Giải pháp mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng hộ sản xuất tại NHNN&PTNT Đaon hùng - Pdf 28

Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với sự chuyển đổi nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền
kinh tế thị trường, nền kinh tế nước ta đã có những chuyển biến sâu sắc, căn bản
và toàn diện. Với sự khuyến khích phát triển mọi thành phần kinh tế của Đảng
và Nhà nước đã tạo động lực lớn cho sự phát triển kinh tế xã hội. Cùng với sự ra
đời và phát triển của nhiều loại hình kinh tế khác, lúc này kinh tế hộ sản xuất
mới thực sự khẳng định được mình. Sự phát triển của kinh tế hộ sản xuất đã
mang lại những kết quả to lớn cho nền kinh tế nói chung và lĩnh vực nông
nghiệp nông thôn nói riêng. Từ một nước phải nhập khẩu lương thực, giờ đây
Việt Nam đã trở thành một trong ba nước có sản lượng gạo xuất khẩu lớn nhất
thế giới. Trong tình hình thực tế hiện nay, hộ sản xuất là đơn vị kinh tế chủ yếu
cung cấp các sản phẩm tiêu dùng cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Do đó phát
triển kinh tế hộ sản xuất là yêu cầu cần thiết trong giai đoạn phát triển kinh tế
trước mắt và trong tương lai.
Một trong những yếu tố quan trọng cần thiết cho quá trình phát triển kinh
tế hộ sản xuất là sự trợ giúp về vốn của các ngân hàng thương mại. Với tư cách
là người bạn đồng hành của nông nghiệp và nông thôn, trong những năm qua,
NHNo & PTNT Việt Nam với các chi nhánh của mình đã và đang là kênh
chuyển tải vốn chủ yếu đến hộ sản xuất, góp phần tạo công ăn việc làm giúp
nông dân làm giàu chính đáng bằng sức lao động của mình.
Tuy nhiên do tính chất phức tạp của hoạt động này, món vay nhỏ lẻ, chi
phí nghiệp vụ cao, địa bàn hoạt động rộng nên việc cho vay hộ sản xuất gặp
nhiều khó khăn. Chính vì vậy, thực tế hiện nay nhiều chi nhánh NHNo gặp khó
khăn trong hoạt động tín dụng đối với loại hình naỳ, chất lượng tín dụng còn
nhiều vấn đề chưa tốt. NHNo huyện Đoan Hùng cũng gặp phải khó khăn này.
Vì vậy với kiến thức đã học và qua thời gian thực tập NHNo & PTNT
huyện Đoan Hùng em chọn chuyên đề "Một số giải pháp mở rộng và nâng cao
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
chất lượng tín dụng hộ sản xuất tại NHNo & PTNT Đoan Hùng" với mong

do cá nhân làm chủ hộ, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động sản xuất kinh
doanh của mình.
+ Hộ cá thể, tư nhân làm kinh tế hộ gia đình theo nghị định 29 ngày
29/3/1998.
+ Hộ là thành viên nhận khoán của các tổ chức kinh tế hợp tác, các doanh
nghiệp nhà nước.
+ Các cá nhân là nhóm kinh doanh theo nghị định 66/HĐBT ngày
2/3/1992.
+ Các doanh nghiệp tư nhân hoạt động theo luật doanh nghiệp tư nhân.
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lĩnh vực hoạt động chủ yếu của hộ sản xuất nói trên là các ngành nông,
lâm, ngư nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp ở nông thôn, thị trấn, thị xã
ven đô và thường khi nói đến hộ sản xuất thì người ta thường nghĩ đến hộ nông
dân là chủ yếu vì hộ nông dân chiếm phần lớn dân số cả nước và chiếm đa số
lực lượng lao động trên toàn lãnh thổ.
2. Vai trò của kinh tế hộ sản xuất
a. Kinh tế hộ sản xuất với việc sử dụng hợp lý nguồn lao động, giải quyết
việc làm:
Nguồn lao động là yếu tố cơ bản của lực lượng sản xuất, là một trong
những nguồn lực tác động đến quá trình tái sản xuất xã hội. Nước ta có tới 79%
dân số sống ở nông thôn. Nếu chỉ trông vào nền kinh tế quốc doanh nhà nước
hoặc là thu hút lao động ở các trung tâm thành phố thì khả năng giải quyết việc
làm là rất hạn chế.
Hiện nay ở nước ta nguồn lao động không được sử dụng rất lớn, chiếm
khoảng 25% tổng số lao động, chỉ có 2/3 quỹ thời gian lao động của người dân
nông thôn được sử dụng với 22275600 người trong ngành nông nghiệp. Trong
số này, số người hoạt động trong ngành nông nghiệp hầu hết vẫn nằm trong hộ
sản xuất, chiếm gần 98% các yếu tố sản xuất được sử dụng với hiệu suất thấp và
còn có sự mất cân đối giữa lao động, đất đai, việc làm. Khi được công nhân mỗi

một nhân tố quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của nước ta. Khả
năng hoạt động có hiệu quả của chúng là nhân tố tích cực tạo điều kiện cho nền
kinh tế phát triển. Vì vậy kinh tế hộ sản xuất luôn được sự quan tâm của Đảng,
chính phủ tạo điều kiện để loại hình kinh tế này ngày càng phát triển.
3. Xu hướng phát triển kinh tế hộ sản xuất
Như ta đã biết ở Việt Nam, việc khai thác và sử dụng nguồn nhân lực
đang còn ở mức thấp, hiện nay có khoảng vài triệu lao động chưa được sử dụng
mà chủ yếu là ở nông thôn trong đó chủ yếu nằm trong hộ sản xuất. Sở dĩ ở
nông thôn lực lượng lao động nhàn rỗi lớn là do sản xuất nông nghiệp có tính
chất thời vụ, ngoài một số thời gian dùng cho sản xuất còn lại là thời gian rỗi.
Mặc dù có thừa lao động nhưng khu vực này lại thiếu vốn để sản xuất cho nên
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
không tạo ra được công ăn việc làm, không tạo thu nhập cho hộ gia đình và xã
hội. Mặt khác do thiếu vốn nên các hộ nông dân không đủ tiền để mua phân bón,
phương tiện sản xuất do đó không tăng được năng suất lao động, hiệu quả sản
xuất thấp. Cũng do thiếu vốn nên các hộ sản xuất nói chung không có điều kiện
để mở rộng việc làm, mở mang ngành nghề, hạn chế ứng dụng tiến bộ khoa học
công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm.
Là một thành phần kinh tế trong nền kinh tế hàng hoá nên hộ sản xuất
cũng phải căn cứ vào thị trường để lên phương án sản xuất, kế hoạch kinh
doanh, số lượng sản phẩm, chất lượng sản phẩm, thị trường tiêu thụ, hạch toán
lỗ lãi dựa vào giá cả thị trường...Do tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động
sản xuất và là đơn vị sản xuất nhỏ cho nên hộ sản xuất tỏ ra là một đơn vị rất
nhanh nhạy với sự biến động về nhu cầu của thị trường. Với cơ chế quản lý theo
kiểu gia đình đã làm cho hộ sản xuất dễ dàng tổ chức lại sản xuất, phân công lại
lao động, bắt tay vào sản xuất kinh doanh mặt hàng mà thị trường đòi hỏi một
cách nhanh chóng, dễ dàng thích nghi và nắm bắt các cơ hội thuận lợi để tiến
hành sản xuất kinh doanh đáp ứng nhu cầu thị trường nhằm mang lại lợi nhuận
cao. Trong khi đó, đối với các đơn vị sản xuất lớn với cơ chế quản lý cồng kềnh

nhau. Vì lý do trên tín dụng ngân hàng là hình thức quan trọng nhất trong các
hình thức tín dụng hiện tại và là hình thái tín dụng phổ biến trong nền kinh tế thị
trường.
Tín dụng ngân hàng đối với hộ sản xuất là quan hệ tín dụng giữa một bên
là ngân hàng và một bên là hộ sản xuất. Hình thức tín dụng này đã có từ lâu trên
thế giới nhưng ở Việt Nam nó chỉ thực sự xuất hiện khi có nghị quyết 10 của Bộ
chính trị với sự thừa nhận quyền tự chủ của thành phần kinh tế cá thể. Sau khi
được thừa nhận và cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường kinh tế hộ
sản xuất đã phát triển nhanh chóng và đã đóng góp không nhỏ cho nền kinh tế
nói chung, đặc biệt là lương thực thực phẩm. Có được thành công trên phải nói
đến sự đóng góp không nhỏ của tín dụng ngân hàng đối với kinh tế hộ sản xuất.
Điều này được thể hiện ở vai trò của tín dụng ngân hàng đối với hộ sản xuất.
2. Vai trò của tín dụng ngân hàng trong việc phát triển kinh tế hộ sản
xuất
Ngân hàng đóng một vai trò hết sức quan trọng trong quá trình phát triển
của nền kinh tế hàng hoá. Đối với Nhà nước thì ngân hàng là một công cụ đắc
8
Website: Email : Tel : 0918.775.368
lực, hữu hiệu trong quản lý kinh tế. Đối với các doanh nghiệp, các cá nhân thì
tín dụng ngân hàng là nguồn tài trợ cho sự thiếu hụt tạm thời về vốn sản xuất.
Đặc biệt trong cơ chế quản lý mới hiện nay, Nhà nước đã giao quyền sử dụng
đất lâu dài cho từng hộ sản xuất. Mỗi hộ sản xuất giờ đây đã trở thành một hộ
kinh tế tự chủ, phải tự tính toán mức chi phí bỏ ra, khả năng thu thập, xác định
mức độ vốn cần đầu tư cho sản xuất, khả năng vốn tự có, số vốn cần phải đi vay.
Do đó trong nền kinh tế thị trường, tín dụng ngân hàng có vai trò rất lớn đối với
kinh tế hộ sản xuất. Sau đây là một số vai trò chủ yếu của tín dụng ngân hàng
trong việc phát triển kinh tế hộ sản xuất.
a. Đáp ứng yêu cầu vốn cho hộ sản xuất để duy trì quá trình sản xuất liên
tục, góp phần đầu tư phát triển nền kinh tế.
Trong nền kinh tế thị trường, tại một thời điểm nhất định, hiện tượng tạm

b. Thúc đẩy quá trình tập trung vốn, tập trung sản xuất trên cơ sở đó góp
phần tích cực vào quá trình vận động liên tục của nguồn vốn.
Tại một thời điểm nhất định trong xã hội luôn xuất hiện những nguồn tiền
tạm thời nhàn rỗi của các thành phần kinh tế, đồng thời xuất hiện những tổ chức
kinh tế, cá nhân cần vốn để sản xuất kinh doanh. Nhiệm vụ của các ngân hàng là
tập trung vốn tạm thời nhàn rỗi để cho các đơn vị cá nhân tạm thời đang thiếu
vốn vay. Tuy nhiên quá trình đầu tư tín dụng này không phải là rải đều cho các
chủ thể có nhu cầu về vốn để duy trì, mở rộng sản xuất mà phải thực hiện một
cách tập trung. Ngân hàng chủ yếu tập trung đầu tư tín dụng cho các hộ sản xuất
kinh doanh có hiệu quả, phù hợp với định hướng phát triển kinh tế phát triển của
Đảng và nhà nước nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả kinh doanh của các hộ sản
xuất đó và khuyến khích các hộ kinh doanh có hiệu quả để được ngân hàng cho
vay vốn. Như vậy có thể khẳng định rằng đầu tư tập trung là quá trình tất yếu
vừa hạn chế được rủi ro tín dụng cho các ngân hàng vừa thúc đẩy sự tăng
trưởng kinh tế.
Sau khi chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang
cơ chế thị trường, vai trò tập trung vốn, tập trung sản xuất của tín dụng ngân
hàng đã được thể hiện ở mức độ cao hơn hẳn so với cơ chế kinh tế cũ. Trong cơ
10
Website: Email : Tel : 0918.775.368
chế bao cấp, việc nâng cao hiệu quả huy động vốn và cho vay không phải là mục
tiêu quan trọng nhất đối với ngân hàng. Ngược lại trong cơ chế thị trường, hiệu
quả hoạt động kinh doanh là vấn đề sống còn đối với các ngân hàng cho nên các
ngân hàng phaỉ tìm cách tăng lợi nhuận, giảm rủi ro bằng cách tập trung đầu tư
vào các doanh nghiệp, các hộ sản xuất kinh doanh có hiệu quả.
Như vậy các ngân hàng thương mại với tư cách là một trung gian tài
chính, là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư đã thúc đẩy quá trình tập trung vốn, tập
trung sản xuất trên cơ sở đó góp phần tích cực vào quá trình vận động liên tục
của nguồn vốn.
c. Tín dụng ngân hàng là công tụ tài trợ cho các ngành kinh tế kém phát

được. Như vậy nạn cho vay nặng lãi không những không thúc đẩy sản xuất phát
triển mà còn kìm hãm sản xuất, đẩy nông dân đến chỗ nghèo túng hơn, gây ra
những tiêu cực ở nông thôn.
Đứng trước tình hình trên, ngân hàng đã nắm bắt được thực tế và tiến
hàng cho vay hộ sản xuất tốt hơn. Để tạo điều kiện cho hộ sản xuất tiếp xúc với
vốn vay, ngân hàng tới tận tay các thôn xóm phục vụ nhu cầu vay vốn. Khi
nguồn vốn tín dụng ngân hàng đáp ứng được nhu cầu vốn cho sản xuất, tiêu
dùng của các hộ sản xuất thì nạn cho vay nặng lãi ở nông thôn sẽ không còn cơ
hội để tồn taị. Tín dụng ngân hàng cho vay trực tiếp đến hộ sản xuất cùng với
chế độ lãi suất ưu đãi không chỉ đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất mà còn
khuyến khích người sản xuất chủ động trong đầu tư, đổi mới sản xuất, nâng cao
hiệu quả kinh doanh góp phần làm giàu cho bản thân và xã hội.
Như vậy tín dụng ngân hàng thông qua việc mở rộng cho vay đối với hộ
sản xuất đã góp phần phát triển kinh tế hộ, giải quyết được vấn đề cho vay nặng
lãi ở nông thôn, ngăn chặn được tình trạng một số kẻ có tiền lợi dụng bóc lột
người lao động để thu siêu lợi nhuận.
e. Tín dụng ngân hàng kiểm soát bằng đồng tiền và thúc đẩy sản xuất,
thực hiện chế độ hạch toán kinh tế.
12
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Các ngân hàng thương mại, với tư cách là một trung gian tài chính hoạt
động trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng, thanh toán có khả năng kiểm soát bằng
đồng tiền đối với hoạt động của nền kinh tế thông qua các nghiệp vụ tín dụng,
thanh toán.
Để thực hiện một món vay, cán bộ tín dụng phải nắm bắt được toàn bộ
tình hình sản xuất kinh doanh của hộ có nhu cầu vay vốn như khả năng lao động
, kỹ năng sản xuất, vốn tự có và những biến động của nền kinh tế nói chung như
tình hình vật tư, giá cả, thị trường có liên quan đến các sản phẩm mà các hộ sản
xuất đó đang kinh doanh. Sau khi tiến hành giải ngân cán bộ tín dụng phải thực
hiện kiểm tra xem hộ vay vốn có sử dụng tiền vay đúng mục đích không, kết quả

tính gia đình, các thành viên trong hộ thường có quan hệ huyết thống. Chịu ảnh
hưởng nặng nề của đặc điểm này, các hộ sản xuất thường quen với phương thức
tự cấp, tự túc. Mọi sản phẩm làm ra chỉ để phục vụ cho nhu cầu của chính bản
thân họ và ngược lại họ chỉ tiêu thụ những sản phẩm do bản thân mình làm ra.
Ngoài ra còn có một yếu tố nữa là khiến hộ sản xuất không có khả năng tiếp cận
với nền kinh tế hàng hoá đó là sự hạn chế về vốn sản xuất. Với khả năng vốn tự
có eo hẹp, các hộ sản xuất chỉ có khả năng tổ chức sản xuất ở qui mô nhỏ, chỉ đủ
đáp ứng nhu cầu của bản thân họ.
Cùng với việc mở rộng đầu tư tín dụng cho hộ sản xuất, ngân hàng đã tạo
ra một bước chuyển quan trọng trong phương thức sản xuất của hộ sản xuất.
Như trên đã đề cập, khi được ngân hàng đầu tư tín dụng, hộ sản xuất phải hạch
toán kinh tế sao cho vốn vay được sử dụng có hiệu quả nhất, để tăng thu, giảm
chi nhằm thu được một khoản lợi nhuận đủ lớn để có thể hoàn trả vốn và lãi vay
ngân hàng. Muốn vậy hộ sản xuất phải làm quen với nền sản xuất hàng hoá. Sau
khi mở rộng quy mô sản xuất, sản phẩm sản xuấta ra sẽ vượt quá nhu cầu tiêu
dùng nội bộ của hộ, các hộ sản xuất phải nghĩ tới thị trường để tiêu thụ sản
phẩm mới thu được lợi nhuận. Chính quá trình bán hàng trên thị trường đã giúp
cho hộ sản xuất hình thành những biện pháp tốt nhất để tiếp cận và thích nghi
với thị trường như nâng cao chất lượng sản phẩm, thay đổi các loại cây trồng vật
14
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nuôi phù hợp với nhu cầu thị trường, cải tiến cách thức sản xuất để tiết kiệm vật
tư, giảm chi phí sản xuất nhằm thu lợi nhuận cao nhất.
Như vậy với sự tài trợ vốn của tín dụng ngân hàng, một phần sản phẩm
của hộ sản xuất sẽ trở thành hàng hoá, góp phần làm tăng nguồn hàng hoá trên
thị trường. Mặt khác nhờ có vốn tín dụng ngân hàng, các hộ sản xuất có thể mở
rộng quy mô sản xuất, nhờ đó tính chất sản xuất hàng hoá cũng được tăng lên.
g. Vai trò của tín dụng ngân hàng về mặt chính trị, xã hội:
Tín dụng ngân hàng không những có vai trò quan trọng trong việc thúc
đẩy phát triển kinh tế mà còn có vai trò to lớn về mặt chính trị, xã hội.

lẫn chính trị, xã hội. Để tín dụng ngân hàng đến được với hộ sản xuất, các ngân
hàng phải tự hoàn thiện mạng lưới tổ chức, biện pháp nghiệp vụ của mình để
đáp ứng một cách thuận tiện, kịp thời nhu cầu vốn cho hộ sản xuất, toạ điều kiện
thuận lợi cho hộ sản xuất mở rộng sản xuất kinh doanh. Ngoài những nỗ lực của
bản thân ngân hàng, Nhà nước và các ngành các cấp có liên quan cũng cần phải
xây dựng các chính sách kinh tế phù hợp, tạo môi trường kinh doanh thuận tiện
cho các ngân hàng để quan hệ giữa ngân hàng và hộ sản xuất ngày càng được
mở rộng và có hiệu quả hơn.
3. Quy định cho vay đối với hộ sản xuất của NHNN
0
& PTNT Việt
Nam.
Cho vay hộ sản xuất là hoạt động cung ứng vốn tín dụng chủ yếu của
NHNN
0
& PTNT Việt Nam ở địa bàn nông thôn. Loại cho vay này là cho vay cả
hộ gia đình để làm kinh tế chung của cả hộ. Loại cho vay này có đặc trưng cơ
bản về mục đích sử dụng tiền vay, đối tượng người vay, về tài sản thế chấp và
về hồ sơ vay vốn khiến nó khác hẳn các loại cho vay khác.
- Về mục đích cho vay.
Trong hộ gia đình có thể có nhiều hoạt động kinh tế, nhiều mục đích sử
dụng tiền khác nhau của các thành viên trong hộ. Vì vậy, xác định rõ nội dung
kinh tế của cho vay hộ sản xuất có ý nghĩa quan trọng tránh trường hợp khách
hàng sử dụng vốn sai mục đích, nâng cao chất lượng và đảm bảo an toàn vốn
16
Website: Email : Tel : 0918.775.368
trong lĩnh vực này. Như trên đã nói, mục đích cho vay là cho vay cả hộ gia đình
để làm kinh tế.
- Về đối tượng vay:
Đối tượng cho vay là cả hộ gia đình làm chủ thể trong quan hệ vay vốn do

Website: Email : Tel : 0918.775.368
+ Cho vay từng lần: Phương thức này áp dụng đối với những khách hàng
có nhu cầu vay vốn từng lần, không thường xuyên. Mỗi lần vay vốn, khách hàng
và NHNH
0
làm thủ tục vay vốn cần thiết và ký hợp đồng tín dụng.
+ Cho vay theo hạn mức: Phương thức này áp dụng đối với khách hàng có
nhu cầu vay vốn thường xuyên. Ngân hàng cấp cho khách hàng một quyển sổ
vay vốn. Mỗi lần vay, khách hàng trình sổ vay vốn. Ngân hàng căn cứ vào kế
hoạch sản xuất kinh doanh của hộ để cấp hạn mức. Điều này làm giảm thủ tục
giấy tờ không cần thiết. Những lần vay sau, khách hàng chỉ cần trình sổ vay vốn
và phương án kinh doanh khả thi nếu có.
* Hình thức vay vốn.
Cho vay trực tiếp và cho vay gián tiếp qua tổ vay vốn.
- Cho vay trực tiếp.
+ Đối với hộ vay không phải thế chấp, cầm cố, bảo lãnh khi vay chỉ cần
giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sản xuất kinh doanh .
+ Đối với hộ thực hiện thế chấp, cầm cố, bảo lãnh khi vay vần:
Giấy đề nghị vay vốn.
Dự án, phương án sản xuất kinh doanh.
Hồ sơ đảm bảo tiền vay theo quy định.
- Cho vay qua tổ vay vốn. Ngoài những hồ sơ như trên với từng hộ, phải
có thêm:
+ Biên bản thành lập tổ vay vốn, danh sách các thành viên có xác nhận
của UBND phường xã.
+ Qui ước hoạt động của tổ vay vốn.
+ Hợp đồng dịch vụ vay vốn.
III. CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI HỘ SẢN
XUẤT
1. Khái niệm chất lượng tín dụng ngân hàng đối với hộ sản xuất

Chất lượng tín dụng ngân hàng đối với hộ sản xuất cũng không nằm ngoài
khái niệm chất lượng tín dụng nói chung. Có thể hiểu chất lượng tín dụng ngân
hàng đối với hộ sản xuất là vốn cho vay của ngân hàng được hộ sản xuất đưa
19
Website: Email : Tel : 0918.775.368
vào quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ... tạo ra một số tiền lớn hơn đủ để
hoàn trả gốc và lãi, trang trải chi phí khác và có lợi nhuận, phù hợp các điều kiện
của ngân hàng và của nền kinh tế - xã hội.
2. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng hộ sản xuất
Do mức vốn vay bình quân của hộ sản xuất nhỏ, đa số các hộ sản xuất có
tài sản ít nên những khoản vay ngân hàng phải làm ăn có hiệu quả thì mơí có
khả năng trả nợ ngân hàng. Vì vậy để xem xét chất lượng tín dụng ngân hàng
đối với hộ sản xuất, nói chung ta chỉ quan tâm đến góc độ ngân hàng. Để đánh
giá chất lượng tín dụng đối với hộ sản xuất thường người ta sử dụng những chỉ
tiêu sau:
* Các chỉ tiêu định lượng.
- Chỉ tiêu 1:
Doanh số cho vay BQ 1 hộ =
Chỉ tiêu này phản ánh số tiền vay mỗi lượt của hộ sản xuất. Số tiền càng
cao chứng tỏ hiệu quả cho vay tăng lên, thể hiện mức sản xuất cũng như quy mô
hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ sản xuất tăng lên, thể hiện mức sản xuất
cũng như quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ sản xuất tăng lên.
- Chỉ tiêu 2:
Tỉ lệ dư nợ trung dài hạn HSX =
Tỷ lệ này phản ánh mức độ đáp ứng nhu cầu vốn trung dài hạn của hộ sản
xuất để mở rộng sản xuất trong kinh doanh. Theo đánh giá, tỷ lệ tối thiểu là 30%
tổng dư nợ (mục tiêu của NHNNo & PTNT Việt Nam). Tuy vậy tỷ lệ có thể cao
thấp tùy thuộc nhu cầu vốn trung dài hạn tại địa phương cũng như tín dụng của
từng chi nhánh NHNNo.
Hai chỉ tiêu 1 và 2 phản ánh hiệu quả tín dụng ngân hàng đối với việc

= - Chi phí cho vay HSX
3. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng
Chất lượng tín dụng ngân hàng phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhưng chúng
ta có thể phân thành 3 nhân tố: ngân hàng, khách hàng và môi trường.
a. Nhóm nhân tố từ phía ngân hàng.
21
Website: Email : Tel : 0918.775.368
* Chính sách của ngân hàng:
+ Chính sách của ngân hàng do ban lãnh đạo vạch ra, đó là hệ thống có
liên quan đến việc khuyếch trương hay hạn chế tín dụng để đạt được mục tiêu đã
hoạch định hạn chế rủi ro, đảm bảo an toàn trong kinh doanh tín dụng.
+ Đó là việc tập trung đầu tư, nghiên cứu từng nhóm khách hàng mà
trêncơ sở đó có những chính sách, cách giải quyết đối với từng nhóm khách
hàng nhất định.
Như vậy chất lượng tín dụng phụ thuộc chủ yếu vào việc xây dựng chính
sách tín dụng của ngân hàng .
* Thông tin tín dụng:
Thông tin tín dụng là các thông tin liên quan đến tình hình tài chính cũng
như sản xuất kinh doanh của khách hàng nói chung và hộ sản xuất nói riêng.
Thông tin tín dụng có thể được khai thác trực tiếp từ khách hàng, từ bạn hàng
của khách hàng, từ các cơ quan chuyên thông tin tín dụng trong và ngoài nước.
Số lượng, chất lượng của thông tin tín dụng thu nhập được có liên quan đến mức
độ chính xác trong phân tích tín dụng, thông tin càng đầy đủ nhanh nhạy, chính
xác và toàn diện thì càng tăng cường khả năng phòng ngừa rủi ro do đó chất
lượng tín dụng được nâng cao.
* Quy trình tín dụng:
Quy trình tín dụng bao gồm những quy định cần phải thực hiện trong quá
trình cho vay, thu nợ nhằm đảm bảo an toàn nguồn vốn tín dụng. Nó được bắt
đầu từ khi chuẩn bị cho vay, kiểm tra quá trình cho vay đến khi thu được nợ. Sự
phối hợp nhịp nhàng giữa các bước trong quá trình tín dụng sẽ tạo điều kiện cho

nhiều khía cạnh đa dạng như: chất lượng, giá cả hàng hoá, dịch vụ sản phẩm,
mức độ chiếm lĩnh trên thị trường của sản phẩm, các quan hệ tài chính, vay vốn,
trả nợ với khách hàng, bạn hàng của ngân hàng. Uy tín chỉ được khẳng định và
kiểm nghiệm bằng kết quả thực tế trên thị trường.
Như vậy nhân tố này ảnh hưởng đến khả năng rủi ro do chủ quan của
khách hàng gây nên: rủi ro về đạo đức, về thiếu năng lực, trình độ, kinh nghiệm,
khả năng thích ứng với thị trường... ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng sản xuất
23
Website: Email : Tel : 0918.775.368
kinh doanh của hộ sản xuất, do đó ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng ngân
hàng.
* Năng lực tài chính của khách hàng.
* Phương án vay vốn.
Phương án vay vốn, có khả năng thực thi càng cao thì rủi ro càng thấp khả
năng trả nợ của khách hàng được đảm bảo do đó chất lượng tín dụng cũng được
đảm bảo.
* Đảm bảo cho khoản vay.
Có nhiều loại bảo đảm cho một khoản vay ngân hàng. Tuy nhiên bất cứ
loại bảo đảm nào để được ngân hàng chấp nhận phải cần thoả mãn 3 yêu cầu:
+ Dễ được định giá.
+ Dễ cho ngân hàng quyền được sở hữu hợp pháp.
+ Dễ tiêu thụ hay thuận tiện sử dụng.
Bảo đảm có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp. Trực tiếp khi nó được khách
hàng ký thác để đảm bảo cho chính mình, gián tiếp khi nó được một người
khách ký thác để đảm bảo cho khách hàng, có 3 loại đảm bảo thường được
dùng:
- Cầm cố, chiết khấu thương phiếu.
- Bảo đảm bằng thế chấp tài sản.
- Bảo đảm bằng sự bảo lãnh.
c. Nhóm nhân tố môi trường:

pháp luật và sự hiểu biết của người dân trong vấn đề này.
Nhóm nhân tố môi trường pháp lý này tạo ra một hành lang pháp lý trong
đó quy định rõ quyền hạn và nghĩa vụ của ngân hàng cũng như các hộ sản xuất
gặp một loại rủi ro là "rủi ro pháp lý" có nguyên nhân từ tính không đồng bộ và
ổn định của pháp luật gây ra. Như vậy rõ ràng là môi trường pháp lý ảnh hưởng
lớn đến chất lượng tín dụng.
25

Trích đoạn ĐỊNH HƯỚNG MỞ RỘNG VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HỘ SẢN XUẤT CỦA NHNo & PTNT HUYỆN ĐOAN Giải pháp trước mắt Các giải pháp lâu dà Kiến nghị với nhà nước ( chính phủ)
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status