Giải pháp phát triển nghề rèn truyền thống phúc sen, huyện quảng uyên, tỉnh cao bằng - Pdf 43

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NÔNG THANH TÙNG

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGHỀ RÈN
TRUYỀN THỐNG PHÚC SEN, HUYỆN QUẢNG UYÊN,
TỈNH CAO BẰNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

THÁI NGUYÊN - 2016


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NÔNG THANH TÙNG

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGHỀ RÈN
TRUYỀN THỐNG PHÚC SEN, HUYỆN QUẢNG UYÊN,
TỈNH CAO BẰNG
Ngành: PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Mã số: 60.62.01.16

LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

Hướng dẫn khoa học: PGS.TS DƯƠNG VĂN SƠN

THÁI NGUYÊN - 2016


- Lãnh đạo và nhân dân xã Phúc Sen; lãnh đạo huyện ủy, UBND huyện
Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng; lãnh đạo văn phòng tỉnh ủy Cao Bằng đã tạo
điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài luận văn.
Với lòng biết ơn chân thành, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới
PGS.TS. Dương Văn Sơn đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong
suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè và đặc biệt là gia
đình đã tạo điều kiện giúp đỡ, động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học
tập, nghiên cứu hoàn thiện đề tài luận văn.
Xin chân thành cảm ơn!
Thái nguyên, tháng 12 năm 2016
Tác giả

Nông Thanh Tùng


iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN .............................................................................................. i
LỜI CẢM ƠN ................................................................................................... ii
MỤC LỤC ........................................................................................................ iii
DANH MỤC KÝ HIỆU, TỪ VIẾT TẮT ........................................................ vi
DANH MỤC CÁC BẢNG.............................................................................. vii
DANH MỤC CÁC HÌNH .............................................................................. viii
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ................................................................................ 1
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài ..................................................................... 3
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài luận văn ....................................... 3
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU ............................................................ 4
1.1. Cơ sở lý luận của đề tài .............................................................................. 4

3.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và sự hình thành làng nghề rèn truyền
thống Phúc Sen ................................................................................................ 34
3.1.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu ................................................................ 34
3.1.2. Sự hình thành và phát triển làng nghề rèn truyền thống Phúc Sen ....... 37
3.2. Thực trạng phát triển làng nghề rèn truyền thống xã Phúc Sen ............... 40
3.2.1. Sản phẩm, kỹ thuật công nghệ và thị trường ........................................ 40
3.2.2. Về nguồn lực của các chủ lò rèn trong làng nghề ................................. 47
3.2.3. Tổng thu nhập bằng tiền mặt và thu nhập từ nghề rèn.......................... 55
3.2.4. Công tác quản lý nhà nước đối với sự phát triển làng nghề rèn truyền
thống Phúc Sen ................................................................................................ 57


v
3.3. Làng nghề rèn truyền thống Phúc Sen và vai trò trong phát triển văn
hóa và du lịch .................................................................................................. 58
3.3.1. Một số hoạt động văn hóa và du lịch trên địa bàn gắn với làng nghề .. 58
3.3.2. Quản lý nhà nước về làng nghề gắn với văn hóa và du lịch ................. 64
3.4. Khó khăn thách thức và giải pháp bảo tồn, phát triển làng nghề rèn
truyền thống Phúc Sen, đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa và du lịch ....... 66
3.4.1. Khó khăn, thách thức trong phát triển làng nghề truyền thống trên
địa bàn xã Phúc Sen ........................................................................................ 66
3.4.2. Giải pháp bảo tồn, phát triển làng nghề rèn truyền thống Phúc Sen,
đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa và du lịch ............................................. 70
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ............................................................... 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 76


vi
DANH MỤC KÝ HIỆU, TỪ VIẾT TẮT
Bath


Nxb

Nhà xuất bản

PGS

Phó Giáo sư

PivotTable

Một công cụ phân tích rất mạnh trong Excel, có thể kết
nối các dãy số liệu trong các cột Excel khác nhau để tạo
sự liên hệ

PTNT

Phát triển nông thôn

QĐ-TTg

Quyết định -Thủ tướng

SD

Standard Deviation: Độ lệch chuẩn

SE

Standard Error: Sai số chuẩn

Bảng 3.6: Diện tích nhà xưởng, vốn và số tiền vay phân theo kinh tế hộ .... 51
Bảng 3.7: Hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh phân theo kinh tế hộ ...... 54
Bảng 3.8: Tổng thu nhập tiền mặt và thu nhập từ nghề rèn ......................... 56
Bảng 3.9: Một số hoạt động văn hóa, du lịch ở làng nghề Phúc Sen ........... 63
Bảng 3.10: Khó khăn, thách thức trong nghề rèn ở Phúc Sen ........................ 69


viii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1: Quá trình sản xuất công cụ rèn cầm tay ở làng nghề Phúc Sen ..... 38
Hình 3.2: Sơ đồ phác thảo chuỗi giá trị công cụ rèn cầm tay Phúc Sen ........ 46


1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Khu vực nông thôn Việt Nam chiếm gần 80% dân số cả nước, trong xu
thế hội nhập kinh tế, khu vực nông thôn đã đạt được những kết quả tương đối
khả quan như: đã giải quyết được cơ bản nhu cầu lương thực, thực phẩm, thu
nhập của dân cư ở khu vực nông thôn tăng lên, đời sống văn hoá xã hội được
cải thiện đáng kể. Đặc biệt là đối với các địa phương đã hình thành và phát
triển các cụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp với các làng nghề, làng nghề
truyền thống và làng nghề mới, cung cấp nhiều sản phẩm cho xã hội. Hiện
nay, nước ta có khoảng gần 2000 làng nghề thủ công thuộc 13 nhóm ngành
nghề chính như: gốm sứ, gỗ, đá, rèn công cụ sản xuất nông nghiệp, kim khí,
điêu khắc đá, thêu ren, sơn mài,...
Làng nghề Việt Nam là một thuật ngữ dùng để chỉ các cộng đồng cư
dân, chủ yếu ở các vùng ngoại vi thành phố và nông thôn Việt Nam, có chung
truyền thống sản xuất các sản phẩm thủ công cùng chủng loại tại Việt Nam.
Làng nghề thường mang tính tập tục truyền thống đặc sắc, đặc trưng, không

3
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Đánh giá thực trạng phát triển làng nghề rèn truyền thống xã Phúc Sen
(huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng); Tìm hiểu về tổ chức quản lý sản xuất,
sinh kế, thu nhập, điều kiện sản xuất, sản phẩm và thị trường tiêu thụ.
- Nhận diện làng nghề rèn Phúc Sen và vai trò trong phát triển văn hóa
và du lịch trên địa bàn; Nhận diện mối quan hệ giữa làng nghề rèn truyền
thống với văn hóa và du lịch; Các hoạt động văn hóa, tín ngưỡng và các lễ hội
gắn liền với các sinh hoạt cộng đồng, sinh hoạt tinh thần của làng nghề rèn
truyền thống Phúc Sen.
- Xác định những khó khăn thách thức và đề xuất giải pháp bảo tồn,
phát triển làng nghề rèn truyền thống Phúc Sen, đẩy mạnh phát triển kinh tế,
văn hóa và du lịch trên địa bàn huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài luận văn
Đề tài luận văn phân tích và làm rõ thực trạng làng nghề rèn truyền
thống Phúc Sen trên nhiều khía cạnh: kinh tế, văn hóa và du lịch; khái quát
quá trình hình thành và phát triển; đánh giá thực trạng phát triển, những khó
khăn và thách thức để từ đó đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm phát triển bền
vững làng nghề rèn truyền thống Phúc Sen, đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn
hóa và du lịch trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá trên địa bàn
huyện Quảng Uyên, Cao Bằng.
Tác giả mong rằng kết quả nghiên cứu của luận văn này được chính
quyền địa phương xã Phúc Sen, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng và các
địa phương có đặc điểm tương đồng với Phúc Sen tham khảo, vận dụng vào
phát triển làng nghề truyền thống ở địa phương trong điều kiện hội nhập
quốc tế hiện nay.


4
Chương 1

Nhưng do nhu cầu trao đổi hàng hoá, các nghề mang tính chất chuyên môn
sâu hơn và thường được giới hạn trong quy mô nhỏ (làng, xã) dần dần tách
khỏi nông nghiệp để chuyển sang nghề thủ công. Càng về sau xu thế người
lao động tách khỏi đồng ruộng, chuyển sang làm nghề thủ công và sống bằng
nghề đó ngày càng nhiều (Trương Minh Hằng và ctv, 2012) [3].
1.1.2. Đặc điểm của làng nghề truyền thống Việt Nam
Làng nghề truyền thống Việt Nam có năm đặc điểm chính sau đây:
- Hoạt động làng nghề truyền thống gắn liền với làng quê và sản xuất
nông nghiệp
Xuất phát từ nhu cầu tiêu dùng của xã hội, các nghề thủ công truyền thống
dần dần xuất hiện với tư cách là nghề phụ, việc phụ trong các gia đình nông dân
và nhanh chóng phát triển ở nhiều làng quê. Thời gian người lao động ở làng quê
dành cho hoạt động sản xuất nông nghiệp (do ruộng đất bình quân thấp, đặc
điểm mùa vụ của cây trồng), năng suất lao động nông nghiệp thấp đã không đảm
bảo thu nhập đủ sống cho người nông dân. Vì vậy, nhu cầu tạo việc làm để có
thêm thu nhập ngoài sản xuất nông nghiệp trở thành cấp thiết. Đồng thời, do tính
thời vụ của sản xuất nông nghiệp đã tạo ra một sự dư thừa lao động trong một
thời gian nhất định; trong khi đó, ngay trên thị trường địa phương có nhu cầu về
sản phẩm tiểu thủ công nghiệp để phục vụ cho tiêu dùng, sinh hoạt, sản xuất
nông nghiệp, nguồn nguyên liệu phục vụ cho các nghề thủ công lại tương đối dồi
dào,… tất cả những điều đó đã thúc đẩy phát triển thành hoạt động có quy mô
nhiều gia đình cùng tham gia và như vậy làng nghề truyền thống hình thành và
phát triển (Trương Minh Hằng và ctv, 2012) [3].
- Làng nghề truyền thống luôn gắn với tên làng (thương hiệu) và có khả
năng tồn tại, phát triển lâu dài
Sản phẩm của làng nghề truyền thống không chỉ đòi hỏi lao động khéo
léo của người thợ mà còn đòi hỏi sự tích luỹ kinh nghiệm qua nhiều thế hệ và
những kinh nghiệm này trải qua thời gian đã trở thành bí quyết nghề nghiệp





7
- Giải quyết việc làm ở nông thôn, tăng thu nhập cho người lao động,
giúp chuyển dịch lao động nông nghiệp sang các ngành nghề tiểu thủ công
nghiệp và dịch vụ
Yêu cầu phát triển toàn diện kinh tế - xã hội ở nông thôn, tạo việc làm
nâng cao đời sống cho dân cư ở nông thôn là vấn đề quan trọng hiện nay ở
nước ta. Do diện tích đất bị thu hẹp do quá trình đô thị hoá, tỷ lệ thất nghiệp,
thiếu việc làm ở khu vực nông thôn còn chiếm tỷ lệ cao (hiện nay chiếm
khoảng 30 - 35% lao động nông thôn) nên vấn đề giải quyết việc làm cho lao
động nông thôn trở nên cấp bách, đòi hỏi sự hỗ trợ về nhiều mặt và đồng bộ
của các ngành nghề và lĩnh vực.
Theo kết quả điều tra, bình quân mỗi cơ sở chuyên làm nghề ở các làng
nghề tạo việc làm ổn định cho 27 lao động thường xuyên và 8-10 lao động
thời vụ, mỗi hộ chuyên làm nghề tạo việc làm cho 4-6 lao động thường xuyên
và 2-5 lao động thời vụ. Đặc biệt, nghề dệt may, thêu ren mỗi cơ sở có thể thu
hút khoảng 30-50 lao động, cá biệt có những cơ sở hàng trăm lao động; nhiều
làng nghề truyền thống thu hút trên 60% lao động tham gia vào các hoạt động
sản xuất (Nguyễn Hữu Đặng, 2005) [2] .
- Cung cấp một khối lượng hàng hóa cho xã hội góp phần tăng
trưởng kinh tế
Khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống ở nông thôn sẽ tạo
điều kiện cho việc huy động một cách tối đa mọi nguồn lực sẵn có ở khu vực
nông thôn như nguồn lực tự nhiên, nguồn lực cơ sở vật chất kỹ thuật, tiềm
năng vốn, các nguyên liệu sẵn có ở địa phương,… phục vụ vào sản xuất. Do
đó, sản xuất được đẩy mạnh và tạo ra ngày càng nhiều hàng hoá có chất
lượng cao, đa dạng phục vụ cho nhu cầu sản xuất và đời sống. Mặt khác, sản
xuất trong làng nghề truyền thống thường tương đối năng động và gắn chặt
chẽ với nhu cầu thị trường, vì vậy mà sản xuất của làng nghề mang tính

chức du lịch làng nghề thu lợi nhuận cao, có khả năng thu hút đông đảo du
khách tìm hiểu, chiêm ngưỡng những nét văn hoá, những sản phẩm truyền
thống của dân tộc.


9
1.1.4. Sự cần thiết phát triển làng nghề truyền thống trong kinh tế thị trường
Trong giai đoạn nền kinh tế kế hoạch, tập trung bao cấp do cơ chế quản
lý, các hộ gia đình, các làng nghề không được tự do kinh doanh, sản xuất mà
phải gia nhập các HTX tiểu thủ công nghiệp. Vì thế, làng nghề truyền thống
không được phát triển và có phần mai một, hệ thống HTX tiểu thủ công
nghiệp hoạt động kém hiệu quả và bắt đầu tan rã dần vào thời kỳ bắt đầu đổi
mới nền kinh tế.
Chuyển sang nền kinh tế thị trường, cá nhân, hộ gia đình được tự do
đầu tư và sản xuất kinh doanh những sản phẩm mà pháp luật không cấm;
được bình đẳng trước pháp luật. Nhiều làng nghề truyền thống được khôi
phục và phát triển mạnh mẽ, trở thành một xu hướng phát triển tất yếu.
1.1.5. Các nhân tố tác động tới sự phát triển làng nghề truyền thống
1.1.5.1. Tác động của quản lý nhà nước tới phát triển làng nghề, làng nghề
truyền thống
a) Định hướng và khuyến khích phát triển làng nghề, làng nghề
truyền thống
Trong quá trình CNH, HĐH nông thôn làng nghề luôn giữ một vị trí quan
trọng, luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, đề cập nhiều qua các kỳ đại
hội. Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định: “Phát
triển các ngành nghề, làng nghề truyền thống và các ngành nghề mới bao gồm
tiểu thủ công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu,…”.
Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục nhấn mạnh: “Phát
triển mạnh công nghiệp và dịch vụ nông thôn, hình thành các khu vực tập
trung công nghiệp, các điểm công nghiệp ở nông thôn, các làng nghề gắn với

nghề nông thôn”
b) Cơ chế chính sách của Nhà nước
Sự phát triển làng nghề truyền thống một cách tự phát, không có tổ
chức, quản lý của Nhà nước thì gây ô nhiễm, tàn phá môi trường, gây hậu quả
nghiêm trọng về kinh tế, văn hoá, xã hội và môi trường. Không có sự quản lý


ii
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt 2 năm học tập cao học, với nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận
được sự giúp đỡ, hướng dẫn tận tình của nhiều cá nhân và tập thể, đến nay
luận văn của tôi đã được hoàn thành. Nhân dịp này, cho phép tôi được tỏ lòng
biết ơn và cảm ơn chân thành tới:
- Ban Giám hiệu, bộ phận Quản lý Đào tạo Sau Đại học thuộc phòng
Đào tạo trường Đại học Nông Lâm, Đại học Thái Nguyên; Khoa Kinh tế &
PTNT cùng toàn thể cán bộ, giảng viên trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên đã nhiệt tình giúp đỡ, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình học tập và
nghiên cứu tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
- Lãnh đạo và nhân dân xã Phúc Sen; lãnh đạo huyện ủy, UBND huyện
Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng; lãnh đạo văn phòng tỉnh ủy Cao Bằng đã tạo
điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài luận văn.
Với lòng biết ơn chân thành, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới
PGS.TS. Dương Văn Sơn đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong
suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè và đặc biệt là gia
đình đã tạo điều kiện giúp đỡ, động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học
tập, nghiên cứu hoàn thiện đề tài luận văn.
Xin chân thành cảm ơn!
Thái nguyên, tháng 12 năm 2016
Tác giả

triển cùng với sự phát triển của xã hội, của đời sống cộng đồng và dần dần
được qui về các khái niệm như nghề truyền thống, nghề cổ truyền, nghề gia
truyền, nghề phụ, nghề thủ công,...


13
Những khái niệm này tuy có khác nhau ở khía cạnh này, góc độ khác
song vẫn có những đặc điểm giống nhau về cơ bản, đặc biệt là xét từ góc độ
văn hoá, chúng ta có thể sử dụng chung khái niệm "làng nghề". Làng nghề là
một thực thể vật chất và tinh thần được tồn tại cố định về mặt địa lý, ổn định về
nghề nghiệp hay một nhóm các nghề có mối liên hệ mật thiết với nhau để làm
ra một sản phẩm, có bề dày lịch sử và được tồn tại lưu truyền trong dân gian.
Nghiên cứu làng nghề gắn với phát triển văn hóa và du lịch đã được
nhiều công trình nghiên cứu đề cập như: Lê Thị Minh Lý, 2003 [10]; Mai Văn
Nam, 2009 [11]; Trần Thị Kim Cúc, 2010[1]; Trương Minh Hằng và ctv,
2012 [3]; Nguyễn Tri Nam Khang và ctv, 2013 [7]; Nguyễn Lê Thu Hiền,
2014 [4];… Hầu hết các công trình nghiên cứu đều đề cập đến khái niệm làng
nghề theo cách nhìn văn hoá bao gồm các nội dung cụ thể như sau:
- Là một địa danh gắn với một cộng đồng dân cư có một nghề truyền
thống lâu đời được lưu truyền và có sức lan toả mạnh mẽ.
- Ổn định về một nghề hay một số nghề có quan hệ mật thiết với nhau
trong quá trình sản xuất ra một loại sản phẩm.
- Có một đội ngũ nghệ nhân và thợ có tay nghề cao, có bí quyết nghề
nghiệp được lưu truyền lại cho con cháu hoặc các thế hệ sau.
- Sản phẩm vừa có ý nghĩa kinh tế để nuôi sống một bộ phận dân cư và
quan trọng hơn là nó mang những giá trị vật thể và phi vật thể phản ánh được
lịch sử, văn hoá và xã hội liên quan tới chính họ.
Với cách đặt vấn đề trên, tiếp cận từ góc độ văn hoá, một số đặc điểm
của làng nghề Việt Nam sau đây cần chú ý:
- Một là, làng nghề nước ta phản ánh cuộc sống của cư dân nông

Nam (Trương Minh Hằng và ctv, 2012) [3].
- Hai là, làng nghề truyền thống Việt Nam còn tồn tại đến ngày nay
hầu hết là những nghề lâu đời ở những làng cổ dựa trên hai yếu tố rất cơ bản
là vùng nguyên liệu và điều kiện giao thông, mà đường thuỷ là chính. Làng
Gốm Bát Tràng có lịch sử hình thành đã hơn 6 thế kỷ, làng Giấy Yên Thái


15
(Bưởi) đã có cách đây 800 năm, Làng Kim hoàn Định Công có cách đây 1400
năm và Làng Dệt lụa Vạn Phúc thì đã có hơn 1.700 năm có lẻ,... (Trương
Minh Hằng và ctv, 2012) [3]. Theo chúng tôi, điều này phản ánh đúng logic
lịch sử vì nó đáp ứng yêu cầu của sản xuất và nhu cầu của con người. Do ở
thời nào con người cũng cần công cụ lao động, cần ăn, ở, mặc, đi lại và các
hoạt động văn hoá khác. Khẳng định tính truyền thống của nghề thủ công Việt
Nam và làng nghề để khẳng định sự tồn tại của nó qua các hình thái kinh tế xã
hội hay các phương thức sản xuất khác nhau, là rất cần thiết, để góp phần
khẳng định được các giá trị văn hoá đích thực và ngôi vị lịch sử cuả nó trong
quá trình tồn tại và phát triển của lịch sử dân tộc. Một khía cạnh khác của đặc
điểm này là làng nghề hoặc các cụm làng nghề ở nước ta được hình thành hầu
hết đều gắn liền với vùng nguyên liệu tại chỗ và thuận lợi với giao thông
đường thuỷ. Ví dụ như gốm Bát Tràng, Hải Dương, Quảng Ninh,... nguyên
liệu đất sét trắng ở vùng đó quyết định đặc trưng sản phẩm, tính ổn định và
phát triển của làng nghề truyền thống đó. Nguồn nguyên liệu của làng giấy
Yên Thái là giấy "dó" được lấy từ vùng núi và trung du phía Bắc theo sông
Hồng về đến Bưởi. Làng nghề chạm khắc gỗ ở Bắc Ninh, Nam Định cũng ở
cận kề bến sông thuận lợi cho việc khai thác chuyên chở vật liệu và sản phẩm
nặng. Thiếu hai yếu tố nguyên liệu và bến sông có thể nghề thủ công khó tồn
tại và làng đó khó có thể trở thành làng truyền thống. Và, như vậy những
dòng sông như sông Hồng, sông Lô, sông Cầu, sông Thương, sông Chu, sông
Đuống, sông Đáy, sông Thái Bình,... đã tạo ra sự kết nối giữa các làng nghề ở


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status