TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
XÌN THỊ XUYÊN
THÂN PHẬN TRẺ THƠ TRONG
TIỂU THUYẾT CÔI CÚT GIỮA CẢNH ĐỜI
CỦA MA VĂN KHÁNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
TS. NGUYỄN THỊ TUYẾT MINH
HÀ NỘI, 2017
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới TS.
Nguyễn Thị Tuyết Minh - giảng viên khoa Ngữ văn, trƣờng Đại học Sƣ phạm
Hà Nội 2, ngƣời đã tận tình hƣớng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm
khóa luận tốt nghiệp.
Tôi xin cảm ơn các thầy, cô giáo trong khoa Ngữ văn, đặc biệt là các
thầy, cô giáo trong tổ Văn học Việt Nam đã cung cấp kiến thức về văn học và
tạo điều kiện tốt nhất để tôi có thể thực hiện khóa luận tốt nghiệp. Những kiến
thức đó sẽ tạo tiền đề cho tôi trong suốt quá trình học tập và công tác sau này.
Để hoàn thành khóa luận này tôi cũng xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của
gia đình, bạn bè, những ngƣời thân là điểm tựa vững chắc để tôi hoàn thành
tốt nhiệm vụ học tập và nghiên cứu.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 4 năm 2017
1.1. Thể loại tiểu thuyết trong đời sống văn xuôi Việt Nam đƣơng đại ....... 7
1.2. Ma Văn Kháng và hành trình sáng tác tiểu thuyết ................................. 9
1.2.1. Tiểu sử Ma Văn Kháng ................................................................... 9
1.2.2. Hành trình sáng tác tiểu thuyết của Ma Văn Kháng .................... 11
1.3. Đề tài trẻ thơ trong sáng tác của Ma Văn Kháng và tiểu thuyết Côi cút
giữa cảnh đời............................................................................................... 13
Chƣơng 2. SỰ THỂ HIỆN THÂN PHÂN TRẺ THƠ TRONG TIỂU
THUYẾT CÔI CÚT GIỮA CẢNH ĐỜI CỦA MA VĂN KHÁNG ............... 17
2.1. Thân phận trẻ thơ côi cút trong đời sống gia đình .............................. 17
2.2. Thân phận trẻ thơ trong nhà trƣờng ..................................................... 22
2.3. Thân phận trẻ thơ trƣớc những nghịch cảnh ngang trái của xã hội ..... 27
Chƣơng 3. MỘT SỐ PHƢƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN THÂN
PHẬN TRẺ THƠ TRONG TIỂU THUYẾT CÔI CÚT GIỮA CẢNH ĐỜI
CỦA MA VĂN KHÁNG ................................................................................ 33
3.1. Nghệ thuật kể chuyện .......................................................................... 33
3.2. Ngôn ngữ .............................................................................................. 36
3.3. Giọng điệu ............................................................................................ 38
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ma Văn Kháng là cây bút tiêu biểu của văn xuôi Việt Nam hiện đại.
Ông là một trong số ít các nhà văn viết khỏe, viết đều trong bất cứ hoàn cảnh
nào. Cho đến nay, Ma Văn Kháng đã có gần 200 truyện ngắn, 13 cuốn tiểu
thuyết và 4 truyện viết cho thiếu nhi. Từ đó, ông đã tạo cho mình một phong
cách riêng, chỗ đứng riêng trong nền văn học nƣớc nhà. Đặc biệt, Ma Văn
Kháng là cây bút có nhiều đóng góp trong sự nghiệp đổi mới văn xuôi sau
1986, với những tác phẩm mở đầu nhƣ Mưa mùa hạ (1982), Mùa lá rụng
Từ những lí do trên chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài nghiên cứu: Thân
phận trẻ thơ trong tiểu thuyết Côi cút giữa cảnh đời của Ma Văn Kháng.
Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi sẽ góp phần bổ sung một cái nhìn mới về
thân phận của những đứa trẻ trong tiểu thuyết viết về thiếu nhi của Ma Văn
Kháng.
2. Lịch sử vấn đề
Năm 2012, cuốn tiểu thuyết Côi cút giữa cảnh đời xuất bản vào năm
1989 nhận giải thƣởng Hồ Chí Minh về Văn học - Nghệ thuật. Sau khi ra đời,
tiểu thuyết này đã thu hút sự quan tâm chú ý của giới nghiên cứu, phê bình
trong đó phải kể đến:
Nhà nghiên cứu Phong Lê trong cuốn Vẫn chuyện Văn và Người đã
nhận xét:“Côi cút giữa cảnh đời viết cho lứa tuổi thiếu nhi. Cuốn sách chất
đầy những đau khổ, oan khiên lên thân phận ba bà cháu còm cõi, bơ vơ. Nếu
chỉ là đau khổ và oan khiên thì chỉ làm nảy ở người đọc sự oan ức, phẫn nộ,
người ta mím môi, nghiến răng. Nhưng để làm rơi được giọt nước mắt thì
phải có một cái gì đó khác, hoặc cao hơn sự căm giận, sự phẫn nộ. Có đó chỉ
có thể khơi gợi được ở cái thiện, cái đẹp và tình người. Chưa thể nói ở đây
cái thiện, tình người đã thắng, đã vượt lên được cái ác, đã đè bẹp được những
2
tâm địa tối tăm. Nhưng nó đã có thể tồn tại mà không bị vùi dập. Và tôi nghĩ
đó là chiến thắng của tác giả… Cuốn sách của Ma Văn Kháng đã vục sâu vào
sự tối tăm oan khổ đó như nhiều cuốn sách khác. Nhưng thật lạ ông lại đưa
con người vào quỹ đạo những tình cảm nhân hậu, tốt lành. Có thể nói, đó là
một hiệu quả thanh lọc, tẩy rửa. Cái hiệu quả thanh lọc này vốn dành cho
nghệ thuật; và dường như cũng chỉ có một nghệ thuật đích thực… Cuốn sách
mạnh mẽ đẩy ta vào giữa dòng sống hôm nay với cảm hứng lớn là cảm hứng
sự thật, và khát vọng bao trùm là khát vọng dân chủ; cũng đồng thời cho ta
truyền cảm bảo hộ quyền sống và nhân cách con người ngay từ khi nó vẫn là
một đứa trẻ non nớt và vụng dại” [17, tr.231].
Chính Ma Văn Kháng, tác giả của cuốn tiểu thuyết đã tự bộc lộ cảm
xúc của mình và đƣa ra những lời nhận xét nhƣ sau:“Tác phẩm mà tôi yêu
thích nhất là cuốn Côi cút giữa cảnh đời . Vì “Cuốn sách đặt con người vào
dòng đời đương đại trong một hiện thực gay gắt và không ít buồn phiền đau
đớn… Côi cút giữa cảnh đời triển khai một cấu trúc gồm một loạt những
gian truân cùng cực của ba bà cháu trong một cuộc vật lộn với thiếu thốn vật
chất, mất mát tình cảm và những ức chế tinh thần. Tôi nghĩ văn học ta đã xây
dựng khá sắc sảo hình tượng người vợ, người mẹ đại diện cho phụ nữ Việt
Nam trong những cơn thăng trầm của lịch sử. Bây giờ tôi muốn có hình ảnh
một người bà rộng lượng, khoan dung thương yêu hết mực, hi sinh hết thảy vì
con, cháu và bền bỉ, ngoan cường, dũng cảm đối mặt với cái xấu, cái ác, là
hiện thân cho lẽ phải, lòng tin và sự can đảm. Trong Côi cút giữa cảnh đời
có hình bóng người mẹ kính yêu của tôi, người bà nội, người bà ngoại của
các con cháu tôi…” [8, tr.247 - 248].
Nhìn chung, những công trình nghiên cứu trên mới dừng lại ở những
nhận định chung nhất mà chƣa đi sâu vào tìm hiểu thân phận trẻ thơ. Tiếp thu
gợi ý của những nhà nghiên cứu đi trƣớc, khóa luận của chúng tôi đi sâu
nghiên cứu: Thân phận trẻ thơ trong tiểu thuyết Côi cút giữa cảnh đời của Ma
Văn Kháng.
4
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của khóa luận là tiểu thuyết Côi cút giữa ảnh đời
của Ma Văn Kháng, do NXB, Hội Nhà văn ấn hành năm 2012.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Côi cút giữa cảnh đời của Ma Văn Kháng. Qua đó, khẳng định tài năng nghệ
thuật và vị trí của Ma Văn Kháng trong nền văn học đƣơng đại Việt Nam.
7. Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính
của khóa luận đƣợc triển khai theo ba chƣơng:
Chƣơng 1. Giới thuyết chung
Chƣơng 2. Sự thể hiện thân phận trẻ thơ trong tiểu thuyết Côi cút giữa
cảnh đời của Ma Văn Kháng
Chƣơng 3. Một số phƣơng diện nghệ thuật thể hiện thân phận trẻ thơ
trong tiểu thuyết Côi cút giữa cảnh đời của Ma Văn Kháng
6
NỘI DUNG
Chƣơng 1. GIỚI THUYẾT CHUNG
1.1. Thể loại tiểu thuyết trong đời sống văn xuôi Việt Nam đƣơng đại
Văn học là tấm gƣơng phản chiếu hiện thực chân thực nhất. Mỗi nhà
văn là những “tên mật thám” của tâm hồn sẵn sàng băng qua các đƣờng biên
để tìm cái mới. Điều đó dẫn tới một chân lí“Thời đại nào, văn học đó”. Qủa
vậy, sau 1986 đất nƣớc bƣớc vào công cuộc đổi mới. Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ VI của Đảng khẳng định:“Đổi mới đất nước ta, đổi mới có ý
nghĩa sống còn”. Đời sống sau hòa bình với những khó khăn, bộn bề đòi hỏi
các nhà văn phải sáng tác đƣợc những tác phẩm giá trị, phản ánh đƣợc hơi thở
của thời đại. Với tinh thần“cởi trói”,“dân chủ” mà Đảng ta đã khuyến khích,
các nhà văn không còn bị gò bó theo những quy phạm, những khuôn khổ của
giai đoạn trƣớc mà đƣợc thỏa sức sáng tạo, trải nghiệm. Họ luôn trăn trở, chủ
động tìm cho mình một hƣớng đi mới thích hợp với sự vận động của xã hội thời đại và xu hƣớng vận động của bản thân văn học.
Dƣới ánh sáng của Đại hội Đảng lần VI, các nhà văn đã thực sự tìm ra
đƣợc con đƣờng đi cho sáng tác của mình. Điều đó góp phần làm cho văn học
nội tập trung khám phá những bí ẩn, những gì tinh tế nhất trong con ngƣời đã
xuất hiện. Nhà văn Nguyên Ngọc ghi nhận“Văn học chăm chú quan tâm hơn
đến con người với tư cách là một thế giới cá nhân phong phú, phức tạp, đa
dạng, đa chiều, đa tầng trong nhiều mối quan hệ cũng hết sức phức tạp và đa
dạng với toàn xã hội và với chính mình” [13]. Không loại bỏ xu hƣớng
“hướng ngoại” và quan tâm hơn đến xu hƣớng“hướng nội”, tiểu thuyết giai
đoạn này đã đi vào mọi ngõ ngách của đời sống xã hội, đối thoại với đời sống,
đối thoại với cuộc đời để nắm bắt đƣợc“Cái hôm nay bề bộn, ngổn ngang
bóng tối và ánh sáng” (Nguyễn Khải), đồng thời lặn sâu vào tâm hồn con
ngƣời để lắng nghe tất cả những âm vang của tiếng lòng bí ẩn trong con
ngƣời: có tiếng yêu thƣơng, có lời giận hờn, có cả những quanh co, những
tính toán ngấm ngầm…
8
Có thể nói, chƣa bao giờ những vấn đề về đời sống xã hội mà văn học
quan tâm hiện lên chân thực, sống động mà xót xa nhức nhối đến nhƣ thế ở
trong tiểu thuyết. Các nhà văn đã khai thác đến tầng vỉa của hiện thực đời
sống qua số phận con ngƣời, có khi qua những mảnh vỡ từ bi kịch làm ngƣời.
Vì vậy, ta gặp trong tiểu thuyết hôm nay cái chật hẹp của“cõi nhân gian” và
cái rộng lớn mênh mông sâu thẳm của cõi lòng nhỏ bé, qua số phận của
những con ngƣời. Ngòi bút của các nhà văn đã lột ra mọi sự thật của đời sống
dù cho điều đó làm họ cay đắng đến đâu chăng nữa. Đồng thời thấm vào từng
dòng chữ lại là một tình yêu thƣơng, một niềm tin và sự đòi hỏi rất cao đối
với con ngƣời, một con mắt thấu suốt làm những cái bình thƣờng hằng ngày
hiện lên trong một ánh sáng mới lạ khiến ta không thể nào quên.
Nhƣ vậy, tiểu thuyết sau năm 1986 đã có những bƣớc phát triển vƣợt
bậc và mạnh mẽ, chứng tỏ sức sống mãnh liệt và sức cách tân không ngừng
để tạo nên sự phù hợp với thời đại mới. Và một trong những nhà văn giữ vai
lòng say mê văn học đã hăm hở đi lên vùng đất mới lạ và cũng rất vất vả, khó
khăn - Lào Cai. Tại đây ông đã dâng hiến tuổi thanh xuân của mình và bạn bè,
để xây dựng, thay đổi vùng đất còn nghèo nàn, lạc hậu này. Cũng chính nơi
đây đã để lại cho ông nhiều kỉ niệm in sâu vào trong từng tác phẩm. Từ khi
chuyển về Hà Nội công tác, Ma Văn Kháng vẫn cống hiến hết sức lực cho văn
học qua nhiều tác phẩm. Xã hội đô thành với rất nhiều bộn bề, bon chen và
phức tạp trở thành nguồn cảm hứng của ông trong giai đoạn này. Ông đã quan
sát cuộc sống rất kĩ, từ dƣới lên trên, từ trên xuống dƣới, từ ngoài vào, từ
trong ra, tất cả đều đƣợc phản ánh, nhào nặn qua ngòi bút của ông để tạo
thành rất nhiều tác phẩm có giá trị.
Cuộc đời Ma Văn Kháng là những chuyến đi, là sự trải nghiệm qua rất
nhiều khó khăn và thăng trầm của lịch sử. Ông cống hiến hết mình, làm việc
hết mình, không biết mệt mỏi để chi chút, chắt lọc từng mẩu nhỏ cuộc đời, tạo
nên những nhân vật độc đáo, giàu cá tính. Có thể nói, Ma Văn Kháng đã toàn
tâm, toàn lực để tạo ra những dòng văn giàu cảm xúc cho những trang tiểu
thuyết của mình.
10
1.2.2. Hành trình sáng tác tiểu thuyết của Ma Văn Kháng
Năm 1986 đƣợc coi là một dấu mốc đổi mới văn học Việt Nam. Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ VI đã cởi trói cho văn nghệ sĩ, tạo tiền đề cho văn học
Việt Nam bƣớc hẳn sang một thời kì mới, đem lại sự khởi sắc cho các thể
loại. Hàng loạt tiểu thuyết viết theo khuynh hƣớng nhận thức lại ra đời, đƣa
ngƣời đọc ra khỏi những lối mòn cũ của tƣ duy: Thời xa vắng (Lê Lự), Mùa
lá rụng trong vườn (Ma Văn Kháng), Bến không chồng (Dƣơng Hƣớng)…
Hành trình sáng tác của Ma Văn Kháng cũng có những bƣớc cách tân
theo nhịp vận động và phát triển của văn học. Không phải là ngƣời “mở
đường tinh anh và tài năng” nhƣ Nguyễn Minh Châu, nhƣng là nhà văn có
luôn gắng giữ cho trọn tấm lòng một ngƣời thầy, dành hết tâm lực cho học
trò. Mặc dù là tiểu thuyết luận đề, tác phẩm này vẫn chứa đầy sự sống.
Năm 1999, tiểu thuyết Ngược dòng nước lũ xuất hiện, lại một lần nữa
tạo nên làn sóng tranh luận sôi nổi của giới nghiên cứu và độc giả yêu văn
chƣơng. Đây là tác phẩm xuất sắc, hội tụ sở trƣờng, thế mạnh của Ma Văn
Kháng, mở ra tiềm năng tự sự mới của tiểu thuyết Việt Nam. Một trong
những mạch chính của truyện là mối tình ghềnh thác, trắc trở của Khiêm và
Hoan. Xoay quanh cuộc đời của hai nhân vật chính là vấn đề của đạo đức
nhân sinh.
Năm 2009, tiểu thuyết Một mình một ngựa đã ra đời. Cuốn tiểu thuyết
tái hiện quãng thời gian nhà văn làm thƣ kí cho Bí thƣ Tỉnh ủy Lào Cai.“Nó
có dáng dấp một tự truyện của tác giả”. Một mình một ngựa, hình tƣợng đầy
cảm hứng kiêu hùng đồng thời hàm chứa mặc cảm cô đơn của mỗi đời ngƣời
trong cuộc sống.
Gần đây nhất (2011), Ma Văn Kháng cho in hai cuốn tiểu thuyết viết về
đề tài hình sự, về ngƣời chiến sĩ công an nhân dân hiến dâng sinh mệnh mình
cho sự nghiệp cao cả diệt trừ cái ác: Bóng đêm và Bến bờ.
Có thể nói , sự nghiệp sáng tác của Ma Văn Kháng đều bắt nguồn từ cái
nhìn nghệ thuật, tƣ duy nghệ thuật. Nếu nhƣ những trang viết của Ma Văn
12
Kháng trƣớc thập kỉ 80 thể hiện cái nhìn mang tính sử thi thì ở giai đoạn sau
nhà văn chuyển cái nhìn sang thế sự đời tƣ. Cuộc sống trong tác phẩm của
ông hiện lên không chỉ đơn tuyến mà đa tuyến, nhiều chiều, cái xấu xen lẫn
cái tốt, ma quỷ chen lẫn với thánh thần. Ông quan tâm phản ánh số phận con
ngƣời trong nhiều mối qua hệ, nhiều hoàn cảnh khác nhau và cố gắng nắm bắt
mọi khía cạnh của cuộc sống để lột tả nó một cách đầy đủ nhất, toàn vẹn nhất.
Ông đƣợc trao nhiều giải thƣởng, trong đó có giải thƣởng loại B của
giai đoạn từ 1986 đến nay. Đây là giai đoạn mở rộng đề tài, đổi mới cách tiếp
cận đời sống và tăng cƣờng khả năng khám phá con ngƣời.
Sự vận động của truyện thiếu nhi sau 1975, phần nào cũng có thể thấy
quy luật chung của mảng văn học này: Truyện viết cho các em sau 1975 vẫn
tiếp tục kế thừa những truyền thống của truyện thiếu nhi trong giai đoạn
trƣớc, khai thác trẻ em trong đời sống lịch sử - cách mạng và trong quan hệ
với nhà trƣờng. Bên cạnh những kế thừa, không hoàn toàn cắt đứt với truyền
thống của truyện thiếu nhi trong giai đoạn trƣớc, truyện thiếu nhi sau 1975 đã
vƣợt lên chiếm lĩnh hiện thực đời sống trẻ em, mở rộng phƣơng tiện khai thác,
khám phá đa dạng, đa chiều.
Ma Văn Kháng là một nhà văn sáng tác chủ yếu cho ngƣời lớn. Nhƣng
ông cũng thành công khi thử sức với những tiểu thuyết dành cho thiếu nhi.
Ma Văn Kháng có một tập truyện với nội dung gần gũi với tuổi thơ, đƣợc
chọn lọc từ hơn hai trăm truyện ngắn của ông. Những trang văn có nhân vật là
trẻ em hoặc những sự việc xoay quanh thế giới tuổi thơ đều đƣợc viết từ
nguồn cảm hứng, niềm yêu mến cuộc sống và lòng yêu thƣơng dành cho con
trẻ của nhà văn. Từ Ông Pồn và chú hổ con, Giấc mơ của bà nội, Hoa gạo
đỏ... cho tới Khu vườn tuổi thơ, Đồng cỏ nở hoa, Kiếm - Chú bé - Con
người... Tất cả những truyện này đều mang âm hƣởng của những số phận lo
toan, vất vả, nhọc nhằn, có hoàn cảnh éo le và chịu nhiều thiệt thòi, nhƣng đó
cũng là những con ngƣời có phẩm chất tốt đẹp và nổi bật hơn cả là lòng nhân
hậu, nết can đảm và ý chí kiên cƣờng.
14
Bỏ lại phía sau giọng điệu gai góc, ƣu tƣ, phiền muộn, truyện ngắn viết
cho trẻ em và viết về trẻ thơ của Ma Văn Kháng vẫn vang lên giọng điệu lạc
quan ƣớc mơ và tình đời cao thƣợng. Bên cạnh đó mĩ cảm của các tác phẩm
mang đậm chất triết lí. Cái đẹp mang tính chất nhân văn là một đặc điểm nổi
thể nói, ra sự đời của tiểu thuyết nhƣ“một bước ngoặt lịch sử” trong sự
nghiệp đổi mới văn chƣơng nói chung và trong sự nghiệp văn học của Ma
Văn Kháng nói riêng mà nhƣ Lƣu Khánh Thơ nhận định: ông là ngƣời
“Khuấy động văn đàn Việt Nam hiện đại”
16
Chƣơng 2. SỰ THỂ HIỆN THÂN PHÂN TRẺ THƠ TRONG
TIỂU THUYẾT CÔI CÚT GIỮA CẢNH ĐỜI CỦA MA VĂN KHÁNG
2.1. Thân phận trẻ thơ côi cút trong đời sống gia đình
Trong nếp sống của ngƣời Á Đông, gia đình có vai trò rất lớn trong việc
giáo dục, bồi dƣỡng nhân cách cho con ngƣời. Khi viết truyện cho thiếu nhi, Ma
Văn Kháng đặc biệt quan tâm đến tình cảm gia đình. Gia đình là nơi hạnh phúc
nhất và an toàn nhất đối với trẻ em. Trong những tác phẩm của ông, thân phận
của những trẻ trong cuộc sống gia đình hiện lên khá rõ nét.
Dẫu biết rằng, những nụ cƣời mang lại hạnh phúc lớn nhất là nụ cƣời
của những đứa trẻ, nhƣng bản thân chúng lại không thể mang lại cho đời
những nụ cƣời trọn vẹn khi mà chúng phải trải qua những chuỗi dài bất hạnh
đã hóa thành bi kịch của cuộc đời và bé Duy là một cuộc đời nhƣ thế. Cha
nhập ngũ ngay từ khi Duy mới chào đời, mà đi lại bặt tin tức. Duy ở với mẹ
và bà, cuộc sống vẫn bình yên cho đến một ngày mẹ Duy bỏ lại hai bà cháu
để đi theo ông lái xe tải nọ. Duy vẫn còn là một đứa trẻ, chƣa nhận thức đƣợc
cảnh ngộ của mình lúc ấy, và cũng không hiểu đƣợc nỗi đau của mẹ phải gánh
chịu trong những năm tháng không biết tin tức gì về cha: “Trông, nghe rõ
nhưng tôi thật không hiểu nổi nỗi khổ của mẹ tôi có hình sắc gì, nó là thế
nào? Tôi ngẩn ra một lúc rồi lại tiếp tục chơi bi một mình giữa nhà” [7, tr.2].
Những chuỗi dài bi kịch của cuộc đời Duy có lẽ bắt đầu từ đây, Duy
còn quá nhỏ mà phải chịu sự thiếu hụt tình cảm của cha và mẹ. Rồi những
tháng ngày tiếp theo của em sẽ ra sao? Từ khi sinh ra, Duy chƣa một lần đƣợc
“Nhưng không phải hôm nào cũng gặp may. Có hôm chẳng gặp được bà nào,
như hôm nay, trời làm mưa gió, bà đành bế em Thảm về không” [7, tr.118].
Nhà hai bà cháu vốn nghèo lại xuất hiện thêm cái Thảm. Khó khăn lại
càng chồng chất lên thêm khi Thảm lại là một đứa trẻ còn trứng nƣớc, nó
hoàn toàn không có sức chống đỡ với những khó khăn vì thế những bi kịch
xảy đến với nó là điều không thể tránh khỏi.
18
Một đứa trẻ sinh ra cần nhất là mẹ, ấy vậy mà mẹ nó lại bỏ đi. Thêm
một đứa trẻ bị bỏ rơi, thêm một bất hạnh, thêm một bi kịch. Tất cả những gì
Thảm làm đƣợc là khóc và có hàng trăm lí do để em khóc. Thảm xa mẹ, thiếu
hơi sữa, cô Quyên thƣơng tình nhƣng cũng không thể giúp đƣợc gì. Tôi tin
rằng bạn đọc không thể không xúc động khi tác giả miêu tả tiếng khóc của em
Thảm khi nó mới ba tháng tuổi“Em Thảm hay tủi thân lắm. Em khóc nhiều
hơn những đứa trẻ khác. Em khóc suốt cữ, và tiếng khóc cũng khác những
đứa trẻ khác. Có khi đang ngủ, em tự dưng mím môi, rồi nhếch miệng hự hự
mấy tiếng rất ảo não… Em đang ngủ bỗng dưng bừng thức với tiếng khóc hờn
dỗi kéo dài khoảng gần một tiếng đồng hồ” [7, tr.114]. Em khóc vì nhớ hơi
sữa. Em khóc vì đói. Em khóc vì tủi thân. Em khóc vì sợ. Thế giới trẻ thơ là
cả một vùng trời bí ẩn, Thảm cũng là một điều bí ẩn nhƣ thế. Và kì lạ nhất là
Thảm còn thở dài. “Chính em Thảm, cái sinh linh bé nhỏ tội nghiệp, hình như
cũng cảm thấy cái hẩm hiu, trớ trêu của số phận mình” [7, tr.113]. Một hôm
Duy đã run cả ngƣời khi nghe thấy bà đang bế Thảm bỗng thảng thốt: “-Sao
lại thở dài thế, cháu!” [7, tr.113]. Than ôi! Một đứa trẻ lại biết thở dài, lại
mang theo một nỗi buồn trầm ngâm nhƣ của ngƣời lớn vậy. Thở dài là những
lời than không lời khi ngƣời ta thấy mệt mỏi, chán chƣờng. Vậy mà một đứa
trẻ thay vì vui tƣơi, vô lo, vô nghĩ đúng nhƣ lứa tuổi thì nó lại thở dài. Nghe
tƣởng chừng mà xót xa quá.
trong đau đáu tơ tưởng” [7, tr.215]. Trong sâu thẳm tâm hồn nó cũng có lúc
nhớ mẹ đến nhƣờng nào. Có lần nó ngủ dậy kể với Duy “Đêm qua em mê
thấy mẹ em về” [7, tr.215]. Nhƣng đến bao giờ mẹ nó mới về? Những tháng
ngày tiếp theo em chỉ biết sống trong hi vọng và chờ đợi.
Cũng nhƣ anh Duy, Thảm sống rất tình cảm. Em gắn bó với bà bằng
chiều sâu hiếm có, không phải là tình bà cháu ruột thịt thông thƣờng mà còn
là mối quan hệ của hai phần một cơ thể. Với bà, nó không chỉ có lòng kính
yêu mà bà còn là linh hồn sống động tỏa sáng trong tâm hồn em. Bé Thảm đã
20
bù đắp những thiếu hụt trong tính cách của Duy, em cùng Duy - hai đứa trẻ
tội nghiệp lớn lên trong vòng tay yêu thƣơng của bà, cùng bà vƣợt qua những
tháng ngày khó khăn. Cuộc đời của em dƣờng nhƣ chìm vào vực thẳm, bà vừa
là bà nội vừa là bà ngoại của hai đứa trẻ “Bà là bà mụ đỡ nâng trong linh hồn
chúng cháu. Bà là phật bà. Hay chính bà là cô tiên giáng trần, đã che chở
cưu mang chúng cháu bằng tình thương yêu và các phép màu huyền nhiệm,
thần kì!” [7, tr.229].
Bà có sức mạnh lớn lao toát ra từ tình thƣơng, trí tuệ nhạy bén từng trải.
Nhƣng vƣợt lên tất cả đó là sự cứng cỏi, không cam chịu thất bại và tình yêu
thƣơng vô bờ bến của bà dành cho con cháu. Bà đã theo sát, nâng đỡ, đã đền
bù cho những thiếu thốn tinh thần của đứa cháu nội. Bà có mặt kịp thời trong
những tình huống khó khăn, đau khổ của Duy trƣớc dòng đời... Bà chính là
tấm gƣơng về nghị lực sống, về lòng bao dung, nhân hậu để Duy nhìn vào đó
mà học tập để vững vàng và sống tốt hơn. Bà cũng là điểm tựa tinh thần, là
nơi nuôi dƣỡng niềm tin để Duy luôn có một niềm hi vọng, luôn mong chờ sự
trở về của bố, sự thức tỉnh của mẹ và ngày tái ngộ của gia đình trong tƣơng
lai. Không chỉ có thế, bà còn gắn các cháu với huyết mạch cội nguồn để các
các cháu biết thấu hiểu, biết yêu thƣơng và biết tự hào về những ngƣời thân,