Đánh giá hiệu quả một số mô hình khuyến lâm trồng cây lâm sản ngoài gỗ (ba kích, mây nếp, tre bát độ) tại tỉnh quảng ninh, giai đoạn 2006 2011 - Pdf 43

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

NGUYỄN VĂN KIÊM

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ MỘT SỐ MÔ HÌNH KHUYẾN LÂM
TRỒNG CÂY LÂM SẢN NGOÀI GỖ (BA KÍCH, MÂY NẾP,
TRE BÁT ĐỘ) TẠI TỈNH QUẢNG NINH, GIAI ĐOẠN 2006 - 2011

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

Hà Nội, 2013


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

NGUYỄN VĂN KIÊM

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ MỘT SỐ MÔ HÌNH KHUYẾN LÂM
TRỒNG CÂY LÂM SẢN NGOÀI GỖ (BA KÍCH, MÂY NẾP,
TRE BÁT ĐỘ) TẠI TỈNH QUẢNG NINH, GIAI ĐOẠN 2006 - 2011

Chuyên ngành: Quản lý bảo vệ tài nguyên rừng
Mã số: 60 62 02 11

liệu ngoại nghiệp phục vụ cho luận văn.
Tôi xin cam đoan số liệu dẫn chứng là trung thực, các kết quả nghiên cứu là
của riêng tôi và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu
nào khác.
Hà nội, ngày 5 tháng 6 năm 2013
Tác giả
Nguyễn Văn Kiêm


ii
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn ......................................................................................................... i
Mục lục .............................................................................................................. ii
Danh mục các từ viết tắt.................................................................................... v
Danh mục các bảng .......................................................................................... vi
Danh mục các hình .........................................................................................vii
ĐẶT VẤN ĐỀ ................................................................................................... 1
Chương 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU .............................. 3
1.1. Khái niệm và một số định nghĩa về khuyến lâm .................................... 3
1.2. Lịch sử và hoạt động khuyến nông khuyến lâm ở trên thế giới và ở
Việt Nam ....................................................................................................... 3
1.2.1. Lịch sử và hoạt động khuyến nông khuyến lâm trên thế giới........ 3
1.2.2. Lịch sử và hoạt động khuyến nông khuyến lâm ở Việt Nam ...... 10
1.3. Về khuyến lâm ..................................................................................... 16
1.4. Nhận xét, đánh giá chung ..................................................................... 17
Chương 2. MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU ................................................................................................ 19
2.1. Mục tiêu nghiên cứu............................................................................. 19

4.2.2 Đánh giá kết quả chuyển giao ........................................................ 60
4.3. Đánh giá tác động của một số mô hình Mây nếp, tre Bát độ, Ba kích tại
tỉnh Quảng Ninh, giai đoạn 2006 – 2011. ................................................... 69
4.3.1. Tác động về xã hội ........................................................................ 69
4.3.2. Tác động tới phát triển kinh tế - xã hội ......................................... 74
4.4. Phân tích thuận lợi, khó khăn trong xây dựng các mô hình khuyến lâm... 76
4.4.3. Cơ hội: ............................................................................................... 83


iv
4.4.4. Thách thức ..................................................................................... 84
4.5. Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác
xây dựng mô hình khuyến lâm và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trong lâm
nghiệp, làm cơ sở nhân rộng ....................................................................... 84
4.5.1. Giải pháp về tổ chức thực hiện hoàn thiện bộ máy khuyến nông . 84
4.5.2. Giải pháp về phát triển nguồn lực con người................................ 85
4.5.3. Giải pháp về kỹ thuật .................................................................... 86
4.5.4. Giải pháp về chính sách ................................................................ 86
4.5.5. Giải pháp về cách thức triển khai ................................................. 87
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ......................................................................... 93
1. Kết luận ................................................................................................... 93
2. Kiến nghị ................................................................................................. 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO


v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Ký hiệu

TT


Chiều cao vút ngọn

6

KNKL

Khuyến nông khuyến lâm

7

LSNG

Lâm sản ngoài gỗ

8

NL

Nguyên liệu

9

NLKH

Nông lâm kết hợp

10

TBKT


Ủy ban nhân dân

16

DNNN

Doanh nghiệp nhà nước

17

TNHH

Trách nhiệm hữu hạn

18

KTXH

Kinh tế xã hội

19

KNQG

Khuyến nông quốc gia

20

NSTW

3.2

Hiện trạng đất lâm nghiệp phân theo 3 loại rừng

35

3.3

Phân loại đất lâm nghiệp theo chủ quản lý

37

3.4

Giá trị sản xuất lâm nghiệp phân theo ngành lâm nghiệp

42

4.1

Thông tin về đối tượng điều tra đánh giá

43

4.2

Định mức triển khai xây dựng mô hình

48


4.8

Nhận thức của người dân khi có mô hình khuyến lâm

70

4.9

Nhân rộng mô hình khuyến lâm

72


vii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Tên hình

TT

Trang

2.1

Sơ đồ các nội dung đánh giá

21

4.1

Tổ chức thăm quan, hội thảo đầu bờ.

Mô hình khuyến lâm

66

4.7

Mô hình đại trà

66

4.8

Biểu đồ so sánh Hvn loài cây tre Bát độ tuổi 3 giữa hai loại mô hình

66

4.9

Biểu đồ so sánh trọng lượng măng loài cây tre Bát độ tuổi 3

66

giữa hai loại mô hình
4.10 Mô hình khuyến lâm

67

4.11 Mô hình đại trà

67

bảo vệ rừng cho 80% hộ nông dân; Thu hút 50% thành phần kinh tế khu vực
tư nhân và các tổ chức đoàn thể tham gia các hoạt động khuyến lâm; Bố trí ít
nhất một cán bộ khuyến lâm chuyên trách hoặc kiểm lâm cho mỗi xã nhiều
rừng và tăng cường năng lực cho hệ thống khuyến lâm tự nguyện; Cải tiến và
cập nhật nội dung, phương pháp khuyến lâm để phù hợp với trình độ của
nông dân, đặc biệt hộ nghèo và dân tộc ít người; Xây dựng mối liên kết giữa
hệ thống khuyến lâm và đào tạo với các chủ rừng và doanh nghiệp chế biến
lâm sản.
Từ những nhiệm vụ trong Chiến lược phát triển lâm nghiệp giai đoạn
2006-2020, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã phê duyệt Đề án phát
triển khuyến lâm giai đoạn 2008-2010 và định hướng đến năm 2020 với mục
tiêu trung hạn là: Phát triển nguồn nhân lực cho đội ngũ làm công tác khuyến
lâm từ Trung ương đến thôn bản, ưu tiên cho khuyến lâm cơ sở; thúc đẩy quá
trình chuyển giao các kết quả nghiên cứu cho nông dân; Tăng cường đào tạo,
huấn luyện và nâng cao nhận thức cho các chủ rừng; Phát triển tổ chức và
tăng cường xã hội hoá công tác khuyến lâm.


2
Trong những năm qua Nhà nước có nhiều chính sách phát triển kinh tế
xã hội, có liên quan đến phát triển lâm nghiệp như các chương trình 327, 661,
135, 134, 30a,… Với mục tiêu xóa đói giảm nghèo nhanh và bền vững cho
miền núi, thông qua nhiều phương pháp tiếp cận chuyển giao tiến bộ khoa học
kỹ thuật khác nhau trong đó nhiều mô hình khuyến lâm đã được triển khai xây
dựng ở các địa phương. Kinh phí cho hoạt động khuyến lâm ngày càng tăng,
tính từ 2006 - 2011 đã có trên 98 tỷ đồng từ kinh phí khuyến lâm trung ương
được đầu tư triển khai cho các mô hình khuyến lâm tại địa phương. Trong đó
tỉnh Quảng Ninh được đầu tư với kinh phí là 3,35 tỷ đồng cho các mô hình
khuyến lâm đặc biệt là mô hình trồng cây lâm sản ngoài gỗ. Tuy nhiên, hiện
nay chưa có một công trình nghiên cứu đánh giá nào một cách có hệ thống và

Ngày 01/9/1919, Luật Lâm nghiệp đã có hiệu lực và Ủy ban Lâm nghiệp
(Khuyến lâm) được thành lập, chịu trách nhiệm về rừng ở Anh, Scotland,
Wales và Ireland. Toàn bộ tổ chức thành mười phòng với 29 nhân viên cấp
trung ương và cấp huyện và 110 kiêm lâm viên.
Sau 10 năm đã có 152 khu rừng được quản lý với diện tích khoảng
600.000 mẫu Anh và hơn 138,000 mẫu Anh đã được trồng.
Năm 1939, Ủy ban Lâm nghiệp tách thành Cục Kiểm lâm, và Cục


4
Khuyến lâm. Sau 90 năm hệ thống khuyến lâm được thành lập, hoạt động
khuyến lâm đã góp phần nâng tỷ lệ che phủ rừng của toàn nước Anh lên 5%,
hiện có khoảng 2.982.000 ha, chiếm 13% diện tích đất của nước Anh [17]).
1.2.1.2. Nhật Bản
Hoạt động khuyến nông lâm của Nhật Bản được hình thành và đi vào
hoạt động từ những năm 1900. Lúc đầu khuyến nông lâm được thực hiện bởi
các trường học và các trang trại của chính phủ thông qua việc tiến hành thử
nghiệm và đưa các công nghệ mới vào sản xuất. Cùng với sự phát triển của
nông nghiệp, lâm nghiệp hoạt động khuyến nông lâm ở Nhật đã được chính
thức hóa bằng pháp luật và đội ngũ cán bộ khuyến nông, khuyến lâm được
xây dựng và củng cố. Các giai đoạn tiếp theo, do sự cải cách hệ thống xã hội,
nông dân đã buộc phải áp dụng các hướng dẫn kỹ thuật và kiến nghị của cán
bộ khuyến nông lâm - được gọi là "Khuyến nông bắt buộc". Đến năm 1948,
dịch vụ khuyến nông chính thức được khôi phục tại Nhật Bản với tên gọi là
“Dịch vụ Khuyến nông Hợp tác xã” và phát triển đến nay.
Dịch vụ khuyến nông tại Nhật Bản có ba vai trò chính: (1) là để cải thiện
kỹ thuật sản xuất nông lâm nghiệp, (2) là cải thiện các tiêu chuẩn sống của
cộng đồng dân cư ở các vùng nông thôn và (3) là giáo dục thế hệ trẻ ở nông
thôn.
Hệ thống tổ chức: Bộ Lâm nghiệp, Nông nghiệp và Thủy sản (MAFF)

với khoảng 3.050.150 hội viên.
1.2.1.4. Ấn Độ
Hội khuyến nông Ấn độ được thành lập năm 1820 (William Carey khởi
sướng) và đề xuất cải tiến ngành Nông nghiệp. Cục Lâm nghiệp Hoàng gia
được thành lập ở Ấn Độ vào năm 1864. Lâm luật được thông qua năm 1865,
lúc đó Luật này chỉ đơn giản là thiết lập ranh giới chủ rừng, đến 1878 nó được
bổ sung và hoàn thiện. Hệ thống khuyến nông lâm Ấn Độ được thành lập


6
tương đối sớm vào năm 1960. Trong những năm 1970, Ấn Độ tuyên bố chiến
lược dài hạn cho phát triển lâm nghiệp với mục tiêu: giảm xói mòn đất và lũ
lụt, cung cấp cho nhu cầu ngày càng tăng của các sản phẩm ngành công
nghiệp gỗ trong nước và cung cấp các nhu cầu chất đốt của của dân cư nông
thôn, gỗ nhỏ, rừng sản xuất. Ủy ban Quốc gia về Lâm nghiệp được thành lập
năm 1976, các sở lâm nghiệp được tổ chức lại. Thành lập Ủy ban lâm nghiệp
xã hội, với mục tiêu thúc đẩy các hoạt động lâm nghiệp truyền thống và phát
triển rừng cộng đồng thông qua các hoạt động của cơ quan lâm nghiệp cộng
đồng chịu trách nhiệm các trang trại lâm nghiệp, quản lý gỗ, khuyến lâm,
trồng rừng.
Trong năm 1980, lâm nghiệp xã hội được khuyến khích bởi các cơ quan
lâm nghiệp cộng đồng. Chính sách lâm nghiệp quốc gia được phê duyệt năm
1988. một trong những chính sách đó là Chương trình quản lý rừng, trong đó
gắn trách nhiệm cụ thể cho Bộ Lâm nghiệp, từ quản lý các lô rừng cụ thể. Đặc
biệt, việc bảo vệ rừng là trách nhiệm của người dân. Đến năm 1992, mười bảy
tiểu bang của Ấn Độ tham gia vào quản lý rừng. Năm 2006, Luật chủ rừng
được ban hành [19].
1.2.1.5. Trung Quốc
Hệ thống khuyến nông khuyến lâm Trung Quốc được thành lập năm
1970 nhưng công tác đào tạo khuyến nông Trung Quốc rất được quan tâm.

phủ và khu vực tư nhân với mục tiêu là lợi ích tốt nhất của các nhà sản xuất,
người nông dân. Hoạt động khuyến nông lâm tại Campuchia sử dụng phương
pháp tiếp cận phát triển hệ thống canh tác qui mô trang trại, đào tạo và
khuyến nông có sự tham gia và cách tiếp cận mở rộng. Trong đó tập trung vào
(i) Lập kế hoạch và đánh giá có sự tham gia, (ii) Phát triển công nghệ có sự
tham gia; (iii) Đào tạo và mở rộng; (iv) Phát triển mở rộng và phổ biến tài
liệu; (v) Phát triển các tổ chức nông dân [11].


8
1.2.1.7. Inđônêsia
Là một nước có nền nông nghiệp tương đối phát triển trong khu vực.
Trung tâm khuyến lâm (thuộc Bộ Lâm nghiệp) quản lý các vấn đề liên quan
đến hoạt động khuyến lâm từ các dịch vụ đến phát triển lâm nghiệp bền vững.
Theo tác giả Nur Hidayat (2009) [18], hiện nay Inđônêsia có trên 30.000 cán
bộ khuyến nông, trong đó có trên 5.200 khuyến lâm viên.
1.2.1.8. Malaysia
Khi nghiên cứu về hoạt động khuyến nông lâm của Malaysia, tác giả Hà
Thanh Tùng (2011)[14] cho biết hình thức triển khai hoạt động khuyến nông
lâm của Malaysia được tổ chức dưới dạng dự án theo các chuyên ngành và
khu vực riêng theo hình thức tư vấn cho trưởng làng/bản hoặc người đứng đầu
doanh nghiệp. Mở các lớp tập huấn cũng được chú trọng trong hoạt động
khuyến nông lâm của Malaysia với các khóa tập huấn mang tính quốc gia, cấp
tỉnh, cấp huyện, cấp xã và theo từng chuyên đề. Hình thức tập huấn chủ yếu là
"đạo tạo tại hiện trường" và "cầm tay chỉ việc". Về nội dung hoạt động khuyến
nông lâm của Malaysia tập trung vào tuyên truyền, giáo dục và đào tạo các kỹ
thuật liên quan đến giấp chứng nhận an toàn vệ sinh thực phẩm như GAP,
GMP, truy xuất nguồn gốc, và trang trại hữu cơ.
1.2.1.9. Myanmar
Là đất nước nông nghiệp đóng góp 45,1% GDP, hoạt động khuyến nông

trường Đại học quốc gia Viêng Chăn, các cán bộ cấp cao đều được sự hỗ trợ
đào tạo tại Đại học Lâm nghiệp Việt Nam, Viện khoa học Lâm nghiệp Việt
nam.
1.2.1.12. Thái Lan
Thái Lan là quốc gia nông nghiệp với trên 60% dân số sống bằng nghề
nông nghiệp. Điều kiện đất đai, khí hậu nóng ẩm gần tương đồng Việt nam.
Thái Lan là quốc gia hoạt động khuyến nông lâm khá tiêu biểu. Hệ thống


10
khuyến nông nhà nước được thành lập năm 1967.
Hiện Thái lan có 3 tổ chức chính hoạt động có liên quan đế khuyến lâm,
đó là Cục lâm nghiệp Hoàng gia, Hội nông dân, Hội phát triển cộng đồng. Hoạt
động khuyến lâm được thực hiện và chỉ đạo bởi các Phòng lâm nghiệp Quốc
gia, bao gồm 21 cơ quan cấp vùng và 72 cơ quan cấp tỉnh.
Cán bộ khuyến lâm của Thái lan chủ yếu được đào tạo từ Trường Đại
học Kasetsart và Trung tâm Đào tạo Lâm nghiệp cộng đồng RECOFTC.
1.2.2. Lịch sử và hoạt động khuyến nông khuyến lâm ở Việt Nam
1.2.2.1 Trước năm 1993
Cùng với sự phát triển khuyến nông trên thế giới, khuyến nông Việt
Nam hình thành, phát triển.
Tác giả Nguyễn Chí Hải [8] khi nghiên cứu về lịch sử tư tưởng kinh tế
Việt Nam thời kỳ phong kiến cho biết với tư tưởng trọng nông là tư tưởng chủ
đạo và chính sách khuyến nông của nhà nước phong kiến. Các triều đại phong
kiến Việt Nam đã có nhiều biện pháp để khuyến khích nông nghiệp phát triển,
từ việc khuyến khích khai hoang mở rộng diện tích, thực hiện chính sách
"Ngụ binh ư nông", miễn giảm thuế cho nông dân những năm mất mùa hay
sau khi kết thúc các cuộc chiến tranh giữ nước để nuôi dưỡng sức dân, cho
đến việc nhà vua cày ruộng "tịch điền", làm lễ trừ sâu, lễ tế côn trùng, xem
gặt lúa,... Đều nói lên sự quan tâm thường trực của nhà nước phong kiến đối

hoá, mùa màng bội thu, nông nghiệp được phục hồi và nông dân an cư lạc
nghiệp [3].
- Vua Gia Long (1802 – 1820), sau khi thống nhất đất nước, đã sửa sang
việc triều chính, định binh chế, quan chế, tài chính, đinh điền nông nghiệp,
công vụ, pháp luật, học hành, ngoại giao,… Gia Long là một vị vua coi trọng
khá toàn diện đến nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Ông đã khoan thư sức
dân (giảm thuế); giữ gìn và mở rộng diện tích, cải tạo đất canh tác nông


12
nghiệp (cấm bán công điền, công thổ; đào sông, thuỷ lợi, trị thuỷ, khai hoang
phục hoá); có chiến lược an ninh lương thực (lập kho dự trữ để cấp phát cho
dân khi mất mùa, đói kém),…
Từ 1820 - 1840, triều đại của Minh Mạng, năm 1821, dựng lại Quốc Tử
Giám, mở thi hội và thi đình. Thực thi các chính sách khuyến nông, tìm hiểu
kỹ thuật đóng tàu của châu Âu.
- Tác giả Lê Sỹ Trung (2010) [12] cho biết vào tháng 4 năm 1945, Hồ
Chủ Tịch trong lễ bế giảng khóa chỉnh huấn cán bộ tại Việt Bắc, Người đã
căn dặn: “Các chú ra về phải làm tốt công tác khuyến nông, ra sức phát triển
nông nghiệp, chống giặc đói, diệt giặc dốt”.
- Năm 1955-1956 chúng ta thực hiện cải cách ruộng đất, thực hiện khẩu
hiệu “Người cày có ruộng”. Đây là cuộc cách mạng lớn chưa từng có trong
lịch sử nông nghiệp nước ta. Chúng ta đã tịch thu hơn 81 vạn ha ruộng đất của
địa chủ,…, 106.448 trâu bò cùng với 1.846.000 nông cụ chia cho 2.104.158
hộ nông dân và nhân dân lao động (72,8% hộ nông thôn miền Bắc). Kết quả
này đã tạo điều kiện và khích lệ nông dân ra sức tăng gia sản xuất.
- Năm 1960 ở miền Bắc thành lập các Hợp tác xã sản xuất nông nghiệp
(HTX) bậc thấp, năm 1968 HTX bậc cao, năm 1974 HTX toàn xã. Tổ chức
HTX sản xuất nông nghiệp vào giai đoạn này có một ý nghĩa lịch sử lớn lao.
Tổ chức HTX sản xuất nông nghiệp nông dân “Cùng làm cùng hưởng” đã

Chính vì vậy ngày 5/4/1988, Bộ chính trị BCH TW Đảng khóa V ra Nghị
quyết 10: “Cải tiến quản lý kinh tế trong nông nghiệp”, còn gọi là “Khoán
10”. Nghị quyết 10 được thực hiện và hoàn thiện vài năm sau đó đã chuyển
đổi hẳn cơ chế quản lý kinh tế trong nông nghiệp. Ruộng đất giao cho nông
dân quản lý lâu dài 20 năm đối với đất nông nghiệp, 50 năm đối với đất lâm
nghiệp. Chuyển đổi từ cơ chế sản xuất tập thể tự cung tự cấp, sản xuất theo kế
hoạch hóa Nhà nước sang sản xuất kinh tế hộ gia đình và trang trại. Người


14
nông dân chủ động sản xuất kinh doanh trên mảnh đất, ao hồ, chuồng trại của
mình theo hướng nông nghiệp hàng hóa có sự điều tiết của Nhà nước. Nông
nghiệp của đất nước có cơ hội ngày càng phát triển mạnh.
- Năm 1992, Để điều phối và lãnh đạo công tác khuyến nông trên toàn
quốc, Bộ Nông nghiệp thành lập “Ban điều phối Khuyến nông”. Do nhu cầu
bức xúc từ thực tế sản xuất, ngày 2/3/1993, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành
Nghị định số 13/NĐ-CP về việc thành lập hệ thống Khuyến nông, Khuyến
lâm, Khuyến ngư.
1.2.2.2. Sau năm 1993
Ngày 02 tháng 3 năm 1993, Chính phủ ban hành Nghị định 13/NĐ-CP
về công tác khuyến nông (bao gồm nông, lâm, ngư nghiệp). Hệ thống khuyến
nông - khuyến ngư Việt Nam chính thức hình thành. Ở Bộ Nông nghiệp &
PTNT, Cục Khuyến nông - Khuyến lâm vừa làm nhiệm vụ quản lý nhà nước
vừa làm nhiệm vụ khuyến nông về lĩnh vực trồng trọt và chăn nuôi. Việc một
đơn vị đồng thời làm nhiệm vụ quản lý nhà nước và dịch vụ công tỏ ra nhiều
bất cập. Chính vì vậy, ngày 18 tháng 7 năm 2003 Chính phủ ban hành Nghị
định 86/NĐ-CP, cho phép tách Cục Khuyến nông - Khuyến lâm thành hai đơn
vị trực thuộc Bộ Nông nghiệp và PTNT là Cục Nông nghiệp và Trung tâm
Khuyến nông Quốc gia.
Đến năm 2007, trên cơ sở Chính phủ hợp nhất Bộ Nông nghiệp và PTNT

Trung tâm Khuyến nông, Khuyến ngư tỉnh với tổng số 2.754 người.
Ở cấp huyện: hiện nay, hầu hết các huyện trên cả nước có Trạm Khuyến
nông huyện trực thuộc Trung tâm Khuyến nông tỉnh hoặc UBND huyện với
tổng số 4.600 người.
Ở cấp xã: Đa số các xã có cán bộ khuyến nông xã với tổng số 10.543 người.
Ở cấp thôn, bản: Hiện cả nước có 15.749 khuyến nông viên thôn, bản.


16
Một số tỉnh có lực lượng khuyến nông viên thôn, bản tương đối đầy đủ như
Hà Giang, Quảng Ninh , Sơn La, Lai Châu.
1.3. Về khuyến lâm
Từ năm 1993 - 1995, ở Trung ương bộ phận khuyến lâm được thành lập
thuộc Vụ Lâm sinh thuộc Bộ Lâm nghiệp, từ năm 1996 đến năm 2000 thành
lập phòng Khuyến lâm trực thuộc Cục Khuyến nông khuyến lâm. Từ năm
2001 đến năm 2004 thành lập phòng Khuyến lâm trực thuộc Cục Phát triển
lâm nghiệp [6], từ năm 2005 đến năm 2010 thành lập phòng Khuyến lâm
thuộc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia.
Ở địa phương: trong 63 tỉnh thành, chỉ có một số tỉnh thành lập phòng Khuyến
lâm trực thuộc Trung tâm Khuyến nông tỉnh. Mỗi Trung tâm chỉ có từ 1-2 cán bộ
được đào tạo lâm nghiệp trong tổng số 20-25 cán bộ khuyến nông.
Theo số liệu báo cáo ở Trung ương chỉ có 4/73 người, cấp tỉnh có
96/1431 người, cấp huyện 295/2813 người, khuyến nông viên xã
1.942/15.362 người được đào tạo về lâm nghiệp. Xét về mặt số lượng cán bộ
khuyến lâm chỉ chiếm khoảng 10% tổng số cán bộ khuyến nông chuyên trách.
Do vậy hệ thống khuyến lâm vừa thiếu về số lượng và yếu về chất lượng do
cán bộ khuyến lâm đa phần được được đào tạo sâu về chuyên ngành, thiếu
kiến thức liên ngành và các kiến thức khuyến lâm cơ bản.
Kinh phí hoạt động cho hoạt động khuyến lâm nằm trong kinh phí cấp
theo các chương trình khuyến nông được phê duyệt.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status