i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu,
kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong
bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác.
Nếu nội dung nghiên cứu của tôi trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên
cứu nào đã công bố, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm và tuân thủ kết luận
đánh giá luận văn của Hội đồng khoa học.
Hà Nội, ngày 15 tháng 4 năm 2016
Người cam đoan
Lê Văn Quang
ii
LỜI CẢM ƠN
Đề tài nghiên cứu khoa học “Nghiên cứu giải pháp phục hồi và nâng
cao chất lượng rừng phòng hộ hồ Yên Lập - Quảng Ninh” được hoàn thành
theo chương trình đào tạo Thạc sỹ Quản lý tài nguyên rừng, Khóa 21 (2013 –
2015) tại Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam.
Nhân dịp này, tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Khoa Đào tạo
Sau đại học, Khoa QLTNR&MT – trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam đã
giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết sơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS
Phùng Văn Khoa - người đã nhiệt tình hướng dẫn, truyền đạt kiến thức, kinh
nghiệm quý báu để tôi hoàn thành luận văn này. Tôi cũng xin được bày tỏ
lòng biết ơn sâu sắc tới các Thầy, Cô giáo trong Khoa QLTNR&MT đã hỗ
1.2.2. Ở Việt Nam ......................................................................................... 15
Chương 2. MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ............................................................... 19
2.1. Mục tiêu nghiên cứu ............................................................................... 19
2.1.1. Mục tiêu chung .................................................................................... 19
2.1.2. Mục Tiêu cụ thể ................................................................................... 19
2.2. Đối tượng điều tra khảo sát..................................................................... 19
2.3. Phạm vi nghiên cứu ................................................................................ 19
2.4. Nội dung nghiên cứu .............................................................................. 19
2.4.1. Nghiên cứu cơ sở kỹ thuật phục hồi và nâng cao chất lượng rừng
phòng hộ hồ Yên Lập .................................................................................... 19
iv
2.4.2. Nghiên cứu cơ sở kinh tế, xã hội phục hồi và nâng cao chất lượng
rừng phòng hộ hồ Yên Lập ............................................................................ 20
2.4.3. Đề xuất giải pháp góp phần phục hồi và nâng cao chất lượng rừng
phòng hộ hồ Yên Lập .................................................................................... 20
2.3. Phương pháp nghiên cứu ........................................................................ 22
2.3.1. Quan điểm phương pháp luận .............................................................. 22
2.3.2. Phương pháp tiến hành ........................................................................ 22
2.3.3. Phương pháp xử lý nội nghiệp ............................................................. 26
Chương 3. ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC NGHIÊN CỨU ..................................... 30
3.1. Điều kiện tự nhiên .................................................................................. 30
3.1.1. Vị trí địa lý .......................................................................................... 30
3.1.2. Địa hình, thổ nhưỡng ........................................................................... 30
3.1.3. Khí hậu, thủy văn ................................................................................ 31
3.2. Điều kiện kinh tế - xã hội ....................................................................... 32
3.2.1. Dân số, dân tộc, lao động..................................................................... 32
TÀI LIỆU THAM KHẢO
vi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Ký hiệu
ỔTC
ÔDB
ĐTC
Hvn
D1.3
N/ha
NN
QPN
LK
G/ha
M/ha
NXB
UBND
Chú giải
Ô tiêu chuẩn
Ô dạng bản
Độ tàn che
Chiều cao vút ngọn
Đường kính ngang ngực
Số cây/ha
Nông nghiệp
Tổng hợp số hộ gia đình và nhân khẩu của từng xã,
phường trong khu vực rừng phòng hộ hồ Yên Lập
33
Tổng hợp số nhân khẩu của các dân tộc có trong khu vực
rừng phòng hộ hồ Yên Lập
33
Bảng 4.1. Hiện trạng sử dụng đất tại khu vực nghiên cứu
41
Bảng 4.2. Tổng hợp quy hoạch 3 loại rừng trong lưu vực năm 2015
43
Bảng 4.3. Cấu trúc tổ thành tầng cây cao theo chỉ số IV%
47
Bảng 4.4. Mật độ và chất lượng tầng cây cao
49
Bảng 4.5. Độ tàn che, chiều cao vút ngọn và đường kính bình quân
51
64
Bảng 4.13. Giá trị lượng mưa và tọa độ các trạm thủy văn
64
Bảng 4.14. Tổng hợp phân cấp lượng mưa lưu vực Hồ Yên Lập
65
Bảng 4.15. Bảng tổng hợp phân cấp chỉ số hình dạng lưu vực Hồ Yên Lập
67
Bảng 4.16. Bảng tổng hợp phân cấp các yếu tố lưu vực Hồ Yên Lập
68
Bảng 4.17.
Bảng 4.18.
Thống kê hiện trạng rừng, đất lâm nghiệp và các kiểu sử
dụng đất theo bản đồ phân cấp lưu vực
Thống kê diện tích phân cấp đầu nguồn theo quy hoạch 3
loại rừng tại khu vực nghiên cứu
Bảng 4.19. Tổng hợp diện tích giao đất
Bảng 4.20.
Hình 2.1.
Sơ đồ nghiên cứu
Hình 2.2.
Sơ đồ bố trí các ô tiêu chuẩn điều tra cây tái sinh
Hình 4.1.
Thao tác hiệu chỉnh DEM
Hình 4.2.
Bản đồ hướng dòng chảy lưu vực hồ Yên Lập
Hình 4.3.
Bản đồ tích lũy dòng chảy lưu vực hồ Yên Lập
Hình 4.4.
Bản đồ ranh giới lưu vực hồ Yên Lập
Hình 4.5.
Hình 4.6.
Hình 4.7.
Hình 4.8.
theo địa giới hành chính của các huyện (thị) trong
46
lưu vực Yên Lập
Hình 4.10.
Bản đồ phân cấp độ cao lưu vực hồ Yên Lập
Hình 4.11.
Bản đồ phân cấp độ dốc lưu vực hồ Yên Lập
Hình 4.12.
Bản đồ phân cấp độ dày tầng đất lưu vực hồ Yên Lập
Hình 4.13.
Bản đồ phân cấp hiện trạng rừng lưu vực hồ Yên Lập
Hình 4.14.
Bản đồ phân cấp lượng mưa lưu vực hồ Yên Lập
Hình 4.15.
Bản đồ phân cấp chỉ số hình dạng lưu vực hồ Yên Lập
các hoạt động khai thác gỗ trái phép làm cấu trúc rừng bị thay đổi, nên sau
nhiều năm đưa vào sử dụng, lòng hồ Yên Lập đã bị bồi lắng nhiều, nguy cơ
giảm tuổi thọ sử dụng của hồ là rất lớn. Bên cạnh đó lưu lượng nước ở lòng
hồ cũng thay đổi khá mạnh, lũ lớn vào mùa mưa và thiếu nước vào mùa khô,
gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới sản xuất và đời sống người của người dân
trong khu vực.
Xuất phát từ những lý do trên, đề tài: “Nghiên cứu giải pháp phục hồi
và nâng cao chất lượng rừng phòng hộ hồ Yên Lập - Quảng Ninh” được
thực hiện nhằm cung cấp cơ sở khoa học góp phần giải quyết các vấn đề từ
thực tiễn nêu trên.
2
Chương 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Nghiên cứu về rừng phòng đầu nguồn
Có nhiều khái niệm khác nhau về rừng phòng hộ và rừng phòng hộ đầu
nguồn của các tác giả trên thế giới, điển hình:
Để có cơ sở xác định, phân chia đối tượng rừng, các nhà khoa học đã
thống nhất đưa khái niệm: Rừng phòng hộ là rừng và đất được xác định mục
đích sử dụng chủ yếu để bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất chống xói mòn, hạn
chế thiên tai, điều hòa khí hậu, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái [15].
Theo Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2014, Rừng phòng hộ là loại
rừng được sử dụng chủ yếu để bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói
mòn, chống sa mạc hóa, hạn chế thiên tai, điều hòa khí hậu góp phần bảo vệ
môi trường.
Theo I.G. Melekhov (1980) Rừng phòng hộ đầu nguồn là những Lâm
phần rừng và đất trong khu vực nước được sử dụng để sản xuất nước, điều
hòa dòng chảy, hạn chế lũ lụt, hạn hán và điều hòa khí hậu hóp phần bảo vệ
hoặc cải tạo sản lượng nước của chúng. Như vậy, quản lý bảo vệ lưu vực
nước là quản lý sử dụng phát triển của các nguồn tài nguyên trong lưu vực để
bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất chống xói mòn, hạn chế thiên tai, điều hòa khí
hậu, nhằm thỏa mãn những nhu cầu, nguyện vọng cho hiện tại và các thế hệ
tương lai. Hiện nay các chuyên gia và nhiều nhà khoa học đã đưa ra các khái
niệm về quản lý lưu vực nước, trong đó đáng chú ý là khái niệm của Brooks
(1986), R.Villanueva (1987), Chuncao(1973), các tác giả cho rằng công tác
quản lý lưu vực chính là công tác quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn và là một
hệ thống các biện pháp bảo vệ, phục hồi, phát triển tài nguyên rừng, đất rừng
đầu nguồn nhằm thỏa mãn những nhu cầu về lâm sản, nông sản, văn hóa du
lịch và khoa học, bảo vệ đất, duy trì nguồn nước, ổn đinh khí hậu và chống ô
nhiễm môi trường [15].
Khả năng phòng hộ của rừng đầu nguồn được thể hiện qua chức năng
ổn định dòng chảy và làm tăng lượng nước trong mùa khô. Xét về tính đại
diện, hệ số dòng chảy bề mặt, lượng nước giữ lại trong đất là những chỉ tiêu
tốt nhất phản ánh năng lực phòng hộ của rừng trong việc giữ nước bảo vệ đất.
Dòng chảy về mặt càng thấp chứng tỏ lượng nước giữ lại trong đất càng
nhiều, khả năng phòng hộ của rừng càng cao. Khả năng giữ nước của rừng có
4
giới hạn và phụ thuộc nhiều vào độ xốp, cấu tượng đất, tốc độ thấm nước của
đất, hàm lượng mụn, độ dày tầng đất [5].
1.1.1.2. Nghiên cứu về đặc điểm cấu trúc của rừng phòng hộ đầu nguồn
a. Nghiên cứu về cấu trúc tổ thành
Cấu trúc tổ thành là sự tham gia của những loài cây trong lâm phần,
hay nói cách khác là sự phong phú của các loài cây trong quần thụ thực vật.
Theo tác giả Richards P.W (1952), trong rừng mưa nhiệt đới, trên mỗi ha
thường có ít nhất 40 loài cây gỗ, mà có trường hợp còn đến trên 100 loài [21].
Khi nghiên cứu cấu trúc tổ thành rừng tự nhiên nhiệt đới thành thục (về
phân bố số cây theo cấp chiều cao. Đã có một số tác giả đề xuất các phương
pháp nghiên cứu tầng thứ của rừng nhiệt đới, điển hình như phương pháp vẽ
biểu đồ mặt cắt đứng của rừng Davit và P.W. Risa (1933 - 1934) đề xướng và
sử dụng lần đầu tiên ở Guyan vẫn là phương pháp có hiệu quả để nghiên cứu
cấu trúc tầng thứ của rừng. Tuy nhiên, phương pháp này có nhược điểm là chỉ
minh hoạ được cách sắp xếp theo hướng thẳng đứng của các loài cây gỗ trong
một diện tích có hạn. Cusen (1951) đã khắc phục bằng cách vẽ một số giải kề
bên nhau và đưa lại một hình tượng về không gian ba chiều. Tuy nhiên, do
tính chất phức tạp của nó nên nhiều tác giả có ý kiến không thống nhất nhau
trong cách phân chia tầng thứ. Chevalier (1917), Mildbraed ( 1922) đã ngụ ý
rằng mọi phương pháp dựa vào chiều cao của cây để phân cây cối thành tầng
đều có tính chất tùy tiện và các tầng đó không có một thực tế khách quan.
Booberg (1932) đã lập đồ thị chiều cao của tất cả các cây gỗ đo được trong
các “khu rừng bảo vệ” ở Java và đi đến kết luận là không thể nhận ra có mấy
tầng cây như các tác giả khác đã mô tả. Ngược lại, nhiều tác giả khác cho
rằng rừng mưa thường có từ ba đến năm tầng: Brown (1919) khi nghiên cứu
rừng cây họ Dầu tại Phillippines, đã cho biết là các cây gỗ lớn sắp xếp thành
ba tầng khá rõ rệt. Để nghiên cứu sự phân tầng trong rừng mưa ở Guana,
Davis và Richards P.W ( 1933-1934) dùng phương pháp vẽ biểu đồ mặt cắt
đứng của rừng, phương pháp này được đánh giá có giá trị nhất về mặt nghiên
cứu lí luận cũng như về thực tiễn sản xuất, kết quả đã phân rừng hỗn giao
nguyên sinh ở sông Moraballi tại Guana thành năm tầng với ba tầng cây gỗ
(A, B, C) tầng cây bụi (D) và tầng mặt đất (E). Richards P.W (1936) cho biết
trong rừng cây họ Dầu hỗn hợp nguyên sinh ở núi Dulit tại Borneo có 3 tầng
cây gỗ nhưng tầng A phân biệt rõ ràng còn tầng B và C khó xác định rõ ranh
giới, ngoài ra còn có một tầng cây bụi và tầng thực vật mặt đất; năm 1939 ông
cũng phân rừng hỗn hợp nguyên sinh ở Nigeria thành năm tầng với ba tầng cây
6
thước và chất lượng cây rừng (dẫn theo Nguyễn Thanh Tiến, 2010) [23].
7
Như vậy, nghiên cứu về cấu trúc tầng thứ của các tác giả trên mới chỉ
đưa ra nhận xét mang tính định tính, phân chia tầng thứ dựa vào cấp chiều cao
mang tính cơ giới nên phần nào chưa phản ánh đúng tính phức tạp của cấu
trúc rừng nhiệt đới.
Tóm lại, sự phân tầng trong rừng mưa nhiệt đới mặc dù có các ý kiến
trái ngược, nhưng quan điểm có sự phân tầng rõ rệt trong rừng mưa nhiệt đới
được nhiều nhà khoa học xác nhận
c. Nghiên cứu về cấu trúc mật độ
Cũng theo tác giả Richards P.W (1952), trong rừng mưa nhiệt đới ở
Nam Mỹ và châu Phi, mật độ lâm phần (cây có đường kính ngang ngực từ 10
cm trở lên) biến động từ 390 - 1.710 cây/ha, trong đó mật độ của những cây
có đường kính từ 41cm trở lên khoảng 39 - 60 cây/ha. Baur G.N (1962), cũng
cho biết: trong rừng mưa nguyên sinh ở Mã Lai trên diện tích một hecta có
khoảng 550 cây có đường kính từ 10cm trở lên, trong đó những cây có đường
kính trên 48cm từ 42 - 65 cây/ha [21].
Về mật độ tối ưu lâm phần, tác giả H. Thomasius (1972) đã xây dựng lý
thuyết khoảng sống và hằng số không gian sinh trưởng liên quan tới chiều cao,
mật độ và tuổi. Kairukstis (1980) xác định mật độ tối ưu lâm phần theo diện
tích tán lá và mức độ che phủ. Chiabera (1982) mô hình hóa mật độ tối ưu theo
tuổi và lấy mật độ tại tuổi 100 làm gốc (dẫn theo Nguyễn Ngọc Lung, 1987)
[12]. Nhưng các phương pháp này chỉ thích hợp cho nghiên cứu rừng thuần
loài đều tuổi. Đối với rừng hỗn loài khác tuổi, việc xác định tuổi lâm phần rất
khó khăn, cho nên khó áp dụng đối với rừng nhiệt đới hỗn loài khác tuổi.
Nghiên cứu của Joost E. Duivenvoorden (1995) tại vùng Amazon thuộc
Comlombia cho thấy, trong 95 ô tiêu chuẩn, với diện tích 0,1 ha, phân bố ở
các vị trí địa hình khác nhau có 1077 loài với đường kính ngang ngực (DBH)
Xói mòn đất ở vùng cao không những chỉ dẫn đến sự thiệt hại về mức
sản xuất tại chỗ mà còn gây nên nhiều tác hại tại các hồ chứa hoặc sẽ ảnh
hưởng đến việc cung cấp nước tưới ở vùng thấp. Khối lượng vật chất bị cuốn
trôi cũng gây nên nhiều tác hại ở vùng thấp ngay cả khi ta chưa xây dựng hồ
chứa nước. Nói cách khác quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn phải là một cách
quản lý tổng hợp về sử dụng đất và nước với tất cả các mối tương quan của
chúng, tại một vùng nhất định [8].
1.1.2.2. Nghiên cứu về đặc điểm cấu trúc của rừng phòng hộ đầu nguồn
a. Nghiên cứu về cấu trúc tổ thành
Cấu trúc tổ thành thực chất là sự tham gia của các thành phần loài cây
9
trong quần thể cây rừng. Nghiên cứu cấu trúc rừng tự nhiên ở Việt Nam, trên
quan điểm hệ sinh thái, Thái Văn Trừng (1963, 1978, 1999) đã dựa trên số
lượng và sinh khối nhóm loài ưu thế trong rừng nhiệt đới ẩm Việt Nam để
phân định các ưu hợp và phức hợp. Nhóm loài ưu thế trong các ưu hợp không
quá 10 loài, tỉ lệ cá thể của mỗi loài ưu thế chiếm khoảng 5% và tổng số cá
thể của 10 loài ưu thế đó phải chiếm 40-50% tổng số cá thể cây của các tầng
lập quần trong quần thể trên đơn vị diện tích điều tra. Trường hợp độ ưu thế
các loài cây không rõ ràng gọi là các phức hợp [32].
Do đặc trưng khí hậu và đất thuận lợi cho nhiều loài cây cùng phát triển,
cho nên trong rừng tự nhiên hỗn loài nhiệt đới hiếm khi chỉ có một loài ưu thế
duy nhất tạo thành các quần hợp như vùng ôn đới. Theo Nguyễn Hồng Quân
(1982), trong rừng loại IVB ở Kon Hà Nừng, trên diện tích một ha có khoảng
60 loài, nhưng các loài có tổ thành lớn nhất cũng không vượt quá 10%. Nguyễn
Văn Trương (1983), cho rằng: trong rừng tự nhiên hỗn loài, chỉ tính loài cây gỗ
từ trạng thái rừng sào trở lên cũng có đến ba bốn chục loài trên một ha, nhưng
trong đó loài cây gỗ lớn có thể vươn đến lớp không gian cao 30m chỉ từ 10 20%. Nguyễn Ngọc Lung (1991) qua điều tra các dạng rừng khí hậu ở Hương
Sơn, Kon Hà Nừng và một số địa phương khác, cũng cho biết: trên ô tiêu chuẩn
Như vậy, có thể thấy rằng rừng tự nhiên nhiệt đới là các kiểu rừng có
cấu trúc sinh thái phức tạp nhất về thành phần loài, tầng phiến và dạng sống
thể hiện sự phong phú về đa dạng sinh học. Các chỉ tiêu để chỉ sự đa dạng về
loài của rừng tự nhiên là hệ số hỗn loài (số loài/số cây). Trong rừng tự nhiên ở
Việt Nam hệ số này biến động từ 1/5 đến 1/13 (nếu số cây gỗ có đường kính
ngang ngực từ 10 cm trở lên trong 1 ha bình quân là 500 cây thì số loài biến
động từ 38 - 100 loài/ha). Cấu trúc tổ thành loài nghiên cứu về tầm quan trọng
sinh thái của mỗi loài trong quần thụ, các chỉ tiêu để định lượng về tổ thành
thường được dùng là chỉ số IV (Important Value Index) tính bằng %. Giá trị
này được tính cho tỷ trọng số cây của một loài so với tổng quần thụ, hay tỷ
trọng tiết diện ngang G, hoặc tổng của hai chỉ tiêu này. Các loài có giá trị
IV%> 5% được xếp vào các loài ưu thế. Phục vụ mục tiêu quản lý, người ta
cũng nghiên cứu các quan hệ tương hỗ giữa các loài (nhóm sinh thái); nhóm
các loài mục đích, các loài phù trợ và các loài phi mục đích. Sự phân chia này
là tương đối vì loài phi mục đích hôm nay có thể trở thành loài kinh tế trong
tương lai và ngược lại. Việc khai thác rừng sẽ làm thay đổi cấu trúc tổ thành
loài. Nghiên cứu ở Lâm Trường Ba Rền cho thấy, trong khi nhóm loài cây
11
mục đích ở rừng giàu và trung bình chiếm 30-50% thì ở rừng nghèo sau khai
thác nhiều lần chỉ chiếm 13 - 25%. Ở Hương Sơn có những vùng Chẹo và Ngát
chiếm 32%, các loài khác chiếm 41% nghĩa là 73% ưu thế là các loài kém giá
trị kinh tế. Tại Kon Hà Nừng cũng nhận thấy tổ thành các loài có giá trị kinh tế
ở rừng giàu (Giổi, Sữa, Xoay, Re, Xoan đào, Thông nàng,...) chiếm 20% trong
khi ở rừng nghèo chỉ có 13% dẫn theo Nguyễn Thanh Tiến, 2010) [23].
b. Nghiên cứu về cấu trúc tầng thứ
Trên quan điểm nghiên cứu về cấu trúc tầng thứ của rừng, khác với một
số tác giả nước ngoài về quan điểm tầng thứ trong rừng nhiệt đới, ở Việt Nam
hầu như các nhà khoa học đều thống nhất là có sự phân tầng trong rừng tự
Cấu trúc mật độ là số lượng cây trên một đơn vị diện tích, cấu trúc này
có ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng phát triển của lâm phần. Trong kinh
doanh rừng, việc xác định mật độ thích hợp trong trồng rừng có ý nghĩa quan
trọng. Nhằm mục đích xác định mật độ tối ưu cho lâm phần, Nguyễn Ngọc
Lung (1987) trong khi nghiên cứu trên đối tượng rừng thông ba lá Tây
Nguyên, đã sử dụng 3 phương trình kinh nghiệm biểu thị nhu cầu không gian
dinh dưỡng, trong đó dạng phương trình GT = a +p.A ( GT là diện tích hình
chiếu thẳng đứng tán lá, A là tuổi của lâm phần, a và p là các tham số) được
chọn làm cơ sở để xây dựng mô hình mật độ hợp lí. Phương pháp này chỉ phù
hợp cho đối tượng rừng thuần loài [13].
Tác giả Trần Văn Con (1992) đề nghị ứng dụng mô phỏng toán trong
nghiên cứu động thái rừng tự nhiên dựa trên tương quan giữa tổng số cây và
tiết diện ngang của lâm phần rừng khộp, tính toán các tham số phù hợp cho
mỗi dạng cấu trúc để xác định mật độ tối ưu của lâm phần; qua đó cũng cho
biết rằng rừng Khộp Tây Nguyên rất thưa, độ đầy chỉ đạt từ 0,4- 0,7 [4].
Về nghiên cứu hình thái phân bố cây rừng trên mặt đất, Nguyễn Hải
Tuất (1990) [38], Nguyễn Hải Tuất và Ngô Kim Khôi (1994) [39] bằng
phương pháp kiểm tra mức độ sai khác giữa số trung bình khoảng cách từ một
cây được chọn ngẫu nhiên đến cây gần nhất với trị số bình quân lí thuyết, kết
hợp với sử dụng tiêu chuẩn U của phân bố chuẩn tiêu chuẩn đánh giá khi
dung lượng mẫu đủ lớn, xác định hình thái phân bố cây rừng trên mặt đất cho
các trạng thái rừng từ IIA đến IV.
Vận dụng phương pháp trên, Bảo Huy (1990, 1993) dùng phân bố
khoảng cách và kiểm tra bằng tiêu chuẩn U của phân bố chuẩn để xác định
các kiểu phân bố cây rừng trên bề mặt cho các đơn vị phân loại của lâm phần
13
Bằng lăng ở Đắk Lắk [11]. Lê Sáu (1996), áp dụng khi nghiên cứu phân bố
cây ở các lâm phần rừng tự nhiên Kon Hà Nừng [18]. Trần Cẩm Tú (1999) áp
14
kinh doanh rừng mưa” của G. Baur (1964).
Năm 1975, khi phân tích sự phát triển của thảm thực vật thứ sinh,
Whitimore đã nhấn mạnh: khoảng thời gian để các khu rừng tái sinh hạt đạt
được trạng thái là rừng nguyên sinh có thể tới hàng trăm năm. Các khu rừng
thuần loài được tạo thành bởi những loài mà hạt của chúng có thể nảy mầm và
trụ được trên các khu đất trống vào thời điểm thích hợp và cần lợi dụng lớp
cây chồi, xử lý thực bì theo băng rạch tránh phát nắng để sớm tạo hoàn cảnh
rừng. Đặc biệt, các nghiên cứu về kỹ thuật làm giàu rừng cũng tương đối phát
triển, từ những năm 1965 đã nghiên cứu và đưa ra khái niệm làm giàu rừng là
bổ sung các loài cây có giá trị kinh tế vào những nơi rừng đã phục hồi nhưng
thiếu hụt loài cây có giá trị. Đến năm 1989, Han Lamprecht và Aubreulle đã
bổ sung thêm rằng, làm giàu rừng là lựa chọn tối ưu nhất cho lâm phần ban
đầu không đủ loài cây tái sinh có giá trị kinh tế, từ đó đã xây dựng hoàn chỉnh
phương pháp làm giàu rừng theo rạch [10].
Năm 1996, các nghiên cứu của Fedlmaner đã chỉ ra rằng, các nhân tố
ảnh hưởng tới quá trình tái sinh phục hồi rừng chủ yếu là: điều kiện lập địa,
thành phần loài, nguồn cây mẹ gieo giống, … Song đó mới chỉ là nghiên cứ
tổng hợp mà chưa chỉ ra được nhân tố nào ảnh hưởng mạnh mẽ nhất, và chưa
đề cập đến nhóm nhân tố quan trọng là kinh tế xã hội.
Theo J. Wyatt – Smith (1995), làm giàu rừng là sự bổ sung những loài
cây có giá trị kinh tế vào những nơi rừng đã phục hồi lớp cây chư phủ thứ
sinh hoặc cây bụi nhưng thiếu hụt những loài cây có giá trị. Wan Yu Sof
(1998) cũng lưu ý khi chọn loài làm giàu rừng cần quan tâm đến các tiêu chí
như: dễ tạo cây tái sinh, tỷ lệ nảy mầm cao, ra hoa kết quả hàng năm, sinh
trưởng nhanh, đặc biệt thời kỳ đầu, chịu bóng nhẹ lúc non, có khả năng chịu
đựng được sự cạnh tranh các cây khác, tự tỉa cành tốt, … [10].
Ngoài ra, việc phân loại rừng – đối tượng phục hồi là cơ sở quan trọng
cho đề xuất các biện pháp phục hồi. Hiện nay, trên thế giới có 2 quan điểm
loài cây có khả năng tổng hợp Nitơ tự nhiên để giải phóng đất, sau đó chặt bỏ
lớp cây này rồi trồng cây rừng có giá trị. Cùng năm đó, khi nghiên cứ rừng tái
sinh tự nhiên dưới tán rừng khộp ở Easup – Đăclăk, Đỗ Quang Điệp đã đưa
ra kết luận: độ tàn che của rừng, thảm mục, độ dày đặc của thảm tươi, điều
kiện lập địa là những nhân tố ảnh hưởng sâu sắc đến số lượng và chất lượng
cây tái sinh.
Nguyễn Ngọc Lung (1995) và Nguyễn Luyện (1992) đã tiến hành hệ
16
thống các biện pháp kỹ thuật, đồng thời liệt kê được 155 loài cây bản địa cho
việc khoanh nuôi phục hồi rừng. Từ đó, các tác giả đã xây dựng nên quy
phạm khoanh nuôi phục hồi rừng. Đây là công trình đầu tiên ở Việt Nam đề
cập đến một cách hệ thống từ cơ sở khoa học đến quy phạm khoanh nuôi phục
hồi rừng ở Việt Nam. Nghiên cứu này mới chỉ dừng lịa ở việc xây dựng quy
phạm, chưa xây dựng được quy trình khoanh nuôi cụ thể cho từng vùng và
từng loại hình rừng cụ thể.
Nhiều nghiên cứu về khoanh nuôi phục hồi rừng của các tác giả Vũ
Đình Huề (1975), Ngô Văn Trai (1995) đã nghiên cứu quá trình tái sinh thảm
thực vật rừng thông qua việc nghiên cứu số lượng cây tái sinh tự nhiên [22].
Vũ Xuân Đê (1999) đã nghiên cứu và cho rằng: cần thiết phải hỗ trợ tái
sinh tự nhiên bằng tái sinh nhân tạo vì tiêu chuẩn cơ bản để xét đối tượng làm
giàu rừng là tái sinh tự nhiên không đủ khả năng đảm bảo cho rừng phục hồi
với chất lượng và trữ lượng cao [10].
Theo Võ Đại Hải và cộng sự (2003) thì phục hồi rừng trước hết là phục
hồi lại thành phần chủ yếu của rừng là thảm thực vật cây gỗ, là một quá trình
sinh học gồm nhiều giai đoạn và kết thúc bằng sự xuất hiện một thế hệ mới
thảm cây gỗ bắt đầu khép tán. Quá trình phục hồi rừng sẽ tạo điều kiện cho sự
cân bằng sinh học xuất hiện, đảm bảo cho sự cân bằng này tồn tại liên tục và
cũng vì thế chúng ta có thể sử dụng chúng liên tục được.