BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
--- ---
ĐẶNG DUY TÂN
TÁC ĐỘNG CỦA ĐÒN BẨY TÀI CHÍNH ĐẾN QUYẾT ĐỊNH
ĐẦU TƯ CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT - BẰNG CHỨNG
THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. Hồ Chí Minh – Năm 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
--- ---
ĐẶNG DUY TÂN
TÁC ĐỘNG CỦA ĐÒN BẨY TÀI CHÍNH ĐẾN QUYẾT ĐỊNH
ĐẦU TƯ CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT - BẰNG CHỨNG
THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS. TS. TRẦN NGỌC THƠ
2.1.1 Các nghiên cứu ngoài nước ................................................................................4
2.1.2 Nghiên cứu trong nước.....................................................................................14
2.2 Đầu tư và lợi nhuận .............................................................................................15
2.3 Đầu tư và thanh khoản ........................................................................................15
2.4 Đầu tư và doanh số ..............................................................................................16
2.5 Đầu tư và Tobin’Q ..............................................................................................16
2.6 Đầu tư và dòng tiền tự do ....................................................................................16
CHƯƠNG 3 – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU, MÔ HÌNH VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN
CỨU ..........................................................................................................................20
3.1 Cơ sở dữ liệu .......................................................................................................20
3.2 Phương pháp nghiên cứu.....................................................................................20
3.3 Mô hình nghiên cứu và các biến .........................................................................22
CHƯƠNG 4 – NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ...................................27
4.1.Phân tích cho toàn bộ mẫu ..................................................................................27
4.1.1. Thống kê mô tả các biến .................................................................................27
4.1.2.1. Kết quả hồi quy ............................................................................................27
4.1.2.2. Kiểm định các giả định hồi quy ...................................................................30
4.2.Phân tích cho trường hợp công ty có cơ hội tăng trưởng cao .............................34
4.2.1. Thống kê mô tả các biến .................................................................................34
4.2.2. Kết quả nghiên cứu tác động của đòn bẩy lên đầu tư .....................................34
4.2.2.1. Kết quả hồi quy ............................................................................................34
4.2.2.2. Kiểm định các giả định hồi quy ...................................................................37
4.2.2. Tóm lượt kết quả nghiên cứu so với kỳ vọng .................................................40
4.3.Phân tích cho trường hợp công ty có cơ hội tăng trưởng thấp ............................41
4.3.1. Thống kê mô tả các biến .................................................................................41
4.3.2. Kết quả nghiên cứu tác động của đòn bẩy lên đầu tư .....................................41
4.3.2.1. Kết quả hồi quy ............................................................................................41
4.3.2.2. Kiểm định các giả định hồi quy ...................................................................44
trưởngthấp .................................................................................................................47
TÓM TẮT
Nghiên cứu tác động của đòn bẩy tài chính đến đầu tư doanh nghiệp sử dụng số liệu
của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong khoảng giai
đoạn từ năm 2007 đến năm 2015. Nghiên cứu đóng góp thêm bằng chứng thực
nghiệm về tác động của đòn bẩy tài chính đến đầu tư doanh nghiệp.
Kết quả cho thấy mối quan hệ nghịch chiều giữa đòn bẩy tài chính và đầu tư doanh
nghiệp, đặc biệt là đối với các công ty tăng trưởng thấp. Kết quả này phù hợp với lý
thuyết đòn bẩy có vai trò hạn chế đầu tư quá mức đối với các công ty tăng trưởng
thấp.
Từ khóa: Đòn bẩy tài chính, đầu tư doanh nghiệp, FFM, cơ hội tăng trưởng
1
CHƯƠNG 1 – GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
1.1 Lý do chọn đề tài
Quyết định đầu tư là một quyết định quan trọng hàng đầu đối với mọi doanh nghiệp.
Mối quan hệ giữa quyết định tài trợ mà cụ thể là đòn bẩy với quyết định đầu tư là một
chủ đề nhận được rất nhiều sự quan tâm, cả trong giới học thuật cũng như thực hành
tài chính. Bản chất của mối quan hệ này là một mối quan hệ nội sinh, trong đó đòn
bẩy và quyết định đầu tư có tác động qua lại lẫn nhau. Do đó, việc nghiên cứu về mối
tương quan này đòi hỏi những kỹ thuật xử lý chặt chẽ trong các mô hình định lượng
để đưa ra các ước lượng chính xác.
Nghiên cứu về tác động của đòn bẩy và hoạt động đầu tư đã được tiến hành trên rất
nhiều thị trường, cả ở những thị trường đã và đang phát triển. Ở Việt Nam cũng có
một số nghiên cứu đề cập đến vấn đề này, tuy nhiên theo tìm hiểu của tác giả, các
nghiên cứu chưa xử lý triệt để được vấn đề nội sinh giữa hai biến này, dẫn đến độ tin
của doanh nghiệp tại Việt Nam. Tác giả đã thực hiện luận văn theo phương pháp
nghiên cứu định lượng cùng với sự hỗ trợ của phần mềm Stata. Mô hình của bài
nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng (data panel) với hai thước đo thay thế của đòn bẩy
và hồi quy theo ba phương pháp: pooling (hiệu ứng tổng hợp), random effect (hiệu
ứng ngẫu nhiên) và fixed effect (hiệu ứng cố định). Ðể tìm hiểu xem phương pháp
hồi quy nào là phù hợp nhất trong ba phương pháp trên, tác giả sử dụng hai kiểm định
Lagrangian Multiplier (LM test, Breusch và Pagan 1980) và kiểm định Hausman
(Hausman 1978).
Nguồn dữ liệu để phân tích là các báo cáo tài chính đã được kiểm toán của các công
ty được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (HSX) và
Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) trong khoản thời gian từ năm 2007 đến
năm 2015. Các dữ liệu được thu thập chủ yếu từ nguồn dữ liệu Khoa Tài Chính – Đại
học Kinh tế TP HCM và các website, ,
, .
Các quan sát thiếu số liệu hoặc các quan sát có số liệu dị biệt không có tính đại diện
cũng bị loại ra khỏi mẫu.
Dữ liệu về giá thị trường cổ phiếu là giá đóng cửa của các công ty được thu thập từ
hệ thống cơ sở dữ liệu của Sở giao dịch chứng khoán Thành Phố Hồ Chí Minh và Sở
3
giao dịch chứng khoán Hà Nội vào thời điểm giao dịch cuối cùng của năm nghiên
cứu.
Công ty được chọn trong mẫu quan sát có dữ liệu từ 2 năm trở lên. Sau khi thu thập
dữ liệu, kiểm tra dữ liệu, lọc bỏ các dữ liệu dị biệt. Nghiên cứu chỉ giữ lại những công
ty có dữ liệu đầy đủ cho tất cả các biến số mà nghiên cứu sử dụng trong mô hình.
Mẫu sau cùng trong nghiên cứu gồm 2593 quan sát từ năm 2007 đến năm 2015 thuộc
dạng dữ liệu bảng không cân bằng.
1.4 Bố cục của luận văn
lợi, dòng tiền hay và giá trị công ty như cầu trong tương lai, công nghệ sản xuất của
công ty, lãi suất thị trường. Để chứng minh nhận định này, F. Modigliani and M.H.
Miller đã đưa ra các giả định chủ yếu như:
-
Không có chi phí giao dịch khi mua và bán chứng khoán
-
Có đủ người mua và người bán trên thị trường, do đó không có một nhà đầu
tư riêng lẻ nào có ảnh hưởng lớn đến giá chứng khoán
-
Có sẵn thông tin liên quan cho tất cả các nhà đầu tư và không phải mất tiền
-
Không có chi phí phá sản
-
Tất cả các nhà đầu tư có thể vay hay cho vay với cùng mức lãi suất
-
Tất cả các nhà đầu tư có kỳ vọng đồng nhất về lợi nhuận cho một doanh nghiệp
-
nghiệp và mâu thuẫn giữa cổ đông và chủ nợ.
Mâu thuẫn giữa cổ đông và nhà quản lý do sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền
điều hành, tạo ra chi phí đại diện vốn cổ phần. Khi cổ đông bị giới hạn hoặc mất kiểm
soát đối với người quản lý thì phía người quản lý sẽ có động cơ tiến hành những hoạt
động có lợi cho bản thân và có thể làm nguy hại đến quyền lợi của cổ đông. Jensen
and Meckling (1976) gợi ý rằng: Vấn đề chi phí đại diện nghiêm trọng hơn trong các
doanh nghiệp có dòng tiền vượt quá mức cần thiết để thực hiện các dự án có hiện giá
ròng NPV dương. Ông gọi dòng tiền dôi dư này là dòng tiền tự do, và hậu quả là phát
sinh chi phí đại diện của dòng tiền tự do. Chi phí đại diện của vốn cổ phần cũng xuất
hiện trong tình huống các nhà quản lý đầu tư vào các dự án không thật sự hiệu quả
mà chưa được xét duyệt kỹ hoặc tham gia vào linh vực kinh doanh mà doanh nghiệp
không có lợi thế cạnh tranh. Với hành dộng như vậy, nhà quảnlý mới có thể gia tăng
quyền hạn của mình bằng cách thâu tóm nhiều nguồn lực hơn, tăng thu nhập hay giảm
rủi ro mất việc. Ðể giảm thấp mâu thuẫn đại diện, cổ đông chấp nhận bỏ ra chi phí
6
đại diện, như các khoản chi để giám sát hoạt động (ví dụ như hoạt động kiểm toán,
hệ thống kiểm soát nội bộ), chi để cấu trúc lại tổ chức nhằm hạn chế các hành vi
không mong muốn, và các chi phí cơ hội khi các cổ đông áp đặt các giới hạn cho ban
quản lý.
Mâu thuẫn giữa cổ đông và chủ nợ tạo ra chi phí đại diện của nợ. Cổ đông có thể
chiếm hữu tài sản của trái chủ bằng cách gia tăng rủi ro đầu tư (Jenshen và mackling
1976). Myers (1977) cho rằng sự hiện diện của nợ có thể khiến những dự án có NPV
dương bị từ chối. Do nếu chấp nhận dự án này thì rủi ro tài chính sẽ tăng (rủi ro phá
sản) và giá trị sẽ chuyển từ chủ nợ sang các cổ đông. Do đó, chủ nợ sẽ đòi hỏi mức
lãi suất cao hơn và xây dựng các điều khoản hạn chế trong các hợp đồng vay vốn, với
những điều khoản này cản trở hoạt động của các doanh nghiệp ở một vài khía cạnh
nào đó. Các chủ nợ còn sử dụng các công cụ giám sát các doanh nghiệp, đảm bảo
công ty tăng trưởng cao. Phân tích mẫu lớn các côngty Mỹ trong những năm 1976,
1986 và 1988.
Bài nghiên cứu này được thúc đẩy bởi các công trình lý thuyết của Myers(1977),
Jensen (1986), Shleifer và Vishny (1986), Stulz (1988, 1990), vàMerck, Shleifer, và
Vishny (MSV) (1988), và các nghiên cứu thực nghiệmcủa MSV (1988) và McConnell
và Servaes (1990). Các kết quả trước thừanhận rằng nợ có cả tác động tích cực và tác
động tiêu cực đến giá trị của công ty và quyết định đầu tư của côngty dựa trên ảnh
huởng của nợ. Dựatrên nghiên cứu lý thuyết trước, tác giả đưa ra giả thuyết mối quan
hệ giữagiá trị doanh nghiệp và đòn bẩy là nghịch chiều đối với các công ty tăngtrưởng
cao, và mối quan hệ giữa giá trị doanh nghiệp và đòn bẩy là thuậnchiều đối với các
công ty tăng trưởng thấp.
Nghiên cứu kiểm tra mối quan hệ giữa giá trị doanh nghiệp, đòn bẩy, quyềnsở
hữu.Kết quả cho thấy rằng giá trị doanh nghiệp tỷ lệ nghịch với đòn bẩy ở các doanh
nghiệp có cơ hội tăng trưởng cao (chỉ ra bởi Tobin’s Q cao), và tỷ lệ thuận với đòn
bẩy ở các doanh nghiệp có cơ hội tăng trưởng thấp (chỉ ra bởi Tobin’s Q thấp). Kết
quả của họ phù hợp với giả thuyết cho rằng đòn bẩy gây ra đầu tư dưới mứcvà làm
giảm giá trị doanh nghiệp.
Lang và cộng sự (1996)phân tích một mẫu lớn gồm các doanh nghiệp trongngành
công nghiệp của Mỹ trong giai doạn 1970 đến 1989 và nhận thấy có một mốiquan hệ
8
ngược chiều mạnh tồn tại giữa đòn bẩy và đầu tư nhưng chỉ đối với các doanh nghiệp
có cơ hội tăng trưởng yếu (Tobin’s Q < 1). Ngoài ra kết quả của tác giả cũng phù hợp
với giả thiết cho rằng đòn bẩy giúp hạn chế đầu tư vào những dự án tồi. Ðể thể hiện
vấn đề nội sinh được đề cập trước đây, đòn bẩy là đại diện cho cơ hội tăng trưởng,
Lang cùng cộng sự (1996) phân biệt tác động của đòn bẩy lên tăng trưởng trong lĩnh
vực hoạt động chính của doanh nghiệp và lĩnh vực khác. Tác giả xác định là liệu rằng
đòn bẩy tài chính có phải là đại diện cho cơ hội tăng trưởng hay không, tác động của
các DNNN tăng trưởng và cứu vớt các doanh nghiệp này khỏi thua lỗ và phá sản.
Chính vì có được những ưu đãi trong quá trình hoạt động nên các doanh nghiệp này
thường ít quan tâm đến tính hiệu quả khi sử dụng khoản vay để đầu tư. Vì vậy mối
quan hệ giữa vay nợ và đầu tư là thuận chiều nhau.
Aivazian và cộng sự (2005) Nghiên cứu mở rộng các nghiên cứu thực nghiệm trước
đây về mối quan hệ giữa đòn bẩy tài chính và đầu tư trong một vài khía cạnh quan
trọng, bao gồm cả các vấn đề nội sinh. Tác giả kiểm tra các mối quan hệ của 863 công
ty với 6231 quan sát dạng dữ liệu bảng không cân bằng ở Canada từ năm 1982 đến
năm 1999, tác giả kiểm tra mức độ ảnh hưởng của đòn bẩy tài chính đến quyết định
đầu tư của công ty ở cả trường hợp các công ty tăng trưởng cao và các công ty tăng
trưởng thấp. Nghiên cứu tìm ra mối quan hệ nghịch chiều giữa đòn bẩy tài chính và
đầu tư của doanh nghiệp, tác động nghịch chiều này mạnh hơn đáng kể đối với các
công ty tăng trưởng thấp so với các công ty tăng trưởng cao. Tác động nghịch chiều
đối với các cách đo lường đòn bẩy khác nhau, với các mẫu khác nhau, và với các
phương pháp kinh tế lượng thay thế. Kết quả đặc biệt giải thích cho lý thuyết cho
rằng đòn bẩy có vai trò xử lý kỷ luật cho các công ty tăng trưởng thấp, hạn chế đầu
tư vào các dự án tồi.
Ahn và cộng sự (2006) sử dụng dữ liệu bảng không cân bằng của 796 công ty UK
với 8.674 quan sát từ năm 1982 đến năm 1997 nghiên cứu ảnh huởng của đòn bẩy tài
chính đến đầu tư ở các công ty nghiên cứu, kết quả thấy rằng các công ty đa ngành
sử dụng nhiều đòn bẩy hơn các công ty đơn ngành. Mặc dù có đòn bẩy cao hơn so
với các công ty đơn ngành tác giả thấy rằng các công ty đa ngành đầu tư nhiều hơn
so với các công ty tập trung khi đầu tư chi phí sử dụng vốn cho việc bán hàng.
Những nghiên cứu trước cho thấy rằng đòn bẩy sẽ hạn chế đầu tư. Ðiều này có thể có
giá trị cho cổ đông nếu công ty tăng trưởng kém và có ít cơ hội tăng trưởng. Trong
10
các công ty đó, nợ có thể đóng một vai trò tích cực như hạn chế quyết định của các
Johnson (2003), Billet và cộng sự (2007) nghiên cứu ảnh hưởng của cơ hội đầu tư
dựa vào đòn bẩy, đáo hạn nợ với sự ưu đãi trong đầu tư và rủi ro thanh khoản liên
quan đến nợ ngắn hạn. Họ cho rằng các doanh nghiệp có cơ hội tăng trưởng cao áp
dụng đòn bẩy tài chính thấp hay sử dụng đáo hạn nợ ngắn hạn để làm suy giảm tác
động tiêu cực giữa đòn bẩy và đầu tư của doanh nghiệp.
Mohanprasadding Odit và Chitto (2008) cho rằng các công ty Mauritius đóng một
vai trò quan trọng trong việc góp phần tăng trưởng kinh tế. Ðể đạt được mục tiêu của
mình các doanh nghiệp cần quản lý hiệu quả nguồn vốn của họ. Ðể đáp ứng cho các
công ty cạnh tranh toàn cầu cần có vốn đầu tư lớn vào công nghệ hiện đại, cơ sở hạ
tầng, phát triển sản phẩm và quảng bá sản phẩm và như vậy các khoản đầu tư này có
thể thúc đẩy năng suất và hiệu quả.
Ðòn bẩy tài chính là một trong các nguồn tài trợ cho đầu tư. Theo cách hiểu đơn giản,
đòn bẩy tài chính là số tiền nợ sử dụng để tài trợ cho tài sản và các dự án của công ty.
Ngày nay, đòn bẩy tài chính được xem là nguồn tài trợ quan trọng để sản xuất hàng
hóa và dịch vụ cũng như để phân phối. Ðòn bẩy tài chính là một phần quan trọng
trong cơ cấu vốn cùng với vốn chủ sở hữu và lợi nhuận giữ lại. Một trong những tranh
luận chính của tài chính doanh nghiệp là tác động của đòn bẩy tài chính đến đầu tư
công ty.
Tác giả mở rộng những nghiên cứu trước đây của Myers (1977), Jensen (1986), Stulz
(1988, 1990), và nghiên cứu thực nghiệm của McConnell và Servaes (1990), áp dụng
mô hình nghiên cứu của Aivazian (2005). Nghiên cứu kiểm định mối quan hệ giữa
đòn bẩy và đầu tư với mẫu gồm 27 công ty Mauritian được niêm yết trên thị truờng
chứng khoán của Mauritius từ năm 1990 đến năm 2004.
Nghiên cứu thấy rằng đòn bẩy có tác động nghịch chiều đáng kể đến đầu tư, cho thấy
rằng cơ cấu vốn đóng một vai trò quan trọng trong chính sách đầu tư của công ty. Sau
khi phân chia mẫu theo 2 trường hợp các công ty tăng trưởng thấp và các công ty tăng
trưởng cao. Trong khi mối quan hệ nghịch chiều vẫn tồn tại đối với công ty tăng
trưởng thấp thì mối quan hệ nghịch chiều giữa đầu tư và đòn bẩy là không có ý nghĩa
thống kê đối với các công ty tăng trưởng cao.
tài
chính
đến
quyết
định
đẩu
tư
Nghiên cứu đưa ra ba vấn đề chính:
Ðầu tiên, có một mối quan hệ nghịch chiều giữa đòn bẩy tài chính và đầu tư.
Thứ hai, mối quan hệ nghịch chiều giữa đòn bẩy và đầu tư yếu hơn trong
cácdoanhnghiệp có cơ hội tăng trưởng thấp và hiệu suất hoạt động kém so vớicác
doanh nghiệp có cơ hội tăng trưởng cao và hiệu suất hoạt động tốt.
Thứ ba, mối quan hệ nghịch chiều giữa đòn bẩy và đầu tư là yếu hơn trong các công
ty với một mức độ cổ phần nhà nuớc cao hơn trong các công ty vớimức độ cổ phần
nhà nước thấp.
Nhìn chung, kết quả này là phù hợp với giả thuyết cho rằng các ngân hàng nhà nước
ở Trung Quốc có xu huớng ít áp đặt những hạn chế vào các khoản đầu tư tăng trưởng
thấp của các công ty niêm yết và các công ty có sở hữu nhà nuớc cao. Nghiên cứu
cho thấy rằng nghĩa vụ chính trị của ngân hàngnhà nước Trung Quốc hỗ trợ các công
ty đang gặp khó khăn làm cho họ không thể đóng một vai trò kỷ luật trong việc ngăn
nghiên cứu đóng góp các tài liệu về các nền kinh tế chuyển tiếp bằng cách phân biệt
14
chức năng giám sát của các loại cổ dông nhà nước khác nhau theo quá trình tư nhân
hóa từng bước của Trung Quốc. Kết quả nghiên cứu có thể đóng góp sự hiểu biết
không chỉ về sự khác biệt trong hành vi đầu tư cổ phiếu niêm yết các công ty có sở
hữu khác nhau, nhưng cũng có tính chất và đặc điểm của cải cách kinh tế ở Trung
Quốc
2.1.2 Nghiên cứu trong nước
Nguyễn Thị Ngọc Trang và cộng sự (2013) sử dụng mẫu gồm 264 công ty niêm yết
trước năm 2010 trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP. HCM (HOSE) và Sở Giao dịch
Chứng khoán Hà Nội (HNX), thời kỳ phân tích giai đoạn 2009 – 2011. Mô hình
nghiên cứu của bài sử dụng dữ liệu bảng (panel data) được hồi quy theo ba cách:
pooling, random effect (hiệu ứng ngẫu nhiên), và fix effect (hiệu ứng cố định). Kết
quả nghiên cứu cho thấy đòn bẩy tác động thuận chiều lên quyết định đầu tư và có ý
nghĩa thống kê đối với kết quả toàn mẫu và đối với nhóm công ty tăng trưởng cao.
Do đa số các công ty trong mẫu đều có yếu tố sở hữu nhà nước nên các công ty này
thường dễ nhận được các điều kiện vay ưu đãi mà không cần xét đến tính hiệu quả
khi sử dụng những khoản vay này để đầu tư. Ðối với nhóm công ty tăng trưởng thấp
thì đòn bẩy có tác động nghịch chiều lên đầu tư. Mặc dù các công ty này vẫn có thể
tận dụng mối quan hệ để có thể tăng vay nợ cho đầu tư dễ dàng, nhưng do lo ngại
việc vay mượn làm tăng khả năng phá sản nên không thực hiện tăng đòn bẩy để đầu
tư.
Phan Thị Bích Nguyệt và cộng sư (2012) tiến hành nghiên cứu với mẫu 630 các
công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán VN từ năm 2007 đến 2012 về mối tương
quan giữa đòn bẩy và quyết định đầu tư. Sau khi đã xử lý các vấn đề nội sinh tiềm
tàng, kết quả nghiên cứu cho thấy đòn bẩy có tương quan âm với đầu tư của doanh
nghiệp. Ðặc biệt mối tương quan này có sự khác biệt giữa các công ty có triển vọng
thanh khoản là một trong những yếu tố quan trọng tác động đến đầu tư và tác động
này là thuận chiều.
Myers and Rajan (1998) cho rằng những tài sản thanh khoản thì dễ dàng thực hiện
những nghĩa vụ tài chính và do đó tài sản thanh khoản là một điểm cộng cho các công
16
ty phi tài chính và những nhà đầu tư cá nhân. Thanh khoản và đầu tư có mối tương
quan thuận chiều nhau.
2.4 Đầu tư và doanh số
Kopcke and Howrey (1994) thấy rằng chi tiêu vốn của nhiều công ty có tương quan
yếu với doanh số và lợi nhuận của họ. Sự khác biệt này cho thấy doanh số và lợi
nhuận không đại diện đầy đủ cho một động cơ đầu tư.
Athey and Laumas (1994) sử dụng dữ liệu bảng giai đoạn 1978-1986 để xem xét
mối quan hệ quan trọng giữa việc gia tăng doanh số và các nguồn thay thế thanh
khoản nội bộ đối với hoạt động đầu tư của 256 công ty sản xuất Ấn Độ. Họ thấy rằng
giá trị hiện tại của những thay đổi trong doanh thu thuần và lợi nhuận thuần là những
yếu tố quan trọng tác động dương tới chi tiêu vốn của các công ty.
Azzoni and Kalatzis (2006) xem xét tầm quan trọng của doanh số đối với quyết định
đầu tư của các công ty. Họ cho thấy rằng doanh số có mối tương quan dương quan
trọng đối với đầu tư trong tất cả các trường hợp nghiên cứu.
2.5 Đầu tư và Tobin’Q
Tobin’s Q là giá thị trường của tổng tài sản của công ty chia cho giá trị sổ sách của
tổng tài sản và là đại diện cho các cơ hội tăng trưởng. Khi chỉ số Q lớn hơn 1, thì
công ty nên tiến hành đẩy mạnh đầu tư vì lợi nhuận tạo ra sẽ vượt hơn chi phí mua
tài sản của công ty.
Lang và cộng sự (1996) hay Aivazian và cộng sự (2005) cho thấy tác động giữa
biến Tobin’s Q và biến đầu tư là thuận chiều. Các công ty có chỉ số Tobin’s Q cao
thường có nhiều cơ hội đầu tư tốt hơn và các công ty này thường hấp dẫn nhà đầu tư
Kết quả từ Tác giả
đến quả kỳ các
nghiên
đầu tư
vọng
cứ trước đây
Leverage
-
-
-
Lang và cộng sự (1996)
-
-
Myer (1977)
-
-
Lang et al (1996)
-
-
Peyer and Shivdasani (2001)
-
-
Ahn et al.(2006)
-
-
Aivazian et al (2005)
-
-
Odit Chittoo (2008)
+
Chamberlain and Gordon (1989)
(LIQ)
+
-
Myers and Rajan (1998)
Profitability +
+
-
Glyn (1997)
(Profit)
+
-
Korajczyk and Levy (2003)
+
-