SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
TRƯỜNG THPT ĐÁC LUA
Mã số: ................................
(Do HĐTĐSK Sở GD&ĐT ghi)
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÍ
NHẰM GIẢM DẦN TỈ LỆ HỌC SINH YẾU KÉM
VỀ HỌC LỰC TẠI TRƯỜNG THPT ĐẮC LUA,
HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
Người viết: LÊ MINH TUYẾN.
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục
- Phương pháp giáo dục
- Phương pháp dạy học bộ môn: .............................
(Ghi rõ tên bộ môn)
- Lĩnh vực khác: .......................................................
(Ghi rõ tên lĩnh vực)
Có đính kèm: Các sản phẩm không thể hiện trong bản in sáng kiến
Mô hình
Đĩa CD (DVD)
Nhiệm vụ được giao (quản lý, đoàn thể, công việc hành chính, công việc
chuyên môn, giảng dạy môn, lớp, chủ nhiệm lớp,…): Quản lý trường học
9. Đơn vị công tác: Trường THPT Đắc Lua – Tân Phú
II.
TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO
- Học vị (hoặc trình độ chuyên môn, nghiệp vụ) cao nhất: Cử nhân
- Năm nhận bằng: 1994
- Chuyên ngành đào tạo: Toán
III. KINH NGHIỆM KHOA HỌC
- Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: Quản lý trường học
Số năm có kinh nghiệm: 17 năm
- Các sáng kiến đã có trong 5 năm gần đây:
1)Quản lý xây dựng trường học thân thiện học sinh tích cực
2)Đổi mới công tác quản lý hoạt động day và học của trường thpt đăc lua.
3)Hiệu trưởng chỉ đạo công tác chủ nhiệm ở cấp trung học phổ thông trong giai
đoạn hiện nay
4)một số biên pháp nâng cao chất lượng công tác kiểm tra nội bộ
2
2
BM04-NXĐGSK
SỞ GD&ĐT ĐỒNG NAI
TRƯỜNG THPT ĐẮC LUA
–––––––––––
- Lĩnh vực khác: ........................................................
Sáng kiến đã được triển khai áp dụng: Tại đơn vị
Trong ngành
Tính mới (Đánh dấu X vào 1 trong 4 ô dưới đây)
Chỉ lập lại, sao chép từ các giải pháp, đề xuất đã có
Chỉ thay thế một phần giải pháp, đề xuất đã có với mức độ trung bình hoặc lần đầu áp dụng giải pháp ứng dụng tiến bộ
kỹ thuật mới đã có tại đơn vị và đã khắc phục được hạn chế trong thực tế của đơn vị
Chỉ thay thế một phần giải pháp, đề xuất đã có với mức độ khá
Chỉ thay thế một phần giải pháp, đề xuất đã có với mức độ tốt hoặc giải pháp, đề xuất thay thế hoàn toàn mới
so với giải pháp, đề xuất đã có
Hiệu quả (Đánh dấu X vào 1 trong 5 ô dưới đây)
Không có minh chứng thực tế hoặc minh chứng thực tế chưa đủ độ tin cậy, độ giá trị
Có minh chứng thực tế đủ độ tin cậy, độ giá trị để thấy sáng kiến có thay thế một phần giải pháp, đề xuất đã
có hoặc lần đầu áp dụng giải pháp ứng dụng tiến bộ kỹ thuật mới tại đơn vị
Có minh chứng thực tế đủ độ tin cậy, độ giá trị để thấy được hiệu quả giải pháp, đề xuất của tác giả thay thế hoàn toàn
mới giải pháp, đề xuất đã có được triển khai thực hiện tại đơn vị
Có minh chứng thực tế đủ độ tin cậy, độ giá trị để thấy được sáng kiến đã thay thế một phần giải pháp, đề xuất
đã có trong toàn ngành; được Phòng GD&ĐT hoặc Sở GD&ĐT triển khai thực hiện
Có minh chứng thực tế đủ độ tin cậy, độ giá trị để thấy được sáng kiến đã thay thế hoàn toàn mới giải pháp, đề xuất đã
có trong toàn ngành; được Phòng GD&ĐT hoặc Sở GD&ĐT triển khai thực hiện
XÁC NHẬN CỦA
TỔ/PHÒNG/BAN
(Ký tên và ghi rõ họ tên)
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
(Ký tên, ghi rõ
họ tên và đóng dấu của đơn vị)
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÍ NHẰM GIẢM DẦN TỈ LỆ HỌC SINH YẾU
KÉM VỀ HỌC LỰC TẠI TRƯỜNG THPT ĐẮC LUA, HUYỆN TÂN PHÚ,
TỈNH ĐỒNG NAI
I.
LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI :
Hiện nay, hơn bao giờ hết vấn đề chất lượng đào tạo là vấn đề luôn được sự
quan tâm đặc biệt trong các trường học. Đó là tín hiệu đáng mừng đối với những
người quan tâm đến sự nghiệp giáo dục. Trước đòi hỏi rất cao của thực tiễn cuộc
sống, diễn biến thay đổi một cách nhanh chóng theo sự phát triển của thời đại, đặt ra
yêu cầu chất lượng giáo dục phải đáp ứng tương xứng. Vì vậy, các nhà trường không
thể không chăm lo cho “ sản phẩm ” của mình. Kết quả cho thấy, chất lượng trong
những năm qua ở các nhà trường nhìn chung đã có những bước chuyển biến mới. Tuy
nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được đối với chất lượng đào tạo, luôn tồn tại một
vấn đề bức xúc đòi hỏi phải giải quyết, đó là vấn đề học sinh yếu kém.
Có thể nói, vấn đề học sinh yếu kém luôn là vấn đề được đề cập rất nhiều
trong các bản kế hoạch của các đơn vị trường học. Nhưng tiếc thay, đề cập nhiều chắc
gì đã thu được kết quả tốt. Thực tế đã chứng minh điều đó. Ở trường chúng tôi là
một dẫn chứng cụ thể, kết quả xếp loại học lực một số năm gần đây như sau:
Cuối
năm học
Dưới.TB
SL
%
20142015
568
65
11,
4
98
17,3 269 47,4 113
19,
9
23 4,0
13
6
23,
9
4
Trường THPT Đắc Lua là một đơn vị thuộc vùng miền núi của huyện Tân Phú
tỉnh Đồng Nai, gặp rất nhiều khó khăn về điều kiện kinh tế cũng như văn hóa xã hội.
Học sinh nhiều em chưa đủ ăn no, mặc ấm. Nhìn các em nhếch nhác đẩy chiếc xe đạp
cà tàng trên những đoạn đường lầy lội trơn trượt với khuôn mặt gầy đen, môi bầm
tím mà đáng thương làm sao! Có những em nhà xa trường , phải dậy đi học lúc tờ mờ
sáng. Những hôm học cả ngày vẫn còn cơm đùm, cơm nắm như trong chuyện ngày
xưa! Nhiều em suốt nhiều năm đi học không có một cuốn sách giáo khoa mới. Nhiều
em bố mẹ lăn lộn trăm bề mà vẫn thường xuyên bị nhà trường nhắc nhở về chậm trễ
trong việc nộp tiền đóng góp các khoản. Nhiều em không được đi học thêm vì thiếu
tiền. Có nhiều trường hợp, nhà trường miễn tiền học thêm cho các em nhưng bố mẹ
lại bắt ở nhà để đỡ đần công việc đồng áng, phụ giúp thêm kinh tế gia đình… Giáo
viên nhìn thấy điều đó không? Các nhà giáo tâm huyết ở đây nhìn thấy rất rõ điều đó.
Vấn đề là làm sao để giúp đỡ cho các em? Trong khi đó, nhiều nhà giáo ở đơn vị
chúng tôi là giáo viên xa nhà độc thân. Những nhà giáo hết sức thương yêu học sinh
nhưng phần lớn cũng chỉ bằng tình thương tội nghiệp mà thôi! Chỉ có thể trao cho các
em bằng những con chữ nếu vận động được các em đến lớp chuyên cần. Một số trong
đó không thể vô tư tâm huyết được nhiều cho sự nghiệp giáo dục vùng khó khăn.
Ngoài ra, chất lượng đội ngũ giáo viên vùng khó khăn, vì nhiều lí do nên không thể
bằng được ở những vùng thuận lợi. Đó có phải là một trong những lí do “ những vùng
khó khăn thường là vùng trũng của chất lượng giáo dục” không? Ngẫm ra, câu nói
này thật hay mà đúng.
Một vài nét về học sinh, giáo viên vùng khó như vậy để thấy rằng, công tác
giảm dần tỉ lệ học sinh yếu kém nói chung của các nhà trường vốn rất khó khăn thì sự
khó khăn đối với đơn vị như chúng tôi lại càng bị nhân lên gấp bội.
Đối chiếu với những yêu cầu về mục tiêu, nội dung và phương pháp của giáo dục bậc
phổ thông, không phải bao giờ chúng ta cũng đạt được như mong muốn. Trên thực tế,
hầu khắp các trường phổ thông luôn tồn tại một tỷ lệ đáng kể và rất đáng quan tâm về
Nội dung của giáo dục phổ thông là “ Phải củng cố, phát triển những nội dung
đã học ở Tiểu học, bảo đảm cho học sinh có những hiểu biết phổ thông cơ bản về
tiếng Việt, toán, lịch sử dân tộc, kiến thức về khoa học xã hội, khoa học tự nhiên,
pháp luật, tin học, ngoại ngữ; có những hiểu biết cần thiết tối thiểu về kỹ thuật và
hướng nghiệp” (Luật Giáo dục ).
2. Thực trạng và nguyên nhân học sinh yếu kém về học lực:
2.1 Thực trạng
Trường THPT Đắc Lua là một đơn vị thuộc vùng miền núi của huyện Tân Phú
tỉnh Đồng Nai, gặp rất nhiều khó khăn về điều kiện kinh tế cũng như văn hóa xã hội.
Học sinh nhiều em chưa đủ ăn no, mặc ấm. Nhìn các em nhếch nhác đẩy chiếc xe đạp
cà tàng trên những đoạn đường lầy lội trơn trượt với khuôn mặt gầy đen, môi bầm
tím mà đáng thương làm sao! Có những em nhà xa trường , phải dậy đi học lúc tờ mờ
sáng. Những hôm học cả ngày vẫn còn cơm đùm, cơm nắm như trong chuyện ngày
xưa! Nhiều em suốt nhiều năm đi học không có một cuốn sách giáo khoa mới. Nhiều
em bố mẹ lăn lộn trăm bề mà vẫn thường xuyên bị nhà trường nhắc nhở về chậm trễ
trong việc nộp tiền đóng góp các khoản. Nhiều em không được đi học thêm vì thiếu
tiền. Có nhiều trường hợp, nhà trường miễn tiền học thêm cho các em nhưng bố mẹ
6
6
lại bắt ở nhà để đỡ đần công việc đồng áng, phụ giúp thêm kinh tế gia đình… Giáo
viên nhìn thấy điều đó không? Các nhà giáo tâm huyết ở đây nhìn thấy rất rõ điều đó.
Vấn đề là làm sao để giúp đỡ cho các em? Trong khi đó, nhiều nhà giáo ở đơn vị
chúng tôi là giáo viên xa nhà độc thân. Những nhà giáo hết sức thương yêu học sinh
nhưng phần lớn cũng chỉ bằng tình thương tội nghiệp mà thôi! Chỉ có thể trao cho các
em bằng những con chữ nếu vận động được các em đến lớp chuyên cần. Một số trong
đó không thể vô tư tâm huyết được nhiều cho sự nghiệp giáo dục vùng khó khăn.
Ngoài ra, chất lượng đội ngũ giáo viên vùng khó khăn, vì nhiều lí do nên không thể
tập là những em thiếu ý thức tự giác, mải chơi, không tập trung chăm lo bài vở. Đa
số những em buông trôi việc học hành là vốn dĩ do học yếu nhưng không có chí
hướng phấn đấu vượt khó vươn lên, để đến đâu thì đến. Còn những em lười học, đa
số là thiếu tính kỷ luật học tập, có thể có những em học lực trước đó là khá nhưng sự
lười nhác đã dẫn đến hậu quả yếu kém.
c) Một số học sinh yếu kém do tác động mặt trái của việc thực hiện đổi mới
phương pháp dạy học mà một số giáo viên chưa chú ý khắc phục mặt trái này:
Những mặt trái đó thể hiện ví dụ như : trong các hoạt động nhóm, chỉ có một
số em là thực sự hoạt động mà thôi. Thực tế, tôi đã có nhiều lần đi dự giờ thăm lớp,
nhiều lần dự giờ tại một lớp và nhận thấy: trong một số nhóm học sinh, khi nhận công
việc giáo viên giao, cả nhóm cùng xúm lại nhưng chỉ có một vài em là làm việc thực
sự ( các em khác chỉ xúm vào xem). Khi báo cáo kết quả, cũng chỉ có những em làm
việc thực sự đó báo cáo. Một số lần khác dự giờ trở lại lớp đó, cũng xẩy ra tình trạng
tương tự, có nghĩa là vẫn những em thực sự làm việc đó báo cáo, còn những em khác
tiếp tục ngồi xem ! Trong một số nội dung giành cho học sinh độc lập suy nghĩ, tích
cực chủ động dưới sự hướng dẫn của giáo viên, nhiều em đã không tự giác làm việc
dẫn đến đã yếu kém lại càng tụt hậu.
Nếu không có biện pháp khắc phục tình trạng này thì đây là một nguyên nhân
mới đáng kể làm gia tăng tỷ lệ học sinh yếu kém.
Ngoài ra, nội dung chương trình giáo dục phổ thông của chúng ta hiện nay còn
có những vấn đề nặng về tính hàn lâm, ôm đồm, không sát thực tế nhu cầu hướng tới
phát triển cá nhân học sinh. Tuy vậy, vẫn buộc học sinh phải học, mặc dù việc học tập
đó các em không hứng thú và không mang lại lợi ích thiết thực nào. Học sinh phải
gồng mình lên đối phó với yêu cầu của giáo viên. Việc học này không có chiều sâu.
Vì vậy, càng học nhiều, càng quên nhiều. Mặc dù nhiều em học sinh, ngoài việc học
chính khóa, học thêm ở trường, bố mẹ còn bắt đi học thêm ở ngoài. Vậy mà yếu kém
vẫn hoàn yếu kém.
d) Nhằm chạy đua thành tích đạt tỷ lệ cao và đúng độ tuổi của công tác phổ cập
giáo dục, đã dẫn đến tình trạng có nhiều học sinh “ ngồi nhầm lớp”:
quản lý dẫn đến con cái ăn chơi, đua đòi lêu lổng… Lại có những em học yếu hoặc
bỏ học do gặp phải những hoàn cảnh khác …
Ngoài ra, còn có những học sinh học yếu có ý thức phấn đấu nhưng chưa có
phương pháp, chưa nhận được sự giúp đỡ của các lực lượng giáo dục trong và ngoài
nhà trường… dẫn đến các em vẫn không tiến bộ được.
Một điều đáng quan tâm, đó là Ban Giám hiệu nhà trường, các đoàn thể, tập thể
giáo viên đã chú trọng đến công tác này hay chưa? Có nhiều trường hợp, Ban Giám
hiệu và giáo viên đều nhìn thấy tình trạng học sinh học yếu là đáng báo động, song
thấy là chỉ để thấy, nói là chỉ để nói nhưng động thì không động, làm thì không làm
hay nói đúng hơn là chưa thực sự làm, hoặc làm sơ sài, hoặc thiếu phương pháp,
thiếu kế hoạch, biện pháp cụ thể và hiệu quả, hoặc có khi bi quan cho rằng không thể
cải thiện được tình hình , đổ lỗi với nhiều lý do khác…
Tóm lại, kết quả sự học yếu của học sinh có thể là do nhiều nguyên nhân khác
nhau. Vấn đề mấu chốt của các nhà sư phạm là phải chỉ ra đúng nguyên nhân của từng
9
9
trường hợp, đối tượng cụ thể để có biện pháp khắc phục đúng đắn, phù hợp và hiệu
quả.
2. Thực trạng và nguyên nhân không thành công về công tác quản lí nhằm giảm
dần tỷ lệ học sinh yếu kém trong những năm qua.
2.1. Thực trạng về công tác quản lí nhằm giảm dần tỷ lệ học sinh yếu kém trong
những năm qua.
Về công tác chỉ đạo, quản lí nhằm khắc phục dần tình trạng học sinh yếu kém,
có thể nói bất cứ trường nào cũng đều quan tâm, ở mức độ khác nhau, đều tìm những
giải pháp nhất định để thực hiện điều này. Trước thực trạng về tình hình học sinh yếu
kém về học lực như đã nêu trên, ở trường chúng tôi đã tiến hành một số biện pháp
nhằm giảm dần tỉ lệ học sinh yếu kém này. Cụ thể, đó là một số biện pháp như sau:
khung chương trình dạy học phù hợp.
d.Các giải pháp đưa ra nhiều lúc mang tính đối phó cục bộ, hành chính, thiếu tính hệ
thống, thiếu chiều sâu, không thể giải quyết được tình hình.
III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP
1. Giải pháp:
Trên cơ sở đánh giá thực trạng, tìm hiểu nguyên nhân học sinh yếu kém, chúng
tôi đã đề xuất và thể nghiệm một số giải pháp mang lại hiệu quả khả quan như sau :
- Thu thập thông tin, tìm hiểu thấu đáo nguyên nhân học sinh học yếu đối với từng
trường hợp cụ thể để từ đó có biện pháp khắc phục phù hợp.
Điều này đòi hỏi giáo viên phải thực sự tâm huyết, nhiệt tình mới có thể đạt
được thành công. Muốn tìm hiểu nguyên nhân học sinh học yếu, cần thường xuyên
sát sao với từng em cụ thể. Ngoài việc tìm hiểu thu thập thông tin tại lớp, tại trường,
giáo viên phải biết thêm tình hình từng đối tượng học sinh lúc ở nhà và ngoài xã hội,
từ đó, đề ra các giải pháp tương ứng, phù hợp.
Biện pháp này có thể tiến hành theo nhiều cách, nhiều hình thức, trong đó có
những hình thức đã áp dụng hiệu quả như sau :
- Đưa vào nội dung sinh hoạt chuyên đề trong tổ chuyên môn của nhà trường, yêu cầu
cơ bản là thu thập thông tin về : nguyên nhân tại sao học sinh học yếu? đồng chí đã
đề xuất những giải pháp gì (nêu cụ thể )? thực hiện như thế nào ? kết quả ra sao ? v.
v… Sau đó cho thảo luận, tổng hợp ý kiến.
- Phát phiếu thăm dò trong học sinh. Nội dung cơ bản của phiếu là: mức độ học lực
thực tế của em ( học sinh ) như thế nào ? em học yếu môn nào ? nguyên nhân học
yếu ? sách vở đồ dùng học tập của em thiếu cái gì ? các bậc phụ huynh quan tâm đến
việc học của em như thế nào ? kế hoạch và thời gian biểu tự học của em ra sao ? sở
thích của em là gì ? kế hoạch phấn đấu học tập của em như thế nào ?…Những yêu
cầu, đề xuất của em : về công tác tổ chức dạy học của nhà trường ( kể cả chính khoá
và học thêm ) ? về nội dung, phương pháp giảng dạy các bộ môn của các giáo viên
như thế nào ? v.v…
11
của các em.
Cuối học kỳ I: kết hợp thông tin từ phía giáo viên giảng dạy các bộ môn chính
khóa, giáo viên dạy phụ đạo và kết quả chất lượng trên sổ điểm, chính thức rà soát lập
lớp phụ đạo cho cả năm học.
Trong năm học lớp 6 và 10, do nhiều nguyên nhân, có thể chưa hoàn thiện được
việc lấp đầy “ lỗ hổng” kiến thức từ Tiểu học, THCS. Chúng ta tiếp tục kiên trì tổ
chức phụ đạo cho các em ở các lớp 10, 11.
12
12
- Trường hợp đối với những học sinh lười học, lơi là, buông trôi việc học tập .
Đối tượng này phải tăng cường các biện pháp mềm dẻo liên quan đến nội quy,
kỷ luật kết hợp với thuyết phục, động viên, tạo hứng thú thu hút học sinh quay trở lại
với việc học tập. Giáo viên phải biết được nguyên nhân tại sao các em lười học? tại
sao lơi là ? tại sao buông trôi? Lười thì phải tìm cách rèn cho siêng. Siêng rồi thì tìm
cách học cho tốt. Lơi là thì tăng cường kỷ luật cho nghiêm. Kỷ luật nghiêm nhưng
đừng có cứng nhắc. Buông trôi thì phải níu lại. Đừng thấy thả trôi mà để trôi đi mất.
Như thế thì vô trách nhiệm lắm. Số đối tượng này, nhìn chung, nếu có phương pháp
tốt thì hiệu quả tiến triển nhanh hơn, thường mất ít thời gian công sức hơn.
- Trường hợp đối với các đối tượng chịu ảnh hưởng xấu của các hiện tượng
tiêu cực ngoài xã hội. Trong trường hợp này, phải phối hợp với các lực lượng ngoài
xã hội tìm cách ngăn chặn, giảm thiểu những tác động tiêu cực ảnh hưởng đến học
sinh, tìm cách giúp các em học tập tiến bộ. Tuy nhiên trước khi phối hợp thì nhà
trường phải tự lo phần mình trước đã. Nghĩa là chăm lo giáo dục cho các em tính tự
giác trong học tập, phân biệt được những cái ngưỡng cần dừng của sự đam mê. Phân
biệt được cái gì là có lợi, cái gì là có hại và hại như thế nào mà phòng mà tránh. Nhà
trường tìm cách thu hút giáo dục học sinh thông qua nhiều hình thức như: tổ chức
hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ( trong giờ chủ nhiệm, giờ chào cờ, giờ ngoại
“ngồi nhầm lớp” này, phải tiến hành dần dần từng bước theo lộ trình.
- Trường hợp học học yếu do thiếu sự quan tâm của gia đình hoặc gia đình có
khó khăn. Trường hợp này yêu cầu giáo viên phải nắm vững hoàn cảnh gia đình của
các em với từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể để có biện pháp giúp đỡ phù hợp.
Tóm lại, mỗi một nguyên nhân dẫn đến học sinh học yếu, phải có những giải
pháp nhất định phù hợp, đúng đắn, thì mới có thể đem lại hiệu quả cao.
2. Tổ chức thực hiện: “ giải pháp giảm dần học sinh yếu kém ”.
Nhà trường đưa vào kế hoạch chuyên môn của năm học, triển khai cho các tổ
chuyên môn xây dựng thể nghiệm chuyên đề “ Giải pháp giảm dần học sinh yếu
kém”. Quy trình thực hiện ở tổ và nhóm chuyên môn như sau:
- Bước 1: Buổi sinh hoạt thứ nhất: Triển khai kế hoạch.
Các tổ thông qua kế hoạch chuyên môn của nhà trường về chuyên đề “Giải
pháp giảm dần học sinh yếu kém”, triển khai cho các nhóm tìm hiểu thực trạng tình
hình, chuẩn bị viết báo cáo tham luận, định hướng xây dựng báo cáo lý thuyết chuyên
đề của nhóm. Nội dung cơ bản trong tham luận của các giáo viên là phải đánh giá
được thực trạng tình hình học sinh yếu kém của bộ môn mình phụ trách. Tìm hiểu
nguyên nhân. Đề xuất giải pháp thực hiện.
- Bước 2: Buổi sinh hoạt thứ hai: Báo cáo tham luận của giáo viên; tổng hợp
thống nhất báo cáo lý thuyết của nhóm; tiến hành xây dựng, thiết kế bài dạy thể
nghiệm.
Các nhóm cho các thành viên của nhóm báo cáo tham luận đã được chuẩn bị trước về
chuyên đề “Giải pháp giảm dần học sinh yếu kém”. Mỗi giáo viên phải có trách
nhiệm thực hiện tốt tham luận, trình bày rõ ràng trước nhóm, không được đối phó, qua
loa, chiếu lệ. Cá nhân trình bày xong, tập thể nhóm đóng góp ý kiến, tổng hợp thành
báo cáo của nhóm. Trên cơ sở thống nhất báo cáo lý thuyết, nhóm tiến hành xây dựng,
thiết kế bài dạy thể nghiệm.
14
14
vững đối tượng học sinh yếu kém của môn mình để có biện pháp tác động thích hợp.
Ở lớp, trên các tiết dạy chính khóa, yêu cầu giáo viên thiết kế bài giảng phải có phần
dành cho học sinh yếu kém. Giáo viên phải kiên trì quan tâm kiểm tra, động viên nhắc
15
15
nhở. Thường xuyên động viên khích lệ, tạo cơ hội cho các em được mạnh dạn phát
biểu, trình bày ý kiến. Phần bài tập về nhà có thể bổ sung thêm các phiếu học tập dành
riêng phát cho các em, thường xuyên kiểm tra việc làm bài qua các phiếu. Đây là biện
pháp đã đem lại hiệu quả tiến bộ rõ rệt.
Việc bố trí giáo viên giảng dạy cũng phải chọn những người có năng lực, nhiệt
tình có ý thức trách nhiệm cao. Những giáo viên này có khi còn yêu cầu cao hơn đối
với giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi. Giáo viên dạy phụ đạo phải nắm vững đến tận
từng em học sinh về nguyên nhân học yếu để có phương pháp dạy học thích hợp.
Giáo viên phải thường xuyên kiểm tra theo dõi về mức độ tiến bộ của học sinh. Nếu
thấy có sự tiến bộ là khen ngợi động viên ngay.
Ngoài việc lên lớp phụ đạo tại trường, giáo viên cần ra thêm bài tập cho học
sinh tự luyện. Đồng thời nhắc nhở học sinh nhờ phụ huynh và bạn bè giúp đỡ thêm.
Tuy nhiên, việc này đòi hỏi sự tự giác cao..
Việc tổ chức dạy học phụ đạo cho học sinh yếu kém chủ yếu dựa trên cơ sở
phát huy tinh thần trách nhiệm của giáo viên là chính. Tuy nhiên, nhà trường cần cố
gắng tạo một phần kinh phí để hỗ trợ cho những cán bộ giáo viên trực tiếp làm công
tác này. Nếu nhà trường dôi dư giáo viên thì tính toán cân đối số tiết dạy để đảm bảo
quyền lợi cho họ.
Đối với học sinh tham gia học tập, không thu tiền của các em. Ngược lại, cần
cố gắng vận động để hỗ trợ thêm sách vở, đồ dùng học tập cho các em. Đặc biệt quan
tâm các em có hoàn cảnh khó khăn hoặc những em có nguy cơ bỏ học.
3. Xây dựng lòng tin ở giáo viên và học sinh, tận tình giúp đỡ học sinh :
bồi dưỡng phụ đạo học sinh yếu kém thì phải động viên khen thưởng ngay. Vì trên
thực tế, nhiều khi việc chọn giáo viên phụ đạo học sinh yếu kém còn khó hơn cả việc
chọn giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi. Công sức giáo viên đổ ra thì nhiều nhưng
hiệu quả thu được rất khó khăn so với bồi dưỡng học sinh giỏi. Vậy mà, nhiều khi
những người góp phần làm nên chất lượng đại trà, song song với chất lượng mũi nhọn
(có khi còn là nền tảng cho chất lượng mũi nhọn ) lại hay bị lãng quên về thành tích
đóng góp của họ. Mức biểu dương khen thưởng tùy thuộc vào so sánh chất lượng,
mức tăng tiến của học sinh trước và sau khi giáo viên nhận phân công nhiệm vụ công
tác phụ đạo. Việc này cần cụ thể trên cơ sở số lượng, tỷ lệ tăng tiến của từng học sinh.
Đối với học sinh, để thu hút, tạo hứng thú cho các em về việc học tập, khích lệ
niềm tin phấn đấu, nên tăng cường các biện pháp động viên khuyến khích kịp thời với
các hình thức phù hợp. Cụ thể, chúng tôi đã áp dụng như sau : đối với những học sinh
từ yếu kém lên trung bình: biểu dương; đối với những học sinh từ yếu kém lên khá là
khen thưởng, với mức thưởng như đối với học sinh giỏi toàn diện. Các biện pháp biểu
dương dưới cờ hàng tuần, kết hợp trong các đợt thi đua, cũng như biểu dương khen
thưởng cuối kỳ, cuối năm học đã tỏ ra có tác động tích cực giúp học sinh yếu kém
vươn lên. Ngoài ra, có thể mua sắm để hỗ trợ cho các em một số sách vở đồ dùng học
tập v.v…
5. Phối hợp với các đoàn thể trong và ngoài nhà trường:
Đối với các đoàn thể trong nhà trường:
17
17
Hoạt động trọng tâm trong nhà trường là hoạt động dạy học. Vì vậy, phải quán
triệt với tất cả các thành viên, các đoàn thể, các tổ chức trong nhà trường phải có
trách nhiệm đối với vấn đề giúp đỡ, bồi dưỡng, phụ đạo học sinh yếu kém .
Đối với Công đoàn, trong khả năng của mình, phải tạo điều kiện thuận lợi nhất
18
18
Cần bám sát chương trình kế hoạch xã hội hoá giáo dục của địa phương để phối
hợp hành động tuỳ theo đặc trưng từng đoàn thể mà linh hoạt thực hiện cho hợp lý,
chú ý thông tin hai chiều từ nhà trường đến gia đình nơi cư trú để có sự điều chỉnh các
giải pháp một cách phù hợp, kịp thời và hiệu quả.
Đặc biệt chú ý tới các đoàn thể ở cấp xóm. Chúng tôi đã đề xuất, mỗi xóm cần
có một Ban chuyên trách giáo dục. Trưởng ban chuyên trách phải là xóm trưởng.
Xóm trưởng - trong chừng mực nhất định, phải được coi như là một ông “Hiệu
trưởng” ở xóm. Xóm trưởng cùng với Ban chuyên trách phải có chương trình, kế
hoạch công tác giáo dục của xóm ( không cầu kỳ, rườm rà, chỉ yêu cầu súc tích và
hiệu quả ). Phải nắm được tình hình thực trạng số lượng cụ thể học sinh đang học các
cấp từ Mầm non đến các nghành học, bậc học khác. Phải biết được trong xóm có bao
nhiêu học sinh khá giỏi để động viên khuyến khích, tạo hạt nhân thúc đẩy phong trào.
Phải nắm vững số học sinh yếu kém để có biện pháp giúp đỡ thích hợp.
Xóm trưởng cần chú ý đưa thêm một cách phù hợp nội dung công tác giáo dục
vào trong các buổi họp xóm. Triển khai chương trình, kế hoạch công tác xã hội hoá
giáo dục của xóm. Thường xuyên nhắc nhở các bậc phụ huynh trong xóm đôn đốc
con em học tập. Nhắc nhở: “Mỗi gia đình một góc học tập”, “ Mỗi đêm 5 phút xem
con học bài ”... Làm sao để mỗi phụ huynh đều biết được số sách vở cơ bản của con
em mình có bao nhiêu quyển, con em mình học bao nhiêu bộ môn, học ở lớp nào, bao
nhiêu thầy cô giáo trực tiếp giảng dạy v.v… Bên cạnh việc biểu dương khen thưởng
con em học giỏi nên chăng bổ sung khen thưởng “ phụ huynh giỏi, phụ huynh tiêu
biểu”.
Ban chuyên trách giáo dục ở xóm cần quán triệt chương trình hành động, phân
công công việc đối với tất cả các đoàn thể trong xóm, tạo sự đồng thuận nhất trí cao
” để từ đó có cơ sở xử lý các tình huống xẩy ra và đề ra kế hoạch tiếp nối phù hợp.
Lúc đầu, đề xuất mục này có thể hơi gượng ép, nhưng qua một quá trình sẽ trở thành
quen và đem lại hiệu quả công tác tốt hơn.
Công tác bố trí thời gian dạy học phải hợp lí, tránh chồng chéo. Đã tổ chức dạy
học phụ đạo, không thể tổ chức dạy học thêm đại trà. Bởi vì, danh sách học sinh yếu
kém phải tập hợp từ tất cả các lớp gộp lại. Mỗi khối thường tổ chức thành một lớp.
Một lớp có khoảng 20 em. Lịch học phụ đạo của trường chúng tôi là vào thứ 2 hàng
tuần, theo sự thỏa thuận giữa nhà trường và phụ huynh học sinh. Làm như vậy để cha
mẹ học sinh biết được ngày đó là con em mình đi học phụ đạo, để thuận tiện trong
việc theo dõi, quản lí.
Điều hành phân công nhân sự phải trên cơ sở công bằng lao động, thực hiện
đúng quy chế. Ở trường chúng tôi, giáo viên phụ đạo học sinh yếu kém được cộng
thêm một tiết trên tuần. Cứ 3 tuần thì dạy 1 buổi theo vòng ( Toán - Ngữ văn - Tiếng
Anh). Riêng với giáo viên chủ nhiệm lớp yếu kém được cộng thêm 1 tiết nữa để làm
công tác tổ chức, theo dõi, kiểm tra, đôn đốc … Nhân sự dạy phụ đạo phải là những
người có chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, tâm huyết.
Chương trình dạy học là do nhóm chuyên môn xây dựng trên cơ sở thảo luận
thống nhất và được nhà trường phê duyệt cho từng bộ môn, từng khối lớp, phù hợp
với đối tượng. Đó là kết quả của nội dung sinh hoạt chuyên đề “ Giải pháp giảm dần tỉ
lệ học sinh yếu kém” mà nhà trường đã triển khai.
Hồ sơ quản lí bao gồm: kế hoạch của nhà trường và của giáo viên, sổ theo dõi,
sổ đầu bài, sổ gọi tên ghi điểm, sổ chủ nhiệm đối với lớp phụ đạo học sinh yếu kém.
20
20
Đặc biệt lưu ý kiểm tra sổ điểm, sổ đầu bài, vở ghi và tập bài kiểm tra của học sinh để
thường xuyên cập nhật tình hình học tập của học sinh. Hồ sơ quản lí dạy học phụ đạo
là cơ sở quan trọng để đánh giá hiệu quả công tác nâng cao chất lượng cho học sinh
Thời điểm
số SL %
Trước khi
21
568
65 11,
Khá
TB
Yếu
Kém
Dưới.TB
SL
%
SL
%
SL %
S
Sau khi áp
dụng, năm
học 20162017
4
561
10
9
19,
4
3
188
33,
5
3
188
33,5 71
9
3
- Khi có những vấn đề mang tính cấp thiết thì cần tìm cách giải quyết thoả đáng ngay
để tránh những kết quả không tốt. Như vấn đề chúng tôi đề cập ở đây, nếu không tìm
biện pháp khắc phục ngay từ khi đang còn có thể để giúp đỡ cho học sinh thì hậu quả
sẽ rất lớn cho thế hệ tương lai với một hành trang vào đời không được trang bị tốt, sẽ
rất khó khăn trong thời đại phát triển như vũ bão của xã hội hiện nay.
- Đối với vấn đề giảm dần tỉ lệ học sinh yếu kém này, Ban Giám hiệu nhà trường phải
thực sự hết sức quan tâm. Phải chủ động đánh giá đúng thực trạng, tìm hiểu sâu
nguyên nhân để từ đó để ra kế hoạch cụ thể và khả thi, đề ra các giải pháp tương ứng
22
22
phù hợp, hiệu quả. Phải thực sự hiểu được đối tượng và tạo lòng tin cho đối tượng
cũng như ngay cả bản thân mình. Hiểu và tin, ấy là mấu chốt để hoàn thành nhiệm vụ.
- Phải phát huy tổng hợp các yếu tố, các nguồn lực trong và ngoài trường cùng tham
gia để giải quyết vấn đề.
V. KẾT LUẬN
1. Kết luận
Vấn đề “Một số giải pháp quản lí nhằm giảm dần tỷ lệ học sinh yếu kém về học
lực tại trường THPT Đắc Lua, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai ” đã được chúng tôi
đề xuất, nghiên cứu và đưa vào thể nghiệm thực tế. Trước đòi hỏi cấp bách của việc
nâng cao chất lượng, đối với chúng tôi, vấn đề đưa ra bàn luận ở đây được coi là hết
sức quan trọng nhằm đạt mục tiêu yêu cầu giáo dục đề ra. Nhất là đối với vùng sâu
xa , vùng nông thôn trũng về chất lượng như đơn vị chúng tôi. Qua kết quả thể
nghiệm đã khẳng định giá trị thực tế, tính hiệu quả của đề tài.
Chất lượng là sản phẩm, là nhiệm vụ trọng tâm của đơn vị trường học. Mọi kế
hoạch, mọi hoạt động của nhà trường, đích cuối cùng hướng tới đều là chất lượng.
Hiện nay, đổi mới phương pháp dạy học là yêu cầu luôn được đặt lên hàng đầu. Nhà
trường không có cách nào tốt hơn là phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động