia thành các khu trong đó áp du ̣ng các
chế đô ̣ quản lý khác nhau. Phân khu cho phép các khu vực đươ ̣c dành riêng
cho các hoa ̣t động cụ thể như bảo vê ̣ các môi trường số ng quan tro ̣ng, các khu
vườn ươm, các điể m chăn nuôi và sử du ̣ng tài nguyên. Nó cũng giúp làm
giảm mẫu thuẫn giữa những người sử du ̣ng khác nhau và ta ̣o điề u kiê ̣n tuân
thủ. [1]
Cũng nghiên cứu về vấ n đề này, Wild và Mutebi, 1996 [4] lại cho rằng
đồng quản lý là một quá trình hợp tác giữa các cộng đồng địa phương với các
tổ chức Nhà nước trong việc sử dụng và quản lý tài nguyên thiên nhiên hoặc
các tài sản khác. Các bên liên quan, Nhà nước hay tư nhân cùng nhau thông
qua một hiệp thương, xác định sự đóng góp của mỗi đối tác và kết quả là cùng
nhau ký một hiệp ước phù hợp mà các đối tác đều chấp nhận được.
- Tổ chức và doanh nghiệp quản lý tài nguyên thiên nhiên với nhiều
hình thức khác nhau và hướng đến nhiều mục tiêu khác nhau. Các tổ chức
quân đội quản lý rừng với mục tiêu quốc phòng và quân sự là chủ đạo. Các hệ
thống quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ với mục tiêu chính là bảo tồn
thiên nhiên, bảo vệ môi trường. Các doanh nghiệp quản lý, sử dụng tài
nguyên lại có mục tiêu chủ đạo là kinh doanh. Các tổ chức có thế mạnh trong
quản lý về khoa học-công nghệ, vốn và thị trường.
- Hộ gia đình và cá nhân quản lý tài nguyên rừng là thành phần được
công nhận khi có Nghị định 02/CP ngày 15 tháng 1 năm 1994 của Chính phủ
[14]về giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn
định và lâu dài và đã được sửa đổi bổ sung tại Luật Bảo vệ và Phát triển rừng
năm 2004. Mục tiêu chính của đối tượng này là tạo điều kiện về tư liệu để
người dân gắn bó với rừng, bảo vệ rừng, góp phần phát triển kinh tế hộ gia
đình và xã hội. Hộ gia đình và cá nhân có thế mạnh về lực lượng tại chỗ và có
nhiều hiểu biết về kiến thức bản địa.
6
- Quản lý tài nguyên rừng cộng đồng là một hình thức quản lý truyền
thống, xuất phát từ tính cộng đồng của con người từ thời nguyên thủy. Trải
qua nhiều thay đổi của xã hội, hình thức quản lý cộng đồng được điều chỉnh
để thích hợp với hoàn cảnh mới. Nó được đúc rút thành những hiểu biết, kinh
nghiệm, hình thành nên các luật lệ và còn tiếp tục phát triển, hoàn chỉnh. Tuy
nhiên, do tính đa dạng của các cộng đồng dân cư dẫn đến sự đa dạng về văn
hoá. Sự đa dạng này cũng dẫn đến sự đa dạng về cách thức quản lý tài nguyên
rừng cộng đồng. Mục tiêu chính của hình thức quản lý này là nhằm đáp ứng
những yêu cầu của các thành viên nhưng không làm ảnh hưởng đến lợi ích
chung của cộng đồng. Cộng đồng quản lý tài nguyên có thế mạnh về tính tổ
chức, thể chế, tính tự nguyện, sự ổn định tại chỗ và những hiểu biết bản địa.
cộng đồng và quốc gia sẽ đạt được đồng nhất trong các mục tiêu bảo tồn và
phát triển nếu như tiến tới thỏa thuận về một phương thức đồng quản lý. Vì
vâ ̣y, đồng quản lý giải quyết được mâu thuẫn giữa bảo tồn và phát triển.
1.2.1.3. Đồng quản lý dựa trên cơ sở tiến bộ khoa học và kiến thức bản địa
- Đồng quản lý sẽ ứng dụng kết hợp sự hiểu biết về đa dạng sinh học
của khoa học với những kiến thức sinh thái bản địa. Những nghiên cứu đánh
giá các giá trị đa dạng sinh học cần phải bảo tồn là cơ sở thiết lập khu bảo tồn
thiên nhiên. Kiến thức sinh thái bản địa về đặc tính của các tài nguyên là cơ
sở kinh nghiệm giúp cho công tác bảo tồn phát triển tài nguyên rừng. Đồng
quản lý dựa trên sự kết hợp hài hòa giữa các thành tựu của khoa học quản lý
và kinh nghiệm về quản lý tài nguyên rừng của cộng đồng địa phương [15].
Khoa học quản lý sử dụng các biện pháp quản lý tiên tiến khu bảo tồn, kinh
nghiệm quản lý tài nguyên rừng của cộng đồng sẽ là cơ sở để ứng dụng khoa
8
học quản lý cho phù hợp với địa phương.
- Khi giải quyết tốt mối quan hệ giữa khoa học và kiến thức bản địa
không những đảm bảo cho công tác bảo tồn tài nguyên rừng mà còn góp phần
bảo tồn bản sắc văn hoá trong quản lý và sử dụng tài nguyên rừng của cộng
đồng dân cư trong khu vực.
1.2.1.4. Đồng quản lý dựa trên cơ sở phối hợp lợi ích quốc gia và cộng đồng
- Nhà nước tính đến lợi ích mang tính toàn cục khi đặt vấn đề quản lý
một khu bảo tồn nào đó. Với mục tiêu chung là bảo vệ đa dạng sinh học, bảo
vệ môi trường, phòng hộ cho các ngành sản xuất và đời sống xã hội trong khu
vực.
- Đời sống của cộng đồng phụ thuộc trực tiếp vào nguồn tài nguyên
rừng. Lợi ích trước mắt cũng như lâu dài của người dân là đảm bảo sử dụng
bền vững nguồn tài nguyên cho nhiều thế hệ.
- Thông tư số 56/1999/TT-BNN-KL ngày 30 tháng 3 năm 1999 của Bộ
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn [16] về việc hướng dẫn xây dựng quy
ước bảo vệ và phát triển rừng trong cộng đồng dân cư thôn, làng, buôn, bản,
ấp.
- Quyết định số 08/2001/QĐ-TTg ngày 11 tháng 1 năm 2001 của Thủ
tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế quản lý rừng đặc dụng, rừng
phòng hộ và rừng sản xuất là rừng tự nhiên.[17]
- Công ước Đa dạng sinh học mà Việt Nam đã tham gia năm 1994, [19]
trong đó Điều 8 phần (j) ghi rõ “Tuỳ theo luật pháp quốc gia, sự tôn trọng và
duy trì các tri thức, các sáng kiến và các thông lệ của cộng đồng bản xứ và địa
phương, biểu hiện bằng lối sống truyền thống phù hợp với bảo tồn và sử dụng
bền vững đa dạng sinh học, mà khuyến khích áp dụng rộng rãi các tri thức,
các sáng kiến và các thông lệ này, với sự đồng ý và cùng tham gia của những
người sở hữu, cũng như khuyến khích sự chia sẻ công bằng những lợi ích có
được từ các tri thức, các sáng kiến và các thông lệ đó”.
10
- Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg, ngày 14 tháng 8 năm 2006 của Thủ
tướng Chính phủ về việc ban hành quy chế quản lý rừng.
- Nghị định số 80/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 09 tháng 8 năm
2006 về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật
Bảo vệ Môi trường;
- Quyết định 192/2003/QĐ-TTg ngày 17 tháng 9 năm 2003 của Thủ
tướng Chính phủ ban hành Chiến lược Quản lý hệ thống các khu Bảo tồn
thiên nhiên Việt Nam, trong đó Cát Tiên được xác định là VQG;[20]
- Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg, ngày 14 tháng 8 năm 2006 của Thủ
tướng Chính phủ về ban hành quy chế quản lý rừng;
- Quyết định số 18/2007/QĐ-TTg ngày 05 tháng 02 năm 2007 của Thủ
Ở Canada kể từ khi ký hiệp định Northern Quebec và James Bay năm
1975, việc sắp xếp công tác đồng quản lý ở Canada đã tăng lên nhanh chóng.
Có rất nhiều hình thức sắp xếp công tác đồng quản lý và nhiều ban chính thức
liên quan đến Tuần lộc, cá Vôi trắng, các sản phẩm lâm nghiệp và phi lâm
nghiệp và các loại cá được đặt tên nhưng rất ít. Việc sắp xếp quyền đồng quản
lý đối với chủ đề này là một chủ điểm giữa tỉnh Saskatchewan, công ty quản
lý lâm nghiệp Mistik và các cộng đồng người dân thuộc Hội đồng bộ lạc
Meadow.[24]
Theo Poffenberger. M và MêGan. B, 1993 việc đồng quản lý tài
nguyên thiên nhiên tại VQG Dong Yai - Thái Lan đã có sự phối hợp giữa
người dân với cục Lâm nghiệp Hoàng gia để xây dựng hệ thống quản lý rừng
đảm bảo ổn định về môi trường sinh thái, cũng như phục vụ lợi ích của người
dân trong khu vực.
Theo Wild và Mutebi, 1996 [33]tại VQG Bwindi Impenetrable và
MgaHinga Gorilla thuộc Uganda việc hợp tác quản lý được thực hiện theo
quy ước giữa ban quản lý VQG và cộng đồng dân cư. Trong đó, người dân
được phép khai thác một số lâm sản trên quan điểm khai thác sử dụng bền
vững, đồng thời có nghĩa vụ quản lý bảo vệ tài nguyên rừng. Như vậy, việc
12
hợp tác quản lý tại đây mới chỉ có hai đối tác là ban quản lý VQG và cộng
đồng dân cư tham gia.
Theo Sherry. E., 1999 [32] việc hợp tác quản lý tài nguyên thiên nhiên
tại VQG Vutut được thực hiện trên nguyên tắc: Có sự phối hợp giữa chính
quyền, ban quản lý VQG và cộng đồng dân cư. Đồng quản lý ở đây đã kết
hợp được các mối quan tâm của các bên tham gia và sử dụng kiến thức bản
địa của người dân địa phương vào mục tiêu bảo tồn. Đồng thời, ban quản lý
VQG xây dựng và đưa ra các mô hình đó. Như vậy, việc hợp tác quản lý ở
họ cũng được chia sẻ lợi ích thu được từ du lịch. Từ những kết quả đạt được
về đồng quản lý tài nguyên ở Nam Phi đã trở thành bài học kinh nghiệm cho
các nước đang phát triển khác (Reid, H. 2000) [33].
Năm 1989, [28]nhà nước thực hiện chính sách lâm nghiệp mới đó là
chia rừng và đất rừng làm hai loại: Rừng tư nhân và rừng nhà nước cùng với
hai loại sở hữu rừng tương ứng là sở hữu rừng tư nhân và sở hữu rừng nhà
nước. Trong quyền sở hữu của nhà nước lại được chia theo các quyền sử dụng
khác nhau như rừng cộng đồng theo nhóm người sử dụng, rừng hợp đồng với
các tổ chức, rừng tín ngưỡng, rừng phòng hộ. Nhà nước công nhận quyền
pháp nhân và quyền sử dụng cho các nhóm sử dụng.
1.4. Nghiên cứu đồng quản lý tài nguyên rừng ở Việt Nam
Nguyễn Quốc Dựng, 2004 [5]cho rằng: đồng quản lý khu bảo tồn thiên
nhiên là quá trình tham gia và hiệp thương của nhiều đối tác có mối quan tâm
tới nguồn tài nguyên trong khu bảo tồn, nhằm đạt được một thỏa thuận thống
nhất về quản lý vừa đáp ứng mục tiêu chung là bảo tồn thiên nhiên, vừa đáp
ứng mục tiêu riêng có thể chấp nhận được phù hợp với từng đối tác.
Lần đầu tiên khái niê ̣m đồ ng quản lý được đưa vào Việt Nam năm
1997. Song do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, nên khái niêm
14
này vẫn còn nhiều vấn đề bất cập. Qua quá trình thực hiện quản lý rừng tại
các địa phương, khái niệm về đồng quản lý đã được nhiều tổ chức, các tác giả
trong và ngoài nước đưa ra. Trong đó tiêu biểu là khái niệm của IUCN: “Các
khu bảo tồn do Nhà nước thiết lập, nơi quyền ra quyết định, trách nhiệm
quyền và quyền lợi chia sẻ giữa các cơ quan Nhà nước và các bên tham gia,
đặc biệt cộng đồng địa phương sống dựa vào tài nguyên rừng tại các khu bảo
tồn đó”. [30]
Khi nghiên cứu về đồng quản lý năm 2008, [3] một dự án GTZ của
bất cập. Đồng thời những nghiên cứu này còn chỉ ra cuộc sống của người dân
địa phương còn phụ thuộc vào rừng, một số thể chế chính sách còn chưa phù
hợp với tình hình thực tế của địa phương. Song các nghiên cứu chưa đánh giá
được đầy đủ tiềm năng và giải pháp thực hiện.
Đòi hỏi của thực tiễn là cần có tiến trình, nguyên tắc và các giải pháp
thích hợp để xây dựng kế hoạch đồng quản lý tài nguyên rừng. Đây là câu trả
lời mà các dự án triển khai trong thời gian gần đây đang lúng túng. Ngày
4/8/2003 hội thảo về “ý tưởng thành lập khu BTTN Phu Xai Leng do cộng
đồng quản lý” được tổ chức tại thành phố Vinh, Nghệ An [30] đã đề xuất một
số vấn đề đồng quản lý khu bảo tồn. Tuy nhiên, hội thảo cũng chưa thống
nhất được các nguyên tắc quản lý và giải quyết triệt để vấn đề.
Khi nghiên cứu về đồ ng quản lý rừng, ở Việt Nam đã có một số dự án
được triển khai thực hiện với mục tiêu xây dựng mô hình đồng quản lý. Điển
hình như: Dự án MOSAIC, 2002 [27] đã triển khai thực hiện tại khu vực sông
Thanh -Quảng Nam, nội dung đồng quản lý mới được bắt đầu và đang trong
thời gian thử nghiệm cho giai đoạn tiếp theo; Dự án về xây dựng mô hình
đồng quản lý giữa khu bảo tồn, cộng đồng dân cư và các tổ chức, cơ quan liên
quan (bao gồm cả tổ chức chính phủ và phi chính phủ) tại khu bảo tồn thiên
nhiên Phong Điền, tỉnh thừa Thiên - Huế. Song các dự án nói trên đều chưa
16
đưa ra được nguyên tắc và các giải pháp thích hợp để xây dựng kế hoạch
đồng quản lý tài nguyên.
Năm 1997 tại VQG Cát Tiên trong khoá tập huấn về “kết hợp bảo tồn
và phát triển” phương pháp đồng quản lý tài nguyên rừng lần đầu tiên được
đưa vào giới thiệu và thảo luận. Sau thời gian đó, đồng quản lý tiếp tục được
giới thiệu trong một số khoá tập huấn về bảo tồn thiên nhiên của các dự án
được triển khai thực hiện. [31]
tính hình thức và chồng chéo về quản lý. Đặc biệt đối với cộng đồng dân cư
sinh sống tại khu vực vùng đệm của các khu bảo tồn và VQG, việc tham gia
vào mô hình còn mang tính thụ động, họ chưa được coi là chủ thể tích cực
trong việc quản lý bảo vệ tài nguyên thiên nhiên. Do đó, nhất thiết cần phải có
những nghiên cứu để xây dựng phương thức đồng quản lý nhằm thu hút người
dân địa phương tự nguyện tham gia đồng quản lý tài nguyên thiên nhiên.
1.5. Hướng nghiên cứu của đề tài
Qua các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước về các vấn
đề liên quan đến đề tài nghiên cứu có thể rút ra một số nhận xét sau đây:
Các công trình nghiên cứu trên thế giới đã được tiến hành khá đồng bộ
trên nhiều khía cạnh khác nhau, từ việc đưa ra các quan điểm, khái niệm về
đồng quản lý, nghiên cứu về sự hưởng lợi và nghĩa vụ của các bên có liên
quan và các phương thức hợp tác quản lý rừng. Những nghiên cứu này đã tạo
ra cơ sở khoa học cho việc triển khai thực hiện đồng quản lý tài nguyên rừng
ở các nước trên thế giới.
Ở Việt Nam, đồng quản lý rừng là một vấn đề mới, còn đang trong giai
đoạn thử nghiệm và gặp nhiều khó khăn trong thực tiễn do tính phức tạp của
các yếu tố xã hội. Thực hiện đồng quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng cần phải
được triển khai thực hiện để có tổng kết đánh giá nhân rộng; các bước tiến
hành về quản lý phải phù hợp với điều kiện và tình hình thực tiễn ở nước ta và
đặc biệt là sự hợp tác nhiệt tình của địa phương.
18
VQG Cát Tiên là một trong những rừng tự nhiên có diện tích rộng nhất
trong cả nước, rất đa dạng về sinh học. Cho đến nay tại đây đã có rất nhiều
nghiên cứu về đa dạng sinh học, thành phần thực vật và động vật ở đây. Tuy
nhiên chưa có nghiên cứu nào có tính hệ thống về đồng quản lý tài nguyên
rừng. Vậy làm sao để quản lý rừng bền vững? Cần có những nguyên tắc và
phí của đề tài còn hạn chế nên đối tượng và phạm vi nghiên cứu được giới
hạn cụ thể ở xã Tà Lài huyện Tân Phú tỉnh Đồng Nai, là một trong 36 xã
thuộc vùng đệm vườn quốc gia Cát Tiên.
20
- Về nội dung nghiên cứu: Chỉ tập trung phân tích cơ sở lý luận - thực
tiễn thực hiện đồng quản lý rừng và đánh giá tiềm năng đồng quản lý rừng tại
VQG Cát Tiên và hỗ trợ để các đối tác thiết lập được các nguyên tắc và giải
pháp thực hiện Đồng quản lý.
2.4. Nội dung nghiên cứu
2.4.1. Phân tích tiềm năng quản lý rừng của VQG Cát Tiên - Đồng Nai
1) Hiện trạng TNR và thực trạng quản lý tài nguyên thiên nhiên tại
VQG Cát Tiên - Đồng Nai
- Hiện trạng số, chất lượng các loại rừng
- Trách nhiệm quản lý
- Các chương trình quản lý thuộc BQLR.
- Thực trạng quản lý và mức độ tham gia của cộng đồng trong công
tác quản lý.
2) Sự phụ thuộc của người dân vùng đệm vào nguồn tài nguyên rừng
- Các hình thức khai thác tài nguyên rừng chủ yếu hiện nay của cộng
đồng.
- Đánh giá mức độ phụ thuộc của người dân vào tài nguyên rừng
- Quan điểm của người dân về khai thác tài nguyên và vấn đề bảo vệ
3) Kiến thức và thể chế bản địa trong quản lý rừng
- Những vấn đề chung về kiến thức và thể chế bản địa.
- Kiến thức bản địa, thể chế quản lý rừng và giới trong quản lý rừng tại
xã Tà Lài
4) Phân tích các bên liên quan đến quản lý rừng tại VQG Cát Tiên Đồng Nai
2.5.2. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
Các bước thực hiện nghiên cứu được sơ đồ hoá như sau:
22
Thu thập các tài liệu có liên
quan đến đề tài NC
Khảo sát tổng thể khu vực
nghiên cứu
Phân tích cơ sở khoa học và thực tiễn của đồng
quản lý tài nguyên rừng tại VQG Cát Tiên
Đánh giá tiềm năng đồng quản lý tài nguyên
rừng tại VQG Cát Tiên
Đề xuất nguyên tắc
đồng quản lý
Đề xuất giải pháp
đồng quản lý
Sơ đồ 2.1: Các bước tiến hành nghiên cứu
2.5.2.1. Phương pháp kế thừa tài liệu
- Kế thừa các kết quả nghiên cứu đã có về đồng quản lý, kể cả các tài
liệu nghiên cứu đã có trên thế giới.
- Kế thừa các tài liệu có sẵn ở các cơ quan và ban, ngành, các cấp từ
trung ương đến địa phương gồm những tài liệu liên quan đến các yếu tố tự
động (hoạt động) của người dân đối với VQG, như:
- Thái độ của người dân đối với các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong
vườn Quốc gia Cát Tiên
- Lôi cuốn người dân cùng tham gia chia sẻ, thảo luận. Đồng thời phân
tích nhận thức, thái độ của của người dân về Vườn Quốc gia Cát Tiên, trên cơ
sở điều kiện thực tế của các hộ gia đình. Bên cạnh đó sẽ đánh giá được nhận