BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
---------------
NGUYỄN ĐÌNH THÁI
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC
BẢO TỒN CHO CỘNG ĐỒNG TẠI KHU BẢO TỒN
THIÊN NHIÊN XUÂN LIÊN, TỈNH THANH HOÁ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Hà Nội - 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
---------------
NGUYỄN ĐÌNH THÁI
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC
BẢO TỒN CHO CỘNG ĐỒNG TẠI KHU BẢO TỒN
THIÊN NHIÊN XUÂN LIÊN, TỈNH THANH HOÁ
Mặc dù bản thân đã có nhiều cố gắng song trong quá trình thực hiện
khoá luận không tránh khỏi những thiếu xót. Tôi rất mong nhận được những ý
kiến góp ý của các thầy giáo, cô giáo và các bạn đồng nghiệp để bản luận văn
được hoàn thiện hơn.
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 15 tháng 3 năm 2013
HỌC VIÊN THỰC HIỆN
Nguyễn Đình Thái
ii
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
LỜI CẢM ƠN .................................................................................................... i
MỤC LỤC ......................................................................................................... ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ................................................................. iv
DANH MỤC CÁC BẢNG ............................................................................... v
DANH MỤC CÁC HÌNH ................................................................................ vi
ĐẶT VẤN ĐỀ ................................................................................................... 1
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ........................................ 3
1.1. Trên thế giới ............................................................................................... 3
1.2. Tại Việt Nam .............................................................................................. 6
Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU ................................................................................................ 10
2.1. Mục tiêu nghiên cứu................................................................................. 10
2.1.1. Mục tiêu tổng quát ................................................................................ 10
2.1.2 Mục tiêu cụ thể ...................................................................................... 10
4.3. Những thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức trong việc xây dựng,
thực hiện các chương trình giáo dục bảo tồn tại khu vực ( Bảng 4.8) ............ 56
4.4. Đề xuất các chương trình GDBT cho cộng đồng tại KBT ...................... 59
4.4.1. Chương trình GDBT dành cho đối tượng là học sinh, giáo viên ......... 59
4.4.2. Chương trình GDBT dành cho đối tượng là cán bộ công nhân viên
chức nhà nước của các cơ quan, tổ chức đóng gần KBT ............................... 61
4.4.3. Chương trình GDBT dành cho cộng đồng ............................................ 62
KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KHUYẾN NGHỊ ............................................... 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO
iv
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Ký hiệu
Diễn Giải
VCF
Quỹ Bảo tồn rừng đặc dụng Việt Nam
IUCN
Liên đoàn bảo tồn thiên nhiên quốc tế
ENV
Trung tâm giáo dục thiên nhiên
Trung học cơ sở
UBND
Ủy ban Nhân Dân
MTTQ
Mặt trận tổ quốc
HĐND
Hội đồng nhân dân
BTTN
Bảo tồn thiên nhiên
CHDCND
Cộng hoà Dân chủ nhân dân
TNTN
Tài nguyên thiên nhiên
FFI
Tổ chức bảo vệ động thực vật hoang dã quốc tế
PCCCR
Phòng cháy chữa cháy rừng
GD
Giáo dục
HCM
Hồ Chí Minh
KL
Kiểm lâm
v
DANH MỤC CÁC BẢNG
STT
Tên bảng
Trang
4.1
Mô tả các hoạt động có ảnh hưởng tốt tới tài nguyên thiên
Điểm số nhận thức và thái độ theo nghề nghiệp
40
4.7
Các chương trình giáo dục bảo tồn đã thực hiện tại KBT
42
4.8
Những thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức trong việc
56
xây dựng, thực hiện các chương trình giáo dục bảo tồn trong
trường học
4.9
Những thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức trong việc
xây dựng, thực hiện các chương trình giáo dục bảo tồn trong
cộng đồng
58
vi
DANH MỤC CÁC HÌNH
4.1
Các đối tượng khai thác lâm sản trái phép trong KBT bị
32
bắt giữ
4.2
Lễ ra mắt câu lạc bộ bảo tồn đa dạng sinh học trong
45
trường học
4.3
Lịch năm mới và các loại tờ rơi tờ gấp tuyên truyền về
Khu BTTN Xuân Liên
47
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Khu bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Xuân Liên được thành lập năm 2000,
cách thành phố Thanh Hóa 65 km về phía Tây Nam, tiếp giáp với nước
CHDCND Lào và tỉnh Nghệ An. Tổng diện tích tự nhiên 26.303,6 ha, trong
đó 87,8% diện tích có rừng tự nhiên, là nơi có tính đa dạng sinh học cao với
việc thực hiện công tác giáo dục bảo tồn cho cộng đồng tại Khu BTTN Xuân
Liên trong tương lai, góp nâng cao nhận thức cộng đồng, nâng cao hiệu quả công
tác bảo tồn và đồng thời bảo tồn được các giá trị đa dạng sinh học, tài nguyên
của KBT.
3
Chương 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Trên thế giới
Khái niệm GDMT chính thức được sử dụng lần đầu tiên vào năm 1972,
tại Hội nghị toàn cầu lần thứ nhất về Môi trường Nhân văn được tổ chức ở
Stockholm , Thụy Điển (Matarasso, 2004).
GDMT là quá trình nhận ra các giá trị của môi trường, làm rõ khái
niệm để xây dựng những kỹ năng và thái độ cần thiết, giúp hiểu biết và đánh
giá đúng mối tương quan giữa con người với nền văn hóa và môi trường vật
lý xung quanh. GDMT cũng tạo cơ hội cho việc thực hành để ra quyết định và
tự hình thành quy tắc ứng xử trước những vấn đề liên quan đến chất lượng
môi trường (IUCN, 1970).
GDMT là một quá trình phát triển những tình huống dạy/học hiệu quả
giúp người dạy và học tham gia giải quyết những vấn đề môi trường liên quan,
đồng thời tìm ra một lối sống có trách nhiệm và được thông tin đầy đủ (Wigley,
2000).
Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau về GDMT, tất cả đều có một số
đặc điểm cơ bản sau:
- GDMT là một quá trình truyền tải thông tin, kiến thức diễn ra trong
một khoảng thời gian, ở nhiều địa điểm khác nhau, thông qua những kinh
nghiệm khác nhau và bằng những phương thức khác nhau.
- GDMT nhằm thay đổi hành vi
trình thành công hơn là việc chính phủ và các công ty áp đặt các kế hoạch bảo
tồn mà không có sự tham gia của người dân. Kết quả cũng chỉ ra rằng tất cả
các chương trình GDBT nên lấy cộng đồng làm trung tâm. Người dân có thể
tiếp cận các kiến thức bảo tồn thông qua các phương tiện thông tin đại chúng
cũng là một cách hữu ích giúp người dân chủ động tiếp cận với công tác bảo
5
tồn. Một trong những cơ hội tiếp cận tốt nhất để cộng đồng tích cực tham gia
vào công tác bảo tồn đó là để họ tự tiếp cận với các nguồn thông tin, từ đó
tiếp cận và bổ sung vào tài liệu những thông tin mà họ cho là cần thiết.
Nghiên cứu về nhận thức của nam và nữ đối với vấn đề môi trường
đã được nhiều tác giả nghiên cứu tại nhiều địa điểm khác nhau trên thế giới,
tuy nhiên các kết quả có sự khác biệt:
- Engels và Jacobson (2001) khẳng định nhận thức và kiến thức của
nam cao hơn nữ ở Braxin nơi có loài linh trưởng Golden Lion – Tamarin sinh
sống. Tác giả cho rằng nam giới có nhiều cơ hội tiếp cận về sinh học, bảo tồn
nói chung và về loài Sư tử nói riêng hơn nữ giới.
- Rajakaruna (2009), đã khẳng định nam giới có nhận thức tốt hơn nữ
giới về 5 loài Rùa biển đẻ trứng ở ven bờ biển SriLanka.
Nghiên cứu về sự khác nhau trong nhận thức bảo tồn theo các thành
phần dân tộc, Onon (2006) cũng mới chỉ ghi nhận có sự khác biệt trong nhận
thức và thái độ bảo tồn loài Báo tuyết ở Mông Cổ của 5 cộng đồng người.
Qua đó đưa ra nhận định rằng hiểu biết của các dân tộc về tình trạng và sinh
cảnh của chúng ở các mức độ khác nhau là khác nhau, tuy nhiên không lý giải
được sự khác biệt này.
Nghiên cứu về sự khác nhau trong nhận thức bảo tồn theo trình độ
học vấn, Padua (1994) đã chỉ ra rằng có sự khác biệt về nhận thức theo trình
độ học vấn. Chương trình GDMT diễn ra với các học sinh từ lớp 5 đến lớp 8,
nghĩa vụ của cộng đồng dân cư thôn khi được giao rừng có hiệu quả phải tiến
hành các mô hình thử nghiệm đủ lớn, đủ bao quát sự khác nhau về điều kiện tự
nhiên và kinh tế, xã hội, truyền thống, tập quán cho các loại cộng đồng dân
cư.[34].
Khu BTTN Phong Điền đã mạnh dạn xây dựng thí điểm mô hình làng
sinh thái lâm nghiệp tại một số xã vùng đệm của KBT. Kết quả bước đầu rất
đáng khích lệ đó là người dân được hưởng quyền lợi về đời sống vật chất và
tinh thần, từ đó người dân đã tự giác tham gia vào công tác quản lý, bảo vệ
rừng của KBT.
7
Nghiên cứu về đánh giá nhận thức và cơ hội tham gia GDBT của
cộng đồng: Luận văn Thạc sĩ khoa học lâm nghiệp năm 2010 của Nguyễn Thị
Nhài cũng đã đánh giá được nhận thức, cơ hội tham gia GDBT của cộng đồng
theo các nhóm đối tượng là học sinh, người dân địa phương sống gần KBT loài
và sinh cảnh Voọc mũi hếch Khau Ca- tỉnh Hà Giang. Tuy nhiên nghiên cứu
này vẫn chưa đánh giá được nhận thức, cũng như cơ hội tham gia của nhóm đối
tượng rất quan trọng là thợ săn và cán bộ của các cơ quan, tổ chức đóng gần
KBT. Qua đó cũng chưa xây dựng được chương trình GDBT cho các nhóm đối
tượng này.
Nghiên cứu đề xuất các chương trình GDBT tại KBT loài và sinh
cảnh Vượn Cao Vít huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng: Luận văn Thạc sĩ
khoa học lâm nghiệp năm 2012 của Nông Diệu Huế chưa đánh giá được nhận
thức, cũng như cơ hội tham gia của nhóm đối tượng rất quan trọng là thợ săn
và cán bộ của các cơ quan, tổ chức đóng gần KBT. Đồng thời Luận văn cũng
chưa đánh giá được nhận thức bảo tồn của cộng đồng địa phương theo giới,
nghề nghiệp, thành phần dân tộc. Qua đó chưa cung cấp đầy đủ cơ sở khoa
học để đề xuất các chương trình GDBT tại nơi đây. Đề tài chưa có sự đánh
môi trường, giáo dục bảo tồn, song hoạt động vẫn còn đơn điệu và chưa thu
hút được đông đảo cộng đồng tham gia. Một trong số những khu rừng đặc
dụng đi đầu trong lĩnh vực này là VQG Cúc Phương; hiện tại Vườn đã thành
lập được 43 câu lạc bộ bảo tồn tại trường học, đưa nội dung giáo dục bảo vệ
môi trường, bảo vệ rừng vào chương trình học tập chính khoá cho các em học
sinh, với số lượng học sinh tham gia học tập hàng năm lên tới 15.000 lượt.
Ngoài chương trình tại các trường học, Vườn cũng đã triển khai một chương
trình thôn bản tập trung vào đối tượng người lớn tại các cộng đồng dân cư và
chương trình giáo dục du khách cho khách du lịch tới Cúc Phương. Chương
trình giáo dục nhận thức bảo tồn là một phần quan trọng trong chiến lược xây
dựng và phát triển của Vườn quốc gia Cúc Phương. Đây là chương trình được
triển khai sớm nhất và hoạt động lâu nhất ở Việt Nam, chương trình cũng đã
nhận được nhiều sự quan tâm của các tổ chức bảo tồn trong nước và quốc tế.
9
Đây cũng là mô hình để các Khu rừng đặc dụng khác nghiên cứu, áp
dụng và triển khai thực hiện.
Đối với vấn đề đồng quản lý tại Khu BTTN Xuân Liên, tỉnh Thanh
Hoá: Luận văn tốt nghiệp của Phạm Anh Tám (2006), đã đánh giá được một
cách sơ bộ sự tham gia của người dân địa phương vào công tác quản lý, bảo
tồn của KBT qua việc đóng góp ý kiến trực tiếp đối với một số quyết định
liên quan đến quản lý trong một phạm vi nhất định, người dân theo dõi từng
nội dung và chương trình hoạt động của Khu bảo tồn.... Tuy nhiên đề tài chưa
đánh giá được nhu cầu GDBT của các đối tượng khác như: Chính quyền địa
phương, học sinh, giáo viên, cán bộ khu bảo tồn…
Đối với vấn đề GDBT tại Khu BTTN Xuân Liên, tỉnh Thanh Hoá
Sự tham gia của cộng đồng địa phương vào các hoạt động bảo tồn có ý
nghĩa quyết định đến sự thành bại đối với bất kỳ một chương trình bảo tồn
- Đề xuất được các chương trình GDBT cho KBT.
2.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.2.1. Đối tượng nghiên cứu
Là cộng đồng dân cư vùng đệm KBT, bao gồm:
- Người dân từ 18 tuổi trở lên sống tại vùng đệm KBT Xuân Liên, gồm
nông dân và cán bộ công nhân viên chức nhà nước là người dân nơi đây.
- Học sinh cấp II, III tại các trường học thuộc vùng đệm KBT.
- Các cơ quan, tổ chức đóng gần KBT.
2.2.2. Phạm vi nghiên cứu
2.2.2.1. Không gian
- 5 thôn thuộc 5 xã của huyện Thường Xuân, tiếp giáp với KBT (Mỗi
thôn 12 người).
+ thôn Vịn, xã Bát Mọt
+ thôn Lửa, xã Yên Nhân.
+ thôn Minh Ngọc, xã Lương Sơn.
+ thôn Tiến Sơn, xã Xuân Cẩm.
11
+ thôn Hang Cáu, xã Vạn Xuân.
- Học sinh của các trường cấp II của 5 xã (1trường/xã): Bát Mọt,
Lương Sơn, Yên Nhân, Xuân Cẩm, Vạn Xuân (5 học sinh/khối) và Trường
cấp III Cầm Bá Thước, huyện Thường Xuân (30 học sinh/3khối học)
- Các cơ quan, tổ chức đóng gần KBT :
+ Trạm Khí tượng Thủy văn Cửa Đạt (3 người/tổng số 5 cán bộ)
+ Ban quản lý công trình Thuỷ Lợi, Thuỷ điện Cửa Đạt (10 người)
2.2.2.2. Thời gian
Thời gian
12
nghiên cứu thực hiện các hoạt động GDMT đã được tiến hành trong những năm
qua và đã thu được những hiệu quả bước đầu. Tuy nhiên các chương trình này
có hiệu quả chưa thực sự như mong đợi bởi chưa có sự tham vấn cộng đồng
trong việc xây dựng chương trình dẫn đến nội dung, hình thức và phương pháp
GDBT chưa phù hợp với đặc điểm, đặc thù của địa phương theo các vấn đề về
dân tộc, nghề nghiệp, thu nhập, giới tính, đối tượng được tham gia…Đồng thời
cũng chưa đảm bảo được tính bền vững của nó.
- Một chương trình GDBT không chỉ dừng lại ở các hoạt động giáo dục
như: tập huấn nâng cao kỹ năng mà còn có thể là các chương trình truyền thông
nhằm cung cấp thông tin, nâng cao nhận thức,… hoặc các chương trình vận
động chính sách nhằm xóa bỏ những trở ngại về mặt chính sách đối với việc
thực hiện các hành vi bảo tồn.
Một chương trình GDBT cần làm rõ đâu là các hành vi gây ra các vấn đề
bảo tồn/môi trường. Nguyên nhân của các hành vi đó là gì? Do thiếu nhận thức,
kiến thức, kỹ năng, không có thái độ đúng đắn, thiếu lựa chọn hay bị cản trở bởi
các yếu tố kinh tế, tài chính?
Để nghiên cứu, đề xuất được chương trình GDBT cho bất kỳ khu vực nào
cần làm rõ được các nội dung sau: Đặc điểm kinh tế xã hội của cộng đồng liên
quan như thế nào đến GDBT, họ giầu hay nghèo, nghề nghiệp của họ là gì, thành
phần dân tộc như thế nào, phong tục tập quán nơi đây ra sao….Hiện trạng tài
nguyên nơi đây như thế nào, có bị suy giảm hay không, nếu có thì có phải là do
họ chưa có nhận thức, hay nhận thức kém về bảo tồn và ý kiến của họ về các vấn
đề này là như thế nào? Nhận thức bảo tồn của họ như thế nào? Thực trạng
GDBT tại đây như thế nào, nội dung gì đã có, nội dung gì còn thiếu, nội dung gì
hiệu quả và nội dung nào không có hiệu quả. Đồng thời việc thực hiện các
chương trình GDBT tại nơi đây sẽ có thuận lợi gì, khó khăn gì.
phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (Participatory/Rural
14
Appraisal – PRA), với 2 công cụ phổ biến là phỏng vấn bán định hướng và
phỏng vấn định hướng, nhằm đánh giá nhận thức và thái độ của cộng đồng.
Sử dụng phương pháp PRA để phỏng vấn các hộ gia đình, cán bộ thôn xã, học
sinh, cán bộ của các cơ quan tổ chức đóng gần Khu bảo tồn…được lựa chọn
phỏng vấn. Họp bàn với người dân, tổ chức thành các cuộc thảo luận nhóm để
tranh thủ ý kiến của người dân.
*Phỏng vấn bán định hướng
Đề tài đã thực hiện phỏng vấn 60 người với các đối tượng là người dân từ
18 tuổi trở lên sống tại vùng đệm KBT Xuân Liên là nông dân và cán bộ công
nhân viên chức nhà nước là người dân nơi đây. Các cuộc phỏng vấn được thực
hiện trực tiếp tại hộ gia đình hoặc kết hợp trong các cuộc họp thôn bản do cán bộ
KBT tổ chức nhằm thu thập những thông tin về tài nguyên thiên nhiên quanh
khu vực họ sinh sống, nhận thức của họ đối với các vấn đề bảo tồn tại địa
phương.
5 thôn bản thuộc 5 xã được lựa chọn có vị trí tiếp giáp với KBT Xuân
Liên và được đánh giá là tác động đến tài nguyên KBT nhiều nhất. Mỗi thôn
phỏng vấn 12 người được lựa chọn sao cho có sự khác nhau về lứa tuổi, thu
nhập hàng năm, nghề nghiệp, giới tính, trình độ, dân tộc, địa vị xã hội. Những
thông tin trong các cuộc phỏng vấn được ghi chép chi tiết cụ thể vào phiếu
biểu ngay trong thời gian phỏng vấn, những thông tin này được tổng hợp,
phân tích để hỗ trợ những kết quả phỏng vấn định hướng.
Các câu hỏi được thiết kế đơn giản, dễ hiểu, phù hợp với đại đa số đối
tượng được phỏng vấn và nhằm thu thập được tối đa thông tin từ người dân.
Một số nội dung chính trong câu hỏi phỏng vấn bán định hướng như sau:
- Hiểu biết của người dân về KBT như năm thành lập, ranh giới KBT,
+ Phần I: Tìm hiểu kiến thức và nhận thức của người dân về bảo vệ môi
trường và tài nguyên thiên nhiên, KBT Xuân Liên theo các thông tin như năm
16
thành lập, ranh giới,… và mong muốn của người dân đối với công tác bảo
tồn.
+ Phần II: Tìm hiểu về vấn đề quản lý và sử dụng vườn rừng.
+ Phần III: Đánh giá tác động của người dân địa phương đối với tài
nguyên thiên nhiên, việc thành lập KBT có ảnh hưởng và tác động như đến
lợi ích, cuộc sống của người dân.
+ Phần IV: Những thông tin về đối tượng được phỏng vấn theo độ tuổi,
thu nhập, trình độ học vấn, giới tính, dân tộc, nghề nghiệp….
- Cách chấm điểm: Về nhận thức, thái độ của người dân với các vấn đề
môi trường và KBT được cho điểm tuỳ theo loại câu hỏi. Với dạng câu hỏi
đóng được tính 1 điểm cho mỗi câu trả lời đúng và 0 điểm cho mỗi câu trả lời
sai hoặc không biết đáp án. Mức độ về nhận thức, thái đội với tài nguyên
được chia làm 2 cấp, trong đó quy định 1 điểm cho người có thái độ rất tích
cực và 0 điểm cho người không quan tâm đến vấn đề. Sau đó sẽ cộng tổng số
điểm của từng phiếu, điểm tối đa cho mỗi phiếu là 22 điểm, phiếu nào được
11 khi đó người trả lời được cho là có hiểu biết khá đầy đủ và nhận thức tốt
về các vấn đề nêu ra (Chi tiết theo phần phụ lục).
2.4.2.4.Phương pháp đánh giá các tác động gây ảnh hưởng đến tài nguyên
môi trường và nguyên nhân
Sau khi đã có kết quả về nhận thức và thái độ của người dân đối với tài
nguyên, tiến hành phân loại các hoạt động này ra làm 2 loại chính là các hoạt
động ảnh hưởng tốt và các hoạt động ảnh hưởng xấu đến tài nguyên. Những
hoạt động ảnh hưởng tốt đến tài nguyên là những hoạt động không làm ảnh
hưởng đến tính bền vững của tài nguyên như không gây ra ô nhiễm, suy thoái,
thức cho việc thực hiện các hoạt động GDBT tại KBT Xuân Liên.
Cách thực hiện: Thiết lập một bảng gồm bốn ô, tương ứng với bốn yếu
tố của mô hình SWOT là thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức.
Thuận lợi
Khó khăn
Cơ hội
Thách thức
Trong mỗi ô, nhìn nhận lại từ các phân tích ở các nội dung khác của đề
tài, từ tài liệu, tình hình thực tế tại khu vực nghiên cứu đưa ra các đánh giá
dưới dạng gạch đầu dòng một cách rõ ràng, không bỏ sót trong quá trình
thống kê.
2.4.2.6. Phương pháp ma trận xếp hạng lựa chọn
Là công cụ giúp đưa ra các giải pháp thay thế các hành vi, thói quen ảnh
hưởng tiêu cực đến tài nguyên KBT, nhằm góp phần cải thiện đời sống và
giảm sức ép lên tài nguyên.