Bộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI BÌNH
Bộ YTÉ
HOÀNG THỊ THƠM
TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG, THIẾU MÁU,
THIÊU KẼM VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
Ở PHỤ NỮ TUÓI SINH ĐẺ TẠI 4 XÃ, TỈNH
NAM ĐỊNH NĂM 2015
LUẬN VĂN THẠC sĩ DINH DƯỠNG
THÁI BÌNH 2017
HOÀNG THỊ THƠM
Bộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI BÌNH
Bộ YTÉ
TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG, THIẾU MÁU,
THIẾU KẼM VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
Ở PHỤ NỮ TUỐI SINH ĐẺ TẠI 4 XÃ, TỈNH
NAM ĐINH NĂM 2015
LUẬN VĂN THẠC sĩ DINH DƯỠNG
Mã số
Thải Bình, ngày 01 tháng 06 năm 2017
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Hoàng Thị Thơm
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện. Các số
liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ
công trình nào khác.
nn r
• *?
Tác giá
Hoàng Thị Thơm
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MUC BẢNG
Bảng 3.1:
Báng 3.2:
Bảng 3.3:
Bảng 3.4:
Tỷ lệ phụ nữ thicu năng lượng trường dien và thừa cân, bco
10
BẢNG DANH MUC VIẾT TẮT
Ị
BMI
CBCC
CC/T
CED
CN/T
Body mass index :Chỉ số khối cơ thể Cán bộ công chức
cs
Chiều cao theo tuổi
ĐH
Chronic Energy Deficiency: Thiếu năng lượng trường diễn
ĐVCDD
Cân nặng theo tuồi Cộng sự Đại học
Hb
SDD
Phụ nữ có thai
SKCD
Suy dinh dường
SL
Sức khỏe cộng đồng
THCS
Số lượng
THPT
Trung học cơ sở
TTDD
Trung học phố thông
TTGDDD
Tình trạng dinh dưỡng
TX
Việt Nam [31]. Thiếu máu, thiếu vi chất gây giảm phát triển thể lực, giảm khả
năng đáp ứng miền dịch, làm tăng tỷ lệ mắc bệnh nhiễm trùng, làm tăng tỷ lệ sáy
thai, cũng như khả năng lao động ớ người trưởng thành. Hiện nay tình trạng dinh
dưỡng của phụ nữ tuổi sinh đc chưa được cải thiện nhiều. Tỷ lệ thiếu máu, thiếu
sắt, thiếu kẽm và thiếu năng lượng trường diễn ở phụ nữ tuổi sinh đẻ nói chung
chiếm tỷ lệ cao ớ những vùng nông thôn [9], [20],
Theo số liệu điều tra trong nước và trên thế giới thì thiếu máu dinh dưỡng
rất phổ biến. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã ước tính có 30% dân số Thế giới bị
thiếu máu (khoảng 700- 800 triệu người) [39]. Thiếu máu hay gặp ở các nước đang
phát triển (36%) so với các nước phát triển (8%). Tỷ lệ thiếu máu cao nhất ở Châu
Phi, Nam Á rồi đến châu Mỹ La Tinh, còn các vùng khác thấp hơn.. Thiếu máu ở
tuồi sinh đé là 24,3%- là nhóm đối tượng nguy cơ cao và đứng thứ tư sau nhóm đối
tượng phụ nữ có thai, trẻ em trước tuồi đi học và trẻ có cân nặng sơ sinh thấp. Hậu
quả thiếu máu thiếu sắt ở phụ nữ tuổi sinh đẻ khá nghiêm trọng: gây mệt mỏi, giám
khá năng lao động dẫn đến kinh tế gia đình bị ảnh hưởng và đặc biệt không chuẩn
bị tốt tinh trạng dinh dưỡng cho thời kỳ có thai, dễ xảy ra tình trạng xảy thai, đẻ
non, đẻ con thấp cân, băng huyết, tứ vong mẹ và con... Giải quyết vấn đề này còn
nhiều hạn chế, khó khăn nhiều mặt, đang là những khó khăn của cộng đồng nhất là
hành vi về dinh dưỡng trong phòng chống thiếu vi chất dinh dưỡng.
Thiêu máu, thiêu kẽm gây giảm phát triên thê lực, giảm khả năng đáp ứng
miỗn dịch, làm tăng tỷ lệ sảy thai cũng như giảm khả năng lao động ớ người
trưởng thành. Chính vì vậy, trong nội dung của chiến lược quổc gia về dinh dưỡng
12
giai đoạn 2010- 2020, việc hạ thấp tỷ lệ thiếu máu dinh dưỡng và thiếu vi chất
trong đó có thiếu kẽm ở trẻ em, phụ nữ tuồi sinh đẻ (PNTSĐ) là một mục tiêu quan
trọng [2].
Đổ đạt hiệu quả cao trong phòng chống thiếu dinh dưỡng cho phụ nữ trong
60% tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi có liên quan tới suy dinh dưỡng và suy dinh dưỡng ở trẻ có liên quan chặt chẽ với
tình trạng CED của mẹ. Một báo cáo từ châu Á cho thấy CED giảm 10-15% năng suất lao động và 5-10% GDP. Do
đó, cải thiện tình trạng dinh dưỡng của phụ nữ thì quốc gia có thể giảm chi phí chăm sóc y tế, tăng khả năng nhận
thức, tăng năng xuất lao động cảu người trưởng thành và góp phần phát triển điều kiện kinh tế xã hội của quốc gia
[58].
1.1.2.3.
Tình hình thiếu năns ỉươns trường diễn ở phu nữ tuổi sinh
đẻ a/ Tình hình thiếu năng lượng trường diễn ở phụ nữ tuổi sinh đẻ
t r ê n t h ế g i ớ i Theo báo cáo của ACC/SCN năm 1992 cho thấy tỷ lệ CED của phụ nữ tuổi sinh đẻ từ 15-49
tuổi cao nhất ở Châu Á, khu vực Nam Á là 41,1%; Khu vực Đông Nam Á là 40,5%. Tỷ lệ này ở khu vực Nam Phi là
22,4% và thấp nhất là khu vực Nam Mỹ (7,2%) [57].
Cho đến nay, Nam Á vẫn là khu vực có tỷ lộ CED cao nhất. Ẩn Độ là một trong những quốc gia có tỷ lệ phụ
nữ tuổi sinh đẻ bị CED thuộc diện cao nhất trên thế giới và khu vực Nam Á. Một số kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ
lệ CED ở Án Độ là trên 41% và ở mức độ nặng về ý nghĩa sức khoẻ cộng đồng [60], Banglades cũng là một quốc
gia thuộc khu vực Nam Á có tỷ lệ phụ nữ tuổi sinh đẻ bị CED ở mức cao và tương tự với Ẩn Độ là 43% [55],
Tình trạng dinh dưỡng của phụ nữ tuổi sinh đẻ tại khu vực Đông Nam Á trong thời gian qua cũng được cái
thiện đáng kể. Năm 1992, tỷ lệ CED là 40,5%. Tỷ lệ CED của phụ nữ tuổi sinh đẻ ở Indonesia rất thấp và giảm
nhanh từ năm 1996 là 17% xuống còn 3% năm 2000 [60]. Năm 2008, tỷ lệ CED của phụ nữ tuổi sinh đẻ ở
Campuchia là 20% [43].
Châu Phi là châu lục có tỷ lệ CED ớ phụ nữ tuổi sịnh đe khá là thấp. Ở châu Phi cận Sahara, theo kết quả phân
tích số liệu điều tra dinh dưỡng đại diện cho 26 quốc gia từ năm 1995-2006 cho thấy tỷ lệ CED của phụ nữ tuổi sinh
đẻ là 10,4% [40], Hầu hết các quốc gia đều có tỷ lệ CED dưới 20%. Trong số đó, cộng hoà Công Gô, Ethiopia,
Nizeria, Zambia có tỷ lệ này trên 20%. Đặc biệt Ethiopia có tỷ lệ CED ở phụ nữ tuổi sinh đẻ trên 30% [50]và
Tanzania là 49% [42],[49].
b/ Tình hình thiểu năng lượng trường diễn của phụ nữ tuổi sinh đẻ Việt Nam
Theo kết quá tổng điều tra dinh dường của Việt Nam qua các thời kỳ cho thấy, tình trạng dinh dưỡng của phụ
suy dinh dưỡng, bệnh truyền nhiễm và đại dịch HIV / AIDS [54], ít nhất 3,4 triệu người lớn tứ vong mồi năm do hậu
quả của tình trạng thừa cân hoặc béo phì. Ngoài ra, 44% gánh nặng do bệnh tiểu đường, 23% gánh nặng bệnh tim
thiếu máu cục bộ và từ 7% đên 41% gánh nặng vê một sô bệnh ung thư là do thừa cân và bco phì [47].
Dựa trên số liệu thống kê của 188 nước từ năm 1980 đến 2013, nghiên cứu "Gánh nặng bệnh tật toàn cầu"
cho biết số người béo phì đã tăng từ 857 triệu người lên 2,1 tỷ người trong vòng 33 năm. Mỹ, Trung Quốc, Ấn Độ,
Nga, Brazil, Mexico, Ai Cập, Đức, Pakistan và Indonesia, theo thứ tự, là những "thánh địa" của người thừa cân, khi
chiếm tới một nứa số lượng người béo phì toàn thế giới [53].
Béo phì tiếp tục là vấn nạn đối với nước Mỹ với khoảng 13% số người béo phì sổng ớ Mỹ; 60% nữ giới nước
này mắc bệnh. Béo phì vốn được coi là căn bệnh của những nước giàu, song xu hướng hiện tại cho thấy căn bệnh
này đang lan sang những quốc gia đang phát triền với hơn 65% số người béo phì sổng tại các nước mới nổi. Đặc
biệt, bco phì là một thực trạng đáng báo động ở Trung Quốc và Àn Độ, hai quốc gia có số người béo phì lần lượt là
46 triệu và 30 triệu người [53].
Theo nghiên cứu của Mendez, M. A; Monteiro, c. A ở phụ nữ đã kết hôn nhưng hiện tại không mang thai ở
đô thị Bangladesh thì thiếu cân; tỷ lệ thừa cân và béo phì là 25,2%, 15,7% và 3,9%. Nghiên cứu cũng chỉ ra: Những
phụ nữ di cư từ nông thôn ra thành thị thì hầu hết có tình trạng dinh dưỡng là thiếu cân (OR: 1.15); một tỷ lệ nhỏ là
thừa cân (OR: 0,80) và béo phì (OR: 0.75) [45],
Nam Phi có tỷ lệ tỷ lệ béo phì cao nhất trên lục địa. Kết quả từ 2012 Sức khỏe Quốc gia Nam Phi và Khảo sát
ước tính rằng 25% số người lớn Nam Phi đang bị béo phì và hơn 22,5% thừa cân. Ớ nữ, tỷ lệ mắc béo phì rất cao
(39,2%) trong khi ở nam là 10,6%. Ớ Nam Phi, phụ nữ da đen có nguy cơ cao nhất mắc thừa cân và béo phì.
Nguyên nhân chủ yếu được tìm thây là do: tình trạng hôn nhân, không hoạt động thê chât, cân nặng khi sinh cao, và
chế độ ăn nhiều đường, chất bco và carbohydratc tinh chế; ít rau và hoa quả dạng sợi [54],
Nghiên cứu mới đây của Menigoz, K.Nathan (2016) về tình trạng thừa cân -béo phì ở nữ trên Thế giới cho
thấy: Tỷ lệ béo phì cao nhất ở phía Bắc ở phía tây Châu Âu là 8,5%; tiếp đến là Đông Nam Á (2,7%); Châu Đại
Dương (trừ Australia): 2,6%; phía Nam và Đông Châu Âu (2,5%); Nam và trung Á (1,6%); Châu Mỹ (1,4%); sa
mạc Sahara (1%) và thấp nhất ớ Bắc Phi và Trung Đông là 0,7%. Nghiên cứu cũng chỉ ra lứa tuổi mắc cao nhất là
35-49 (18%) và thấp nhất ớ nhóm tuổi 15-25 (12,4%) [48].
Ớ Việt Nam, tỷ lệ người trưởng thành bị thừa cân, bco phì chiếm khoảng 25% dân số; đang có xu hướng
ngày càng phổ biến và trở thành một trong những thách thức lớn đối với chương trình chăm sóc sức khóc quốc gia.
1.2.2. Nguyên nhãn, hậu quả và thực trạng thiêu máu, thiêu săt
a/ Nguyên nhân thiếu máu, thiếu sắt
- D o k h ẩ u p h ầ n ă n k h ô n g c u n g c ấ p đ ủ : Có 2 nguồn sắt chính từ thực phẩm là sắt hcm
và sắt không hem. sắt hem thường có mặt trong thịt, cá, thịt gia cầm cũng như trong tiết, sắt hem có thể dề dàng
được hấp thu ở ruột, trong khi đó, sắt không hem phu thuộc vào sự có mặt của một số chất làm tăng hay cản trở hấp
thu sắt, Vitamin c, protein động vật và các acid hữu cơ trong hoa quả và rau có tác dụng làm tăng khả năng hấp thu
chất sắt không hem. Các chất ức chế hấp thu sắt thường có trong các thực phẩm nguồn gốc thực vật, như phytate ở
trong gạo và các loại ngũ cốc, như tannin trong một số loại rau, trà và cà phê [22],
- Do nhu cầu:
Nhu cầu sắt tăng cao ở trê em dưới 5 tuồi và phụ nữ tuổi sinh đẻ. Phụ nữ tuổi sinh đẻ bắt đầu từ khi có kinh
nguyệt, nhu cầu sắt trung bình xấp xỉ 1,4 mg/ngày. Tuy nhiên, lượng sắt này khó có thể đáp ứng đủ nếu chỉ dựa vào
khẩu phần ăn [25], Phụ nữ tuổi sinh đẻ không mang thai, cần 350-500 mg sắt dự trừ mồi ngày để chuấn bị cho thời
kỳ có thai [3]. Lượng sắt này có thể đạt được từ nguồn dự trừ của người mẹ hoặc từ nguồn sắt bồ sung thêm. Tuy
nhiên khá năng huy động sắt từ kho dự trữ rất ít vì sắt dự trữ thường không đủ kể cả ở phụ nữ các nước phát trien,
còn ở các nước đang phát triển, có 25- 30% phụ nừ không có sắt dự trừ.
- D o m ấ t m á u k h i n h i ễ m k ỷ s i n h t r ù n g đ ư ờ n g r u ộ t , đặc biệt là giun móc vì nó
gây mất máu đường tiêu hóa và gây thiếu máu. Người ta đã chứng minh một con giun móc có thể hút 0,484ml máu/
24 giờ và sống được từ 10-15 năm.
-Do mắc các bệnh về máu khác
b/ Hậu quá của thiếu máu, thiếu sắt đổi với phụ nữ lứa tuổi sinh đẻ
Thiếu máu do thiếu sắt là tình trạng xảy ra khi hồng cầu bị giảm cả về số lượng và chất lượng do thiếu sắt.
Thiếu sắt thường là do thiểu sắt có giá trị sinh học cao cung cấp từ khẩu phần, hoặc do tăng nhu cầu sắt trong giai
đoạn cơ thể phát triển nhanh (thời kỳ có thai, trẻ em), hoặc do bị chảy máu đường tiêu hóa (vì giun móc) hay đường
tiết niệu [10], Thiếu sắt là hậu quả của tình trạng cân bằng sắt âm tính kéo dài. Thiếu máu sẽ xuất hiện khi thiếu sắt
ảnh hưởng tới việc tống hợp Hemoglobin (Hb). Trong thực tế, thiếu máu do thiếu sắt chỉ là phần nổi của một táng
băng mà phần dưới là thiếu sắt. Điều đó có nghĩa, thiếu máu chỉ xuất hiện ở giai đoạn cuối cùng của một quá trình
thiếu sắt tương đổi dài với nhiều ảnh hưởng bất lợi với sức khỏe và thể lực. Khi tỷ lệ Hb dưới mức ngưỡng cao hơn
5%, tỷ lệ thiếu máu do thiếu sắt được coi là có vấn đề sức khỏe trong cộng đồng đó. Kết quả của một số nghiên cứu
thiếu máu mà nguyên nhân chủ yếu do thiếu sắt [51].King JC và công sự nghiên cứu trên 251 phụ nữ tuổi sinh đẻ
năm 2000 cho thấy tỷ lệ thiếu máu là 58,6%. Trong đó, tỷ lệ này ở phụ nữ có thai là 71,4%, phụ nữ không có thai là
38,9% [58],
Lindblad B, Zamanva cộng sự thực hiện nghiên cứu trên 481 phụ nữ 12- 49 tuổi ở miền Bắc Châu Á cho thấy
tỷ lệ thiếu máu ớ phụ nữ tuổi sinh đẻ là lệ 21,1% và tỷ lệ này ở phụ nữ có thai là 25,7% [46], Trong khi đó điều tra
toàn quốc của nước này năm 1999 trên 17.194 phụ nữ cho thấy 27,8% phụ nữ có thai và 20,8% phụ nữ không có
thai bị thiếu máu.
Các điều tra dịch tễ học ở Việt nam từ những năm 1989 và 1995 (điều tra toàn quốc do Viện Dinh dưỡng,
Trung tâm Giám sát Bệnh tật của Hoa kỳ (CDC) và UNICEF ) cho thấy tỷ lệ thiếu máu phổ biến ở tất cả các vùng
trong cả nước, tỷ lệ thiếu máu cao ớ cá phụ nữ không có thai (45%), phụ nữ có thai (53%) và trẻ em [61 ]. Điều tra
toàn quốc về tình trạng dinh dưỡng năm 2008- 2009 cho thấy 36,5% phụ nữ có thai, 28,8% phụ nữ không có thai bị
thiếu máu. Các khu vực Nam miền Trung, miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, tỷ lệ thiếu máu vẫn ở mức cao. Đồng
bằng sông Cửu Long, ĐB sông Hồng và vùng thành phố có tỷ lệ thiếu máu thấp hơn các vùng khác, tuy nhiên vần ở
mức >20% [9].
Theo số liệu của cuộc điều tra thiếu máu do Viện Dinh Dưỡng tiến hành năm 2010 cho thấy tỷ lệ thiếu máu ở
phụ nữ có thai là 32,2% và phụ nữ tuổi sinh đẻ là 24,3%[34].
Việc theo dõi và giám sát tình trạng dinh dưỡng cũng như thiếu máu ở phụ nữ tuổi sinh đẻ và trẻ em là một
vấn đề hết sức quan trọng để có kế hoạch phòng chống thiếu máu dinh dưỡng.Theo nghiên cứu của Nguyền Chí
Tâm và Nguyên Công Khẩn trên 338 phụ nữ tuổi sinh đe (2000) tại các vùng sinh thái trên toàn quốc có 22,8% phụ
nữ 15-49 tuổi bị thiểu máu thiếu sắt (thiếu máu thể nhẹ và vừa).
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Xuân Ninh, Nguyễn Anh Tuấn, và Nguyền Công Khẩn trên 1.175 trẻ
dưới 5 tuổi, 934 phụ nữ có thai, 1.120 phụ nữ không có thai (20 - 49 tuổi) được tiến hành vào tháng 3/2006 để đánh
giá tình trạng thiêu máu tại 6 tỉnh (Băc Cạn, Băc Ninh, Hà Nội, Huê, Băc Lăc và An Giang), tỉ lệ thiếu máu trung
bình ở PN về ý nghĩa sức khoẻ cộng đồng (YNSKCĐ) là 36,7%; cao nhất ở Bắc Cạn 73,4%, thấp nhất ở An Giang
17,0%, Bắc Ninh và Đắc Lắc 25,6%; Hà Nội 32,5%; Huế38,6% [21].
Theo kết quả nghiên cứu của Lệ Bạch Mai, Hồ Thu Mai, Tuấn Mai Phương trên 1062 phụ nữ tuổi sinh đẻ
(15- 49) năm 2004, tại huyện Thanh Miên, tỉnh Hải Dưỡng cho thấy tỷ lệ thiếu nặng lượng trường diễn ớ phụ nữ
tuổi sinh đẻ là 36,8%, tỉ lệ thừa cân béo phì là 3,6%, tỉ lệ thiếu máu của phụ nữ tuổi sinh đỏ huyện Thanh Miện năm
Ở Việt Nam, chưa có số liệu trên toàn quốc về điều tra tình hình thiếu kẽm ở những nhóm đối tượng nguy cơ
cao như trẻ nhỏ và phụ nữ tuổi sinh đẻ nhưng kết quả cùa một số nghiên cứu đã cho thấy tỷ lệ thiếu kẽm còn cao ở
phụ nừ(PN) [21].
Nhiều nghiên cứu đã khắng định, ở những cộng đồng có vấn đề thiếu máu thiếu sắt thường đi kèm với tình
trạng thiếu kẽm, vì vậy khi đã thiếu những loại thực phẩm giàu sắt thì cũng thiếu cả kẽm: Các nhà khoa học dinh
dưỡng như tác giả Nguyễn Xuân Ninh &
cs năm 2003; Lê Thị Hợp và Lê Danh Tuyên (2012) đã đánh giá tỷ lệ
thiếu kẽm ở PN tại cộng đồng, dựa vào nồng độ kẽm huyết thanh thấp (
carbohydrate (49,6%) và protein (12,1%). Mức năng lượng khẩu phần, tỷ lệ một sổ chất sinh năng lượng và vi chất
trong khẩu phần dinh dưỡng của phụ nữ có thai đạt thấp so với NCK.N và có sự khác biệt ở khu vực thành thị và
nông thôn, lần lượt là protein 86,9% và 71,6%, vitamin A 94,3% và 6 5 , 2 % , kẽm 70,9% và 61,8%, sắt 56,3% và
48%, canxi 55,1 % và 41 % [62].
Theo nghiên cứu của Gibson RS và cộng sự (2009) nghiên cứu tại một sổ bệnh viện của Pháp về các điều
kiện về kinh tế Xã hội, lối sống tương quan chặt chẽ với chế độ dinh dưỡng của phụ nữ có thai. Khấu phần của phụ
nữ có thai còn thiếu cả về chất và lượng. Có 50,2% phụ nữ có thai sử dụng acid folic. Tỷ lệ PNCT sử dụng sắt tăng
gấp ba lần từ tháng thứ nhất đến tháng thứ 3 (18,5 lên 63,9%). Phụ nữ có thai được bổ sung acid folic vào đầu thời
kỳ có thai không đầy đủ có liên quan đến yếu tố kinh tế xã hội, chế độ ăn uống và nhân khẩu học[46] .
Kết quả nghiên cứu của Lindblad và cộng sự 2005 với 66.000 phụ nữ có thai về chế độ ăn uống, thói quen
của bà mẹ liên quan chặt chẽ đến nguy cơ đẻ non. Phụ nừ có thai được hồ trợ, tư vấn chế độ ăn uống cân bàng và
điều chính khẩu phần trong các giai đoạn của quá trình mang thai là yếu tố làm giảm nguy cơ đẻ non ở đối tượng
này [46]. b / M ộ t s ổ k ế t q u ả n g h i ê n c ứ u ở V i ệ t N a m
Tại Việt Nam, Viện Dinh dưỡng Quốc gia đã tiến hành các cuộc tổng kiều tra Dinh dưỡng vào năm 1990,
2000 và 2009. Kết quả cho thấy khẩu phần ăn đã có sự cải thiện rõ rệt về cơ cấu chất dinh dưỡng nhưng so với
Khuyên nghị được đưa ra năm 2007 thì khâu phân ăn của người dân vân chưa đú về năng lượng, chưa cân đổi về tỷ
số protein động vật so với protein tổng số, tỷ lệ% năng lượng do chất béo đạt thấp[34].
Theo kết quả nghiên cứu của Phạm Thúy Hòa (1990) nghiên cứu trên phụ nữ có thai tại một số tỉnh miền Bắc
và ngoại thành Hà Nội cho thấy bừa ăn còn thiếu cả về số lượng và chất lượng. Gạo vẫn là nguồn cung cấp năng
lượng chính trong bừa ăn, tăng dẫn theo thời kỳ có thai, cao nhất khi 3 tháng tuổi. Ngược lại rau quá lại giảm dẫn.
Thức ăn có nguồn gốc động vật về số lượng cũng giảm hơn ở thời kỳ có thai 3 tháng giữa, nguồn thực phấm cung
cấp đạm động vật chính thay đối giữa thời kỳ có thai. Ba tháng dầu là cá và thủy sản 60g/người/ngày thì 3 tháng
cuối là thịt các loại 43g/người/ngày. So với bừa ăn của nữ nông dẫn Việt nam củng thời kỳ 1990-1995, khi có thai 3
tháng dầu các bà mẹ tiêu thụ gạo tương tự. Một điểm đảng chú ý là có thai 3 tháng dầu các bà mẹ tiêu thụ quả chỉn
và cá, thủy hải sán cao gấp đối so vớikhi không có thai. Khỉ tuổi thai đã tăng cao hơn, các bà mẹ tiêu thụ gạo càng
nhiều hơn, thai 3 tháng cuối là 488g/ngày/người so với 421,9g/ngày/người trong bừa ăn cúa nữ nông dẫn. Hằng
ngày, lượng rau tiêu thụ giảm dần so với thời kỳ dầu có thai nhưng cũng vẫn cao hơn khi không có thai. Cũng như
vậy, lượng quả chỉn tiêu thụ giảm dẫn theo thời gian có thai tăng lên và dần trở về giống như khấu phần khi có thai 3