Nghiên cứu giải pháp nâng cao hứng thú học tập môn GDTC cho học sinh khối 11 trường THPT Tân Trào - Tuyên Quang - Pdf 43

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC THỂ CHẤT

NGUYỄN ÂN THÔNG

NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP NÂNG CAO
HỨNG THÚ HỌC TẬP MÔN GDTC
CHO HỌC SINH KHỐI 11 TRƯỜNG
THPT TÂN TRÀO - TUYÊN QUANG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

HÀ NỘI - 2017


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC THỂ CHẤT

NGUYỄN ÂN THÔNG

NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP NÂNG CAO
HỨNG THÚ HỌC TẬP MÔN GDTC
CHO HỌC SINH KHỐI 11 TRƯỜNG
THPT TÂN TRÀO - TUYÊN QUANG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành học: Giáo dục Thể chất

Cán bộ hướng dẫn:

TS. Lê Trường Sơn Chấn Hải


CSVC

2

GD

3

GD&ĐT

4

GDTC

5

NXB

Nhà xuất bản

6

TD

Thể dục

7

TDTT


2.3. Tổ chức nghiên cứu............................................................................... 24
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .................................................... 25
3.1 Thực trạng và nguyên nhân dẫn tới thiếu hứng thú học tập môn GDTC
của học sinh khối 11 trường THPT Tân Trào - Tuyên Quang .................... 25
3.2. Một số giải pháp nhằm nâng cao hứng thú học tập môn GDTC cho học
sinh khối 11 trường THPT Tân Trào - Tuyên Quang .................................. 34
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ...................................................................... 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 48
PHỤ LỤC ....................................................................................................... 50


DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1 Kết quả phỏng vấn về tinh thần và thái độ của học sinh trong giờ
GDTC (n = 390) ............................................................................ 27
Bảng 3.2. Kết quả quan sát thái độ trong giờ học GDTC của học sinh
khối 11 trường THPT Tân Trào (n = 390) .................................... 29
Bảng 3.3. Thực trạng kết quả học tập giữa học kỳ 1 môn GDTC của học sinh
khối 11 trường THPT Tân Trào (n = 390) .................................... 30
Bảng 3.4. Xúc cảm của học sinh khối 11 khi học môn GDTC ( n=390) ........ 30
Bảng 3.5. Sự ham thích các môn thể thao của học sinh trường THPT Tân Trào
- Tuyên Quang ( n=390) ............................................................... 31
Bảng 3.6 Kết quả phỏng vấn về những nguyên nhân mà học sinh cho là ảnh
hưởng tới hứng thú khi học GDTC (n = 390) ............................... 33
Bảng 3.7. Kết quả phỏng vấn giáo viên về các giải pháp sử dụng để nâng cao
hứng thú cho học sinh học môn GDTC (n=10) ............................ 39
Bảng 3.8. Kế hoạch thực nghiệm .................................................................... 41
Bảng 3.9 Kết quả học tập môn GDTC giữa học kỳ 1 và giữa học kỳ 2 của học
sinh khối 11 trường THPT Tân Trào (n = 390) ............................ 44
Bảng 3.10. Xúc cảm của học sinh khối 11 đối với môn GDTC giữa học kỳ 1
và giữa học kỳ 2 năm học 2016 - 2017 (n = 390) ......................... 45



2

đảm bảo mỗi trường học đều có giáo viên thể dục chuyên trách và lớp học thể
dục đúng tiêu chuẩn tạo điều kiện nâng cao chất lượng Giáo dục Thể chất.
Tăng cường nhà đầu tư của Nhà nước cho lĩnh vực Thể dục, thể thao, ưu tien
cho việc phát triển Thể dục, thể thao trường học, ở nông thôn và miền núi,
định hướng phát triển Thể dục, thể thao… “Phát triển mạnh thể thao quần
chúng, thể thao nghiệp dư, trước hết là trong thanh niên, thiếu niên, làm tốt
công tác GDTC trong trường học” [2] và đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 2
khóa VIII đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhằm mục tiêu dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, vǎn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Muốn tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá thắng lợi phải phát triển mạnh
GD và ĐT, phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản của sự phát triển
nhanh và bền vững, về công tác GD và ĐT đã khẳng định rõ GDTC trong
trường học là cực kỳ quan trọng. GDTC không chỉ tác động tích cực tới quá
trình phát triển và hoàn thiện thể chất mà còn góp phần quan trọng phát triển
các phẩm chất đạo đức, nhân cách và những phẩm chất cần thiết cho cuộc
sống, học tập và lao động của con người. Chỉ thị số 36 - CT/TW ngày 24 -31994 của Ban Bí thư TW Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác thể dục thể
thao trong giai đoạn mới khẳng định: “Phát triển TDTT là bộ phận quan
trọng trong chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước
nhằm bồi dưỡng phát huy nhân tố con người, công tác TDTT góp phần tích
cực nâng cao sức khỏe, thể lực, giáo dục nhân cách, đạo đức lối sống lành
mạnh, làm phong phú đời sống tinh thần của nhân dân, nâng cao sức lao
động và sức chiến đấu của lực lượng vũ trang ”[1].
Hứng thú học tập như điều kiện tâm lý sư phạm nâng cao chất lượng
dạy học. Hứng thú học tập là yếu tố tạo ra chất lượng học tập ở mỗi người
học. Có hứng thú học tâp các em sẽ xây dựng được động cơ học tập, tính tự
giác, tự tin, sáng tạo, say sưa trong quá trình lĩnh hội và sự vận dụng những

của sinh viên Đặng Thị Hải Yến (2011) các đề tài nghiên cứu với đối tượng


4

và địa điểm khác, tuy nhiên chưa có đề tài nghiên cứu giải pháp nâng cao
hứng thú học tập môn GDTC cho học sinh khối 11 trường THPT Tân Trào Tuyên Quang.
Xuất phát từ những lí do trên để tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu giải pháp nâng cao hứng thú học tập môn GDTC cho học
sinh khối 11 trường THPT Tân Trào - Tuyên Quang”.
* Mục đích nghiên cứu.
Nghiên cứu giải pháp để nâng cao hứng thú học tập môn GDTC cho
học sinh khối 11 trường THPT Tân Trào - Tuyên Quang. Từ đó góp phần tích
cực vào việc nâng cao chất lượng học tập môn GDTC.
* Giả thuyết khoa học
Nếu áp dụng tốt giải pháp để nâng cao hứng thú học tập môn GDTC
cho học sinh khối 11 thì sẽ nâng cao được hiệu quả công tác GDTC và thể
thao tại trường THPT Tân Trào - Tuyên Quang một cách có hiệu quả nhất.


5

CHƯƠNG 1
TỔNG QUÁT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
1.1.1. Khái niệm chung về hứng thú
Là một hiện tượng tâm lý phức tạp, được thể hiện khá rộng rãi trong
thực tiễn cuộc sống cũng như trong các ngành khoa học, hứng thú là một vấn
đề đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Do đứng trên quan điểm
và góc độ khác nhau mà nhà khoa học có nhiều quan điểm không giống nhau

quá trình quan trọng, từ những quá trình riêng lẻ (tri giác, trí nhớ) cho tới tổ
hợp nhiều quá trình (nhận thức, tình cảm, ý chí) và khái niệm hứng thú rất
rộng. Nhưng các quan niệm trên phần nào hạn chế, phiến diện vì đã thu hẹp
khái niệm hứng thú, quy hứng thú vào giới hạn của nhận thức hoặc tình cảm,
nhu cầu… thực chất hứng thú không phải là nhu cầu hay tình cảm mà hứng
thú có quan hệ chặt chẽ với các quá trình đó. Người ta cho rằng hứng thú vừa
liên quan tới trí thông minh, vừa với tình cảm lẫn ý trí.
Tâm lý học hiện đại có khuynh hướng nghiên cứu hứng thú không tách
rời toàn bộ cấu trúc tâm lý cá nhân. Phân tích cấu trúc hứng thú, tiến sĩ tâm lý
học N.G.Ma-rô-zô-va đã nêu ít nhất ba yếu tố đặc trưng cho hứng thú gồm:
- Có cảm xúc đúng đắn với hoạt động
- Có khía cạnh nhận thức của cảm xúc đó
- Có động cơ trực tiếp xuất phát từ bản thân hoạt động đó, tức là hoạt
động tự nó lôi cuốn vì kích thích không phụ thuộc vào các động cơ khác như:
tinh thần, nghĩa vụ… có thể hỗ trợ làm nảy sinh duy trì và hứng thú nhưng
không xác định được bản chất của hứng thú.
Ba thành tố trên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong hứng thú cá
nhân, ở mỗi giai đoạn phát triển khác nhau của hứng thú, mỗi yếu tố đó có thể
nổi lên mạnh mẽ hay ít nhiều.


7

Qua những phân tích trên chúng ta có thể định nghĩa hứng thú như sau:
Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó có khả năng
mang đến cho con người những rung cảm đặc biệt đồng thời cá nhân nhận
thức được ý nghĩa của nó đối với cuộc sống.
Đặc điểm của hứng thú: Mỗi hứng thú theo nguyên tắc bao gồm hai
nhân tố đó là nhận thức và tình cảm. Trong tâm lý con người, sự phát triển
của hứng thú gắn liền với trình độ phát triển của nhận thức và tình cảm.

Hứng thú bền vững: thường gắn liền với năng lực cao và nhận thức sâu
sắc nghĩa vụ và thiên hướng của mình.
Hứng thú không bền vững: Thường bắt nguồn từ sự nhận thức hời hợt
đối tượng hứng thú.
Qua phân tích của các nhà khoa học chúng tôi nhận thấy hứng thú gián
tiếp, hứng thú bền vững và tích cực quyết định trực tiếp đến GDTC.
1.1.2 Vai trò của hứng thú trong trong đời sống cá nhân nói chung và
trong hoạt động thể thao nói riêng
a. Vai trò của hứng thú đối với đời sống cá nhân
Hứng thú có ý nghĩa quan trọng đối với cuộc sống, hoạt động của
con người. Con người chỉ cảm thấy thoải mái vì có hứng thú. Hứng thú kích
thích tính tích cực của con người. Hứng thú làm tăng tính làm việc, cá nhân
có sức chịu đựng dẻo dai và làm việc một cách say sưa.
Hứng thú làm tăng quá trình hiệu quả của nhận thức. Vì nó quan hệ với chú
ý và tình cảm nên khi có hứng thú thì cá nhân hướng toàn bộ quá trình nhận thức
vào đối tượng khiến quá trình đó nhạy bén và sâu sắc hơn. Hứng thú làm hiệu
quả nhận thức được nâng cao, con người hoạt động không thấy mệt mỏi.
Hứng thú làm nảy sinh khát vọng để thỏa mãn hoạt động, khi đó hứng
thú trở thành động cơ thúc đẩy con người hoạt động. Nhờ có hứng thú con
người nảy sinh tính cách tốt đẹp như: Kiên trì, độc lập, …
b. Vai trò của hứng thú trong hoạt động thể thao
Hoạt động thể thao là một dạng hoạt động đặc biệt bởi nó đòi hỏi sự
căng thẳng về thể chất và tâm lý tối đa trong thi đấu và trong các buổi huấn


9

luyện. Mặt khác hoạt động thể thao mang tính tự nguyện thuần túy, hiệu quả
của nó phụ thuộc rất nhiều vào hứng thú, sự say mê, các động cơ trực tiếp và
hoài bão của người tập.

Hứng thú gián tiếp trong hoạt động học tập là thái độ lựa chọn đặc biệt
của chủ thể đối với đối tượng của hoạt động học tập do những yếu tố bên
ngoài đối tượng của hoạt động này gây nên và gián tiếp liên quan đến đối
tượng ấy [9].
Hứng thú gián tiếp trong hoạt động học tập có một số đặc điểm sau:
+ Nó thường hướng tới những khía cạnh bên ngoài, có liên quan đến đối
tượng của hoạt động học tập (khen thưởng, điểm số).
+ Có tính chất tình huống rất rõ nét: Khi nhận được tri thức cần thiết
hoặc khi đã kết thúc hành động, hứng thú cũng biết mất, các dấu hiệu của thờ
ơ lại xuất hiện (theo phong trào, ảnh hưởng của bạn bè...).
+ Ít có tác dụng thúc đẩy hành động, học sinh không chú ý đến đối tượng
của hoạt động theo sáng kiến riêng của mình.
+ Không được ý thức một cách rõ ràng, học sinh không thể giải thích
được; đó có phải là hứng thú học tập hay không? Vì sao các em lại hứng thú
với đối tượng đó?
+ Nó được xuất hiện theo những phản ứng có thể rất mạnh nhưng cũng
thường rất ngắn ngủi.
1.3. Khái niệm hứng thú học môn GDTC
1.3.1 Định nghĩa
Hứng thú học môn GDTC là thái độ lựa chọn đặc biệt của học sinh đối
với quá trình, kết quả lĩnh hội và vận dụng kiến thức GDTC trong quá trình
học tập cũng như trong cuộc sống, do thấy được sự hấp dẫn và ý nghĩa thiết
thực của môn GDTC với bản thân [16].
1.3.2 Những thành tố tâm lý cấu thành hứng thú học môn GDTC của
học sinh THPT
Có thể xác định cấu trúc của hứng thú học môn GDTC của học sinh bao
gồm 3 thành phần chủ yếu sau:


11


- Biểu hiện về mặt xúc cảm: Học sinh có xúc cảm tích cực (yêu thích,
say mê…) đối với môn GDTC: các em thực sự yêu thích môn GDTC, coi học
GDTC là niềm vui, niềm hạnh phúc.
- Biểu hiện về mặt nhận thức: Học sinh nhận thức đầy đủ, rõ ràng
những nguyên nhân của sự yêu thích trên; những nguyên nhân đó có thể trực
tiếp liên quan đến đối tượng của hoạt động học GDTC (đến nội dung và
phương pháp tư duy học GDTC), hoặc gián tiếp liên quan đến đối tượng trên.
- Biểu hiện về mặt hành động: Học sinh biểu hiện các hành động học
tập tích cực, chủ động, sáng tạo không chỉ trong giờ lên lớp mà còn ở cả ngoài
lớp hàng ngày như:
+) Trong giờ lên lớp:
> Say mê học tập, chăm chú nghe giảng.
> Hăng hái tập luyện.
> Tích cực làm việc theo nhóm để hoàn thành nhiệm vụ học tập.
+) Ở ngoài lớp và ở nhà:
> Tập luyện ngoại khóa thường xuyên.
> Tích cực tham gia các hoạt động, phong trào TDTT ở khu dân cư.
- Biểu hiện về mặt kết quả học tập:
Kết quả học tập xếp loại đạt môn GDTC.
1.3.4. Những yếu tố ảnh hưởng tới hứng thú học môn GDTC
* Những yếu tố khách quan:
Đó là những yếu tố bên ngoài học sinh, tác động vào học sinh bằng
nhiều con đường khác nhau. Các yếu tố đó bao gồm:
- Đặc điểm môn GDTC: Đó là nội dung, tính chất, cơ cấu, sự sắp xếp
chương trình, phương pháp dạy và học môn GDTC…. Đặc điểm của môn
GDTC với tư cách là đối tượng lĩnh hội, có tác dụng lớn đối với việc hình
thành hứng thú học môn GDTC ở học sinh.




14

Tóm lại, hứng thú học môn GDTC của học sinh khối 11 nảy sinh và
phát triển dưới ảnh hưởng qua lại của tổ hợp những yếu tố chủ quan và những
yếu tố khách quan nhất định. Do đó muốn hình thành và phát triển hứng thú
học môn GDTC cho học sinh, cần phải chú ý cả những yếu tố bên trong, cũng
như yếu tố bên ngoài, đặc biệt là cần chú ý đến vai trò “Chủ đạo của người
giáo viên”.
* Những yếu tố chủ quan:
Đó là những yếu thuộc về chủ thể học sinh như:
- Đặc điểm cá nhân người tập: Tuổi, giới tính, tình trạng sức khỏe và
thể lực, học tập và khả năng vận động.
Cùng một bài tập có thể gây lên những hiệu quả khác nhau tùy thuộc
vào đặc điểm cá nhân người tập. Một lượng vận động nhẹ của vận động viên
có thể là nặng, quá sức đối với người tập. Đa phần những học sinh nam, học
sinh có thể lực tốt và khả năng vận động tốt sẽ dễ hình thành hứng thú học
môn GDTC hơn so với những em nữ và em có thể lực yếu và khả năng vận
động kém. Nói cách khác, sự phát triển về thể chất là cơ sở tạo ra thành tích
và kết quả tốt trong học tập môn GDTC. Thành tích có vai trò tâm lý vừa là
tiền đề cho hứng thú học môn GDTC, vừa là động cơ bổ trợ duy trì hứng thú
học môn GDTC. Đầu tiên, thành tích tạo thành một cái nền xúc cảm đúng
đắn, là tiền đề hứng thú học môn GDTC, sau đó khi hứng thú xuất hiện, nó
tạo nên một thành tích cao hơn nữa và thành tích này lại tiếp tục làm phát
triển và duy trì hứng thú học môn GDTC.
- Học sinh cần có thái độ đúng đắn với việc học tập, đối với bộ môn
GDTC. Nó được thể hiện ở 2 mặt:
+ Thái độ xúc cảm tích cực với việc học môn GDTC.
+ Thái độ có ý thức đối với việc học môn GDTC, hiểu được ý nghĩa
của việc học GDTC, ý nghĩa cá nhân cũng như xã hội của nó.

đấu và hiệu quả bài tập được nâng cao.


16

1.4.2 Đặc điểm sinh lý
- Ở lứa tuổi này cơ thể các em đã phát triển nhưng tốc độ giảm dần, chức
năng sinh lý tương đối ổn định, khả năng hoạt động của các cơ quan, bộ phận
của cơ thể được nâng cao, sự phát triển hình thể đã tương đối hoàn thiện.
Hệ thần kinh: Các bộ phận thần kinh đã khá hoàn thiện, kích thước não
hành tuỷ đạt đến mức của người trưởng thành hoạt động phân tích, tổng hợp
của vỏ não tăng. Trên vỏ não có các tri giác hoạt động có định hướng sâu sắc
hơn, khả năng nhận biết cấu trúc động tác và tái hiện chính xác khả năng vận
động được nâng cao, ngoài ra do việc hoạt động của các tuyến giáp trong
tuyến sinh dục cũng ảnh hưởng đến hoạt động thể dục thể thao, các bài tập
đơn điệu làm cho học sinh nhàm chán mệt mỏi. Vì vậy cần phải thay đổi
nhiều hình thức tập luyện.
Hệ cơ: Ở lứa tuổi này đang phát triển nhưng chậm hơn so với hệ xương,
số lượng sợi cơ tăng chậm nhưng chiều dài sợi cơ phát triển nhanh. Đàn tính cơ
tăng nhưng không đều, do đó để củng cố và phát triển sức nhanh, mạnh cần phát
triển sức bền và sức mạnh bền. Khi áp dụng các bài tập cần tăng dần lượng vận
động, tránh tăng lượng vận động đột ngột dễ dẫn tới chấn thương. Cơ không đều
chủ yếu là cơ nhỏ dài, do đó cơ hoạt động sớm dễ dẫn tới mệt mỏi.
Hệ tuần hoàn: Tiếp tục phát triển toàn diện. Tim đập 70 - 80 lần/phút.
Phản ứng của hệ tuần hoàn tương đối rõ rệt. Sau vận động mạch đập và
huyết áp phục hồi tương đối nhanh chóng, cho nên có thể tập các bài tập
mạnh, tốc độ hay dai sức. Ở lứa tuổi này diện tích tiếp xúc phổi khoảng 100 200 cm2. Dung lượng phổi tăng nhanh, tần số thở 10 - 20 lần/phút. Tuy nhiên
cơ vẫn còn yếu.
Hệ xương: Xương giảm tốc độ phát triển, sụn ở xương có độ dài nhưng
chuyển thành xương ụ. Cột sống đã ổn định về hình dáng nhưng chưa được

hoạt động học tập và tập luyện. Mục đích của hoạt động sư phạm trên lĩnh
vực GDTC:


18

- Tập luyện dạy, học tập để trang bị kiến thức, hiểu biết kỹ năng có liên
quan đến việc tăng cường sức khỏe và hoàn thiện thể chất.
- Giáo dục làm phát triển ý thức tự chăm sóc sức khỏe, hoàn thiện thể
chất bản thân cũng như phát triển năng lực hoạt động thể lực và nhân cách
học sinh nói chung trong quá trình GDTC và đời sống cá nhân.
- Góp phần chăm lo sức khỏe thể chất, tinh thần và xã hội cho học sinh,
sinh viên. Như vậy, GDTC là một mặt giáo dục tương đối độc lập và mang
tính đặc thù chuyên môn nhất định. Chính mục đích sư phạm trên đây đặt ra
những yêu cầu đối với giáo viên và học sinh trong quá trình GDTC.


19

CHƯƠNG 2
NHIỆM VỤ, PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU
2.1. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ 1: Thực trạng và nguyên nhân dẫn tới thiếu hứng thú học tập
môn GDTC của học sinh khối 11 trường THPT Tân Trào - Tuyên Quang.
Nhiệm vụ 2: Một số giải pháp nhằm nâng cao hứng thú học tập môn
GDTC cho học sinh khối 11 trường THPT Tân Trào - Tuyên Quang.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu
Đây là phương pháp thu thập thông tin bằng cách đọc và phân tích tài
liệu tham khảo, nghiên cứu lý luận, phát hiện ra những “khoảng trống” khoa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status