1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sức khoẻ là vốn quý của mỗi con người là một trong những điều cơ bản
để con người sống hạnh phúc, là mục tiêu và nhân tố quan trọng trong việc
phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, bảo vệ Tổ quốc. Bảo vệ sức khoẻ và nâng
cao sức khoẻ nhân dân là hoạt động nhân đạo trực tiếp đảm nhận nguồn lực
cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, là một trong những chính sách ưu
tiên hàng đầu của Đảng và Nhà nước.
Trong nhiều năm qua, công cuộc đổi mới toàn diện của nước ta đã đạt
được những thành tựu to lớn. Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm đến các vấn
đề xã hội với mục tiêu xuyên suốt từ chủ trương, chính sách đến các hoạt
động cụ thể. Bảo hiểm y tế (BHYT) là phạm trù kinh tế tất yếu của xã hội
phát triển, đóng vai trò quan trọng không những đối với người tham gia bảo
hiểm, các cơ sở y tế, mà còn là nhân tố quan trọng trong việc thực hiện chủ
trương xã hội hoá công tác y tế nhằm huy động nguồn tài chính ổn định, phát
triển đa dạng các thành phần tham gia khám bệnh, chữa bệnh cho nhân dân.
BHYT được thể hiện một số vai trò sau đây:
Thứ nhất, BHYT là nguồn hỗ trợ tài chính cho những người tham gia
khi bị ốm đau, bệnh tật, giúp họ giải toả được gánh nặng nay bằng việc chia
sẻ rủi ro, lấy số đông bù số ít.
Thứ hai, BHYT là một trong những nguồn cung cấp tài chính ổn
định cho cơ sở y tế.
Thứ ba, BHYT góp phần quan trọng trong việc thực hiện chủ trương xã
hội hoá lĩnh vực y tế.
Thứ tư, BHYT góp phần thực hiện mục tiêu công bằng xã hội trong
chăm sóc sức khoẻ nhân dân, thể hiện rõ tính nhân đạo, cộng đồng xã hội sâu
sắc.
3
phải trả toàn bộ số tiền viện phí khi đi khám chữa bệnh như: tiền khám, thuốc,
vật tư y tế, tiền gường, máu, các chế phẩm từ máu và các dịch vụ khác, so với
thu nhập của nông dân thường quá tải .[10]
Thực trạng bảo hiểm y tế tự nguyện như thế nào? Trong đó, bảo hiểm y
tế tự nguyện nông dân ra sao? Những yếu tố nào ảnh hưởng tới việc sẵn lòng
tham gia mua bảo hiểm y tế tự nguyện của nông dân trong thị xã? Giải pháp
nào nhằm tăng cường tỷ lệ nông dân tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện? Để
giải quyết thỏa đáng những câu hỏi đã nêu trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề
tài: “Giải pháp góp phần đẩy mạnh thực hiện chương trình bảo hiểm y tế tự
nguyện của nông dân Thị xã Tam Điệp - Tỉnh Ninh Bình”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu chung
Trên cơ sở xác định nhu cầu bảo hiểm y tế tự nguyện của nông dân trên
địa bàn nghiên cứu, luận văn sẽ đề ra các giải pháp nhằm tăng cường thu hút
nông dân tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện trên địa bàn thị xã Tam Điệp tỉnh Ninh Bình.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa được cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn bảo hiểm, bảo
hiểm xã hội, bảo hiểm y tế;
- Đánh giá được thực trạng và nhu cầu bảo hiểm y tế tự nguyện của
nông dân trong thị xã;
- Chỉ ra được các nhân ảnh hưởng tới sự sẵn lòng tham gia bảo hiểm y
tế tự nguyện của nông dân trên địa bàn;
- Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường thu hút nông dân tham gia
bảo hiểm y tế tự nguyện;
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.Cơ sở lý luận về vấn đề nghiên cứu
1.1.1. Các khái niệm, quan điểm liên quan đến bảo hiểm, bảo hiểm xã hội,
bảo hiểm y tế.
1.1.1.1.Khái niệm và bản chất bảo hiểm
* Khái niệm về bảo hiểm:
“Bảo hiểm là hoạt động thể hiện người bảo hiểm cam kết bồi thường
(theo quy định thống nhất) cho người tham gia bảo hiểm trong từng trường
hợp xảy ra rủi ro thuộc phạm vi bảo hiểm với điều kiện người tham gia phải
nộp một khoản phí cho chính anh ta hoặc cho người thứ ba”. [7]
Điều này có nghĩa là người tham gia chuyển giao rủi ro cho người
bảo hiểm bằng cách nộp các khoản phí để hình thành quỹ dự trữ. Khi người
tham gia gặp rủi ro dẫn đến tổn thất, người tham gia bảo hiểm lấy quỹ dự
trữ cấp hoặc bồi thường thiệt hại thuộc phạm vi bảo hiểm cho người tham
gia.
Mục đích chủ yếu của bảo hiểm là góp phần ổn định kinh tế cho người
tham gia từ đó khôi phục và phát triển sản xuất, đời sống, đồng thời tạo nguồn
vốn cho phát triển kinh tế và xã hội của đất nước.
* Bản chất của bảo hiểm.
Thực chất của bảo hiểm là quá trình phân phối lại tổng sản phẩm trong
nước giữa những người tham gia nhằm đáp ứng nhu cầu tài chính phát sinh tại
nạn, rủi ro bất ngờ xảy ra tổn thất đối với người tham gia bảo hiểm.
Hoạt động bảo hiểm dựa trên nguyên tắc “Số đông bù số ít”. Nguyên
tắc này được quán triệt trong quá trình lập quỹ dự trù bảo hiểm cũng như
trong quá trình phân phối bồi thường, quá trình phân tán rủi ro.
6
Hoạt động bảo hiểm còn liên kết, gắn bó các thành viên trong xã hội
“Bảo hiểm y tế là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực
chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận, do Nhà nước tổ chức thực
hiện và các đối tượng có trách nhiệm tham gia theo quy định của Luật này”.
- Bảo hiểm y tế bắt buộc là hình thức bảo hiểm y tế được thực hiện trên
cơ sở bắt buộc của người tham gia.
- Bảo hiểm y tế tự nguyện là hình thức bảo hiểm y tế được thực hiện
trên cơ sở tự nguyện của người tham gia.
- Người bệnh bảo hiểm y tế là người bệnh có thẻ bảo hiểm y tế bắt
buộc hoặc tự nguyện, khi khám, chữa bệnh được hưởng chế độ khám, chữa
bệnh và thanh toán chi phí khám, chữa bệnh theo quy định của cơ quan có
thẩm quyền.
* Một số nguyên tắc cơ bản trong bảo hiểm y tế
+ Quy luật số đông:
- Thông qua quy luật số đông, với việc thực hiện nghiên cứu trên một
mẫu đủ lớn có thể tính toán được xác suất tương đối chính xác khả năng xảy
ra trong thực thế của một biến cố.
- Do vậy, quy luật số đông là cơ sở khoa học quan trọng của hoạt động
bảo hiểm. Quy luật này giúp cơ quan bảo hiểm xác định xác suất rủi ro nhận
bảo hiểm, tính phí và quản lý quỹ dự phòng chi trả, đồng thời cũng là điều
kiện để đạt được tác dụng phân tán rủi ro.
- Trong BHYT quy luật số đông được biểu hiện số đông bù số ít, người
khoẻ hỗ trợ người yếu, người trẻ hỗ trợ người già và trẻ em.
+ Chia sẻ tổn thất:
- BHYT là một cơ chế trong đó số đông cá nhân đóng góp phí BHYT
để hình thành nên quỹ BHYT. Phí đóng góp BHYT là một khoản tiền nhỏ so
với phúc lợi mà người được BHYT nhận được và mức phí phù hợp với đóng
góp của nhiều người.
8
- Học sinh, sinh viên đang theo học tại các nhà trường trừ những người
tham gia BHYT theo đối tượng khác;
- Người thuộc hộ gia đình làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và
diêm nghiệp;
- Thân nhân người lao động làm công hưởng lương theo quy định của
pháp luật về tiền lương, tiền công; xã viên hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể.
* Mức đóng và giảm đóng bảo hiểm y tế
Theo điều 6, Thông tư số 09/2009/TTLT-BYT-BTC ngày 14/8/2009
- Mức đóng BHYT của các đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 5
Thông tư số 09/2009/TTLT-BYT-BTC:
Mức đóng hằng tháng đối với đối tượng tham gia BHYT tự nguyện từ
ngày 01/01/2010 bằng 4,5% mức lương tối thiểu hiện hành.
- Việc giảm mức đóng BHYT đối với trường hợp tham gia bảo hiểm y
tế theo hộ gia đình bao gồm toàn bộ người có tên trong sổ hộ khẩu và đang
sống chung trong một nhà và đối tượng quy định tại khoản 23 Điều 12 Luật
bảo hiểm y tế có từ hai thân nhân trở lên tham gia, mức đóng của các thành
viên như sau:
+ Người thứ nhất đóng bằng mức quy định;
+ Người thứ hai, thứ ba, thứ tư đóng lần lượt bằng 90%, 80%, 70%
mức đóng của người thứ nhất.
+ Từ người thứ năm trở đi đóng bằng 60% mức đóng của người thứ
nhất.
* Quyền lợi của người tham gia bảo hiểm y tế
Theo Điều 7, mức hưởng bảo hiểm y tế đối với các trường hợp quy
định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 22 Luật bảo hiểm y tế.
- Thời điểm thẻ bảo hiểm y tế có giá trị sử dụng được quy định như sau:
10
- Người tham gia bảo hiểm y tế khi đi khám bệnh, chữa bệnh theo quy
định tại các Điều 26, 27 và 28 Luật bảo hiểm y tế có sử dụng dịch vụ kỹ thuật
cao, chi phí lớn thì được quỹ bảo hiểm y tế thanh toán chi phí trong phạm vi
được hưởng 80% chi phí đối với các đối tượng khác nhưng không vượt quá
40 tháng lương tối thiểu cho một lần sử dụng dịch vụ kỹ thuật đó.
- Quỹ BHYT thanh toán 50% chi phí của thuốc điều trị ung thư, thuốc
chống thải ghép ngoài danh mục quy định của Bộ Y tế nhưng đã được phép
lưu hành tại Việt Nam theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (sau đây
gọi là cơ sở y tế) theo mức hưởng quy định tại khoản 1 Điều 7 Nghị định số
62/2009/NĐ-CP và Điều 9 Thông tư này đối với các trường hợp: Người bệnh
tham gia BHYT liên tục từ đủ 36 tháng trở lên.
- Trường hợp khám bệnh, chữa bệnh không đúng cơ sở y tế đăng ký
khám bệnh, chữa bệnh ban đầu, không theo tuyến chuyên môn kỹ thuật: được
quỹ BHYT thanh toán theo quy định tại khoản 3 Điều 7 Nghị định số
62/2009/NĐ-CP. Việc xem xét, xác định tình trạng trái tuyến, vượt tuyến
chuyên môn kỹ thuật và phân hạng bệnh viện, kể cả cơ sở y tế công lập và
ngoài công lập để quyết định áp dụng mức thanh toán, thực hiện theo quy
định của Bộ trưởng Bộ Y tế.
70% chi phí đối với trường hợp khám bệnh, chữa bệnh tại cơ sở khám
bệnh, chữa bệnh đạt tiêu chuẩn hạng III và không vượt quá 40 tháng
lương tối thiểu cho mỗi lần sử dụng dịch vụ kỹ thuật cao, chi phí lớn;
50% chi phí đối với trường hợp khám bệnh, chữa bệnh tại cơ sở khám
bệnh, chữa bệnh đạt tiêu chuẩn hạng II và không vượt quá 40 tháng
lương tối thiểu cho mỗi lần sử dụng dịch vụ kỹ thuật cao, chi phí lớn;
30% chi phí đối với trường hợp khám bệnh, chữa bệnh tại cơ sở khám bệnh,
chữa bệnh đạt tiêu chuẩn hạng I, hạng Đặc biệt và không vượt quá 40 tháng
lương tối thiểu cho mỗi lần sử dụng dịch vụ kỹ thuật cao, chi phí lớn.
13
* Quản lý quỹ bảo hiểm y tế: Theo Điều 34 Luật BHYT quy định quản
lý như sau:
+ Quỹ bảo hiểm y tế được quản lý tập trung, thống nhất, công khai,
minh bạch và có sự phân cấp quản lý trong hệ thống tổ chức bảo hiểm y tế.
+ Chính phủ quy định cụ thể việc quản lý quỹ bảo hiểm y tế; quyết định
nguồn tài chính để bảo đảm việc khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế trong
trường hợp mất cân đối thu, chi quỹ bảo hiểm y tế.
* Sử dụng quỹ bảo hiểm y tế: Theo Điều 35 Luật BHYT về sử dụng quỹ
BHYT. Quỹ bảo hiểm y tế được sử dụng cho các mục đích sau đây:
+ Thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế;
+ Chi phí quản lý bộ máy tổ chức bảo hiểm y tế theo định mức chi hành
chính của cơ quan nhà nước;
+ Đầu tư để bảo toàn và tăng trưởng quỹ bảo hiểm y tế theo nguyên tắc
an toàn, hiệu quả;
+ Lập quỹ dự phòng khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế. Quỹ dự
phòng tối thiểu bằng tổng chi khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế của hai
quý trước liền kề và tối đa không quá tổng chi khám bệnh, chữa bệnh bảo
hiểm y tế của hai năm trước liền kề.
+ Trường hợp các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có số thu
bảo hiểm y tế lớn hơn số chi khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế thì được
sử dụng một phần kết dư để phục vụ khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế
tại địa phương.
+ Chính phủ quy định cụ thể Điều này.
* Quyền của người tham gia bảo hiểm y tế: Theo Điều 36 Luật BHYT
và sử dụng quỹ BHYT.
+ Được cấp thẻ bảo hiểm y tế khi đóng bảo hiểm y tế.
15
+ Sử dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, dịch vụ kế hoạch hóa gia đình, nạo
hút thai, phá thai, trừ trường hợp phải đình chỉ thai nghén do nguyên nhân
bệnh lý của thai nhi hay của sản phụ.
+ Sử dụng dịch vụ thẩm mỹ.
+ Điều trị lác, cận thị và tật khúc xạ của mắt.
+ Sử dụng vật tư y tế thay thế bao gồm chân tay giả, mắt giả, răng giả,
kính mắt, máy trợ thính, phương tiện trợ giúp vận động trong khám bệnh,
chữa bệnh và phục hồi chức năng.
+ Khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng đối với bệnh nghề
nghiệp, tai nạn lao động, thảm họa.
+ Khám bệnh, chữa bệnh trong trường hợp tự tử, tự gây thương tích.
+ Khám bệnh, chữa bệnh nghiện ma túy, nghiện rượu hoặc chất gây
nghiện khác.
+ Khám bệnh, chữa bệnh tổn thương về thể chất, tinh thần do hành vi vi
phạm pháp luật của người đó gây ra.
+ Giám định y khoa, giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần.
+ Tham gia thử nghiệm lâm sàng, nghiên cứu khoa học.
* Nghĩa vụ của người tham gia bảo hiểm y tế: Theo Điều 37 Luật
BHYT quy định nghĩa vụ của người tham gia bảo hiểm y tế:
+ Đóng bảo hiểm y tế đầy đủ, đúng thời hạn.
+ Sử dụng thẻ bảo hiểm y tế đúng mục đích, không cho người khác
mượn thẻ bảo hiểm y tế.
+ Thực hiện các quy định tại Điều 28 của Luật này khi đến khám bệnh,
chữa bệnh (Cụ thể như sau: 1. Người tham gia bảo hiểm y tế khi đến khám
bệnh, chữa bệnh phải xuất trình thẻ bảo hiểm y tế có ảnh; trường hợp thẻ bảo
hiểm y tế chưa có ảnh thì phải xuất trình thẻ bảo hiểm y tế cùng với giấy tờ
chứng minh về nhân thân của người đó; đối với trẻ em dưới 6 tuổi chỉ phải
17
cơ sở, giáo viên mầm non, nhà trẻ, thân nhân sỹ quan quân đội đang tại ngũ
và chính sách chăm sóc sức khoẻ người nghèo thông qua thông qua hình thức
mua thẻ BHYT cho họ. Điều lệ BHYT ban hành kèm theo Nghị định
58/1998/CP ngày 13 tháng 8 năm 1998 đã thay thế Điều lệ ban hành kèm theo
Nghị định 299/HĐBT và Nghị định số 47/CP trước đây.
Năm 2002, sau khi sáp nhập với Bảo hiểm xã hội, một số điều trong
Điều lệ BHYT ban hành theo Nghị định số 58 đã bị bãi bỏ. Tuy nhiên, nội
dung cơ bản về quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia BHYT vẫn thực hiện
theo Điều lệ BHYT ban hành năm 1998.
Ngày 16 tháng 5 năm 2005, Chính phủ ra Nghị định số 63/2005/NĐ-CP,
ban hành Điều lệ Bảo hiểm y tế. Điều lệ này thay thế Điều lệ BHYT ban hành
kèm theo Nghị định số 58/1998/CP và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7
năm 2005.
Ngày 14 tháng 11 năm 2008, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam ban hành Luật Bảo hiểm y tế số 25/2008/QH12, gồm 10
chương và 52 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2009.
Ngày 27 tháng 7 năm 2009, Chính phủ ban hành Nghị định số
62/2009/NĐ-CP Quy định chi tiết và Hướng dẫn thi hành một số điều của
Luật Bảo hiểm y tế. Ngày 14 tháng 8 năm 2009, liên bộ Y tế - Tài chính có
Thông tư liên tịch số 09/2009/TTLT-BYT-BTC hướng dẫn thực hiện bảo
hiểm y tế.
Ngày 14 tháng 8 năm 2009, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số
10/2009/TT-BYT, ngày 14 tháng 8 năm 2009, hướng dẫn đăng ký khám, chữa
bệnh ban đầu và chuyển tuyến khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế.
Qua 20 năm thực hiện chính sách BHYT, số người tham gia BHYT
ngày càng tăng mạnh. Kết quả cấp thẻ BHYT tính đến ngày 30 tháng 6 năm
- Thân nhân người lao động làm công hưởng lương theo quy định của
pháp luật về tiền lương, tiền công; xã viên hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể;
20
- Đối tượng quy định tại các điểm a, d và đ khoản 1 Điều này thực hiện
theo địa giới hành chính; các đối tượng quy định tại các điểm b và c khoản 1
điều này thực hiện theo đơn vị cơ quan, trường học;
- Bảo hiểm xã hội Việt Nam hướng dẫn cụ thể việc cấp thẻ BHYT cho
các đối tượng, bảo đảm tính liên tục khi chuyển từ hình thức tự nguyện sang
thực hiện theo quy định của Luật Bảo hiểm y tế.
* Mức đóng BHYT tự nguyện
Từ ngày 01 tháng 01 năm 2012, mức đóng hằng tháng của đối tượng
quy định tại khoản 22 Điều 12 Luật Bảo hiểm y tế (bảo hiểm y tế tự nguyện)
bằng 4.5% mức lương tối thiểu. Theo khoản 6 Điều 3 của Nghị định này,
trường hợp đối tượng quy định tại khoản 20 và khoản 22 Điều 12 Luật Bảo
hiểm y tế, tham gia bảo hiểm y tế thao hộ gia đình, bao gồm toàn bộ người có
tên trong sổ hộ khẩu và đang sống chung trong một nhà và đối tượng quy định
tại khoản 23 Điều 12 Luật bảo hiểm y tế có từ 2 thân nhân trở lên, tham gia,
mức đóng của các thành viên như sau:
- Người thứ nhất đóng bằng mức quy định
- Người thứ hai, thứ ba và thứ tư đóng lần lượt bằng 90%, 80%, 70%
mức đóng của người thứ nhất
- Từ người thứ năm trở đi đóng bằng 60% mức đóng của người thứ nhất.
* Mức hưởng: 80% chi phí khám, chữa bệnh; phần còn lại do người
bệnh tự thanh toán với cơ sở khám, chữa bệnh.
Ngày 06 tháng 01 năm 2012, tại Hà Nội, Bộ Y tế và BHXH Việt Nam
đã tổ chức hội nghị tổng kết, đánh giá 3 năm thực hiện Luật bảo hiểm y tế và
định hướng sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT. Tại hội nghị đã
và vướng mắc. Việc mở rộng và phát triển đối tượng tham gia BHYT cha] đạt
như mục tiêu đề ra, tỷ lệ tham gia BHYT chưa đầy đủ, tính tuân thủ pháp luật
chưa cao, cho nên vẫn còn 35% số dân chưa tham gia BHYT. Trong số này có
các nhóm đối tượng phải tham gia BHYT theo lộ trình quy định nhưng không
tham gia đầy đủ. Công tác mở rộng đối tượng tham gia BHYT tự nguyện
cũng gặp nhiều khó khăn do người dân chỉ tham gia khi mắc bệnh mạn tính,
22
có chi phí chữa trị cao. Chính quyền các cấp ở một số nơi chưa quan tâm
đúng mức trong phối hợp tuyên truyền với cơ quan BHXH, người dân thiếu
thông tin về bảo hiểm y tế, nhiều người không biết phải mua thẻ bảo hiểm y tế
ở đâu hoặc quyền lợi của mình ra sao.[9]
1.2. Thực tiễn và kinh nghiệm tổ chức BHYT tự nguyện cho nông dân
1.2.1. Kinh nghiệm tổ chức BHYT tại một số nước trên thế giới
1.2.1.1. Bảo hiểm y tế tại Đài Loan
Bảo hiểm y tế tại Đài Loan được thực hiện từ năm 1995 theo hình thức
BHYT bắt buộc theo luật với tất cả mọi người dân. Tỷ lệ bao phủ hiện nay là
99% dân số (23 triệu người tham gia). Mức đóng, quyền lợi của người tham
gia BHYT được thống nhất trên toàn lãnh thổ Đài Loan.
Quỹ BHYT được hình thành từ các nguồn chính: từ đóng góp của
người lao động, chủ sử dụng lao động, Chính phủ. Ngoài ra một số lợi tức thu
được từ xổ số, thuế thuốc lá cũng được bổ sung cho nguồn Quỹ BHYT.
Mức đóng BHYT hiện tại là 5,17% thu nhập. Tuỳ theo từng nhóm đối
tượng mà mức đóng/hỗ trợ của Chính phủ khác nhau. Ví dụ: người lao động
trong các doanh nghiệp tư nhân tự đóng 30%, người sử dụng lao động đóng
60%, Chính phủ hỗ trợ 10%. Trong khi đó nhóm đối tượng thuộc các đơn vị
của nhà nước thì tỷ lệ đóng tương ứng là 30%, 70%, 0%. Nhà nước cũng có
chính sách hỗ trợ đóng 100% đối với các đối tượng có thu nhập thấp, cựu
- Bắt buộc và độc quyền
- Phòng ngừa lạm dụng [5]
1.2.2. Kinh nghiệm về BHYT tại Việt Nam
* Kinh nghiệm về BHYT tự nguyện ở tỉnh Quảng Ngãi
Năm 2004, tỉnh Quảng Ngãi bắt đầu triền khai thí điểm BHYT tự
nguyện nhân dân tại thị xã Quảng Ngãi và các huyện Tư Nghĩa, Đức Phổ, Sơn
Hà, với 409 người tham gia. Đến nay, loại hình BHYT này đã được triển khai
trên khắp địa bàn tỉnh.
24
Theo số liệu thống kê tại BHXH tỉnh, năm 2009 toàn tỉnh có 28.368
người tham gia BHYT, năm 2010: 32.786 người; năm 2011: 46.602 người và
đến hết quý I năm 2012 đã có 19.955 người tham gia BHYT. Trong đó có một
số địa phương số người tham gia BHYT tăng mạnh như: Thành phố Quảng
Ngãi, các huyện Bình Sơn, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa... Điều này chứng tỏ chính
sách BHYT đã dần đi vào cuộc sống và trở thành nhu cầu không thể thiếu của
người dân. Chính sách BHYT ngày càng trở thành nhu cầu thiết yếu và không
còn xa lạ đối với người dân. Việc đăng ký tham gia BHYT cũng đơn giản, dễ
dàng hơn.
Tuy nhiên, bên cạnh những tác động tích cực, công tác triển khai
BHYT cho đối tượng tự nguyện nhân dân trên địa bàn cũng còn gặp phải khó
khăn, vướng mắc nhất định như: đối tượng tham gia BHYT chưa mang tính
cộng đồng cao, rất nhiều người chỉ khi ốm đau, bệnh tật mới mua thẻ BHYT.
Điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự an toàn của Quỹ BHYT cũng như
mất đi tính cộng đồng, chia sẻ của chính sách này.
Công tác khám, chữa bệnh BHYT tại các cơ sở có lúc, có nơi còn nhiều
bất cập; một số quy định thanh toán BHYT chưa phù hợp với nhu cầu thực tế
trong khám và điều trị; mức phí BHYT hằng năm tăng theo mức lương tối
cập, một số cơ sở KCB trên địa bàn chưa thấy được trách nhiệm của mình
trong việc chăm sóc sức khoẻ cho người có thẻ BHYT, thái độ phục vụ của
một số thầy thuốc còn thờ ơ với người bệnh và có sự phân biệt đối xử giữa
bệnh nhân có thẻ BHYT với bệnh nhân tự nộp viện phí. Từ đó đã làm cho
người bệnh thiếu sự tin tưởng vào việc khám chữa bệnh theo chế độ
BHYT.[5]