Phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh trong dạy học môn tự nhiên và xã hội lớp 3 - Pdf 44

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

DƢƠNG THỊ XUYÊN

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT
VẤN ĐỀ CHO HỌC SINH TRONG DẠY
HỌC MÔN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI LỚP

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục Tiểu học

HÀ NỘI – 2017


TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

DƢƠNG THỊ XUYÊN

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT
VẤN ĐỀ CHO HỌC SINH TRONG DẠY
HỌC MÔN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI LỚP 3
Chuyên ngành: Giáo dục Tiểu học
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
ThS. Nguyễn Thị Duyên

HÀ NỘI – 2017


LỜI CẢM ƠN


: Đặt vấn đề

GQVĐ

: Giải quyết vấn đề

GV

: Giáo viên

NXB

: Nhà xuất bản

HS

: Học sinh



: Vấn Đề


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU .............................................................................................. 1
1. Lí do chọn đề tài ............................................................................................ 1
2. Mục đích nghiên cứu ..................................................................................... 2
3. Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu ........................................... 2
4. Phạm vi nghiên cứu ...................................................................................... 2

2.1. Mục đích khảo sát thực trạng ................................................................... 19
2.2. Nội dung khảo sát thực trạng ................................................................... 19
2.3. Đối tượng khảo sát ................................................................................... 19
2.4. Phương pháp khảo sát .............................................................................. 19
2.5. Kết quả khảo sát ....................................................................................... 20
2.5.1. Nhận thức của giáo viên về năng lực giải quyết vấn đề ....................... 20
2.5.2. Thực trạng dạy học môn Tự nhiên và xã hội lớp 3 ............................... 21
2.5.3. Thực trạng phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh trong dạy
học môn Tự nhiên và xã hội lớp 3 .................................................................. 23
Kết luận chương 2 ........................................................................................... 24
CHƢƠNG 3. BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT
VẤN ĐỀ CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC MÔN TỰ NHIÊN VÀ
XÃ HỘI LỚP 3 .............................................................................................. 25
3.1. Nguyên tắc đề xuất biện pháp phát triển năng lực giải quyết vấn đề trong
dạy học môn Tự nhiên và xã hội lớp 3............................................................ 25
3.1.1. Nguyên tắc đảm bảo tính mục đích ....................................................... 25
3.1.2. Nguyên tắc đảm bảo tính phân hóa ....................................................... 25
3.1.3. Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn ....................................................... 26


3.2. Một số biện pháp phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh trong
dạy học môn Tự nhiên và xã hội lớp 3............................................................ 27
3.2.1. Xây dựng tình huống có vấn đề nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn
đề cho học sinh trong dạy học môn Tự nhiên và xã hội lớp 3. ....................... 27
3.2.2. Sử dụng một số phương pháp dạy học tích cực để phát triển năng lực
giải quyết vấn đề cho học sinh ........................................................................ 32
3.2.3 Xây dựng công cụ đánh giá năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh
trong dạy học môn Tự nhiên và xã hội lớp 3 .................................................. 40
Kết luận chương 3 ........................................................................................... 46
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ...................................................................... 47

một thái độ và tinh thần tích cực.

1


Chương trình môn Tự nhiên và xã hội lớp 3 được xây dựng theo quan
điểm đồng tâm và tích hợp kiến thức của nhiều môn học và nhiều lĩnh vực đòi
hỏi học sinh phải biết vận dụng các kiến thức đã học để giải quyết các bài tập,
tình huống nảy sinh trong quá trình học tập. Nhưng trong thực tiễn dạy học
môn Tự nhiên và xã hội ở Tiểu học việc phát triển năng lực giải quyết vấn đề
cho học sinh còn gặp rất nhiều khó khăn, chưa hình thành và phát triển được
năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh. Chính vì những lí do trên nên tôi
quyết định chọn đề tài “Phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh
trong dạy học môn Tự nhiên và xã hội lớp 3”.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu và đề xuất một số biện pháp nhằm phát triển năng lực giải
quyết vấn đề của học sinh trong dạy học môn Tự nhiên và xã hội lớp 3 để
nâng cao năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh lớp 3 nói riêng và nâng cao
hiệu quả dạy học nói chung.
3. Đối tƣợng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu: Năng lực giải quyết vấn đề của học sinh
trong dạy học môn Tự nhiên và xã hội lớp 3
3.2. Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học môn Tự nhiên và xã hội
lớp 3
4. Phạm vi nghiên cứu
- Giới hạn nội dung nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu việc phát
triển năng lực GQVĐ trong dạy học môn Tự nhiên và xã hội lớp 3.
- Giới hạn về địa bàn: Tiến hành khảo sát, điều tra ở các trường Tiểu
học
+ Trường Tiểu học Hùng Vương - Thị xã Phúc Yên - Tỉnh Vĩnh Phúc

Chương 3. Biện pháp phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh
trong dạy học môn Tự nhiên và xã hội lớp 3.

3


PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC MÔN
TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI LỚP 3
1.1. Một số vấn đề về năng lực giải quyết vấn đề
1.1.1. Khái niệm năng lực
Khái niệm năng lực có nguồn gốc Latinh: “competentia” nghĩa là “gặp gỡ”.
Ngày nay khái niệm năng lực được hiểu dưới nhiều cách tiếp cận khác nhau.
Howard Gardner (1999): “Năng lực phải được thể hiện thông qua hoạt
động có kết quả và có thể đánh giá hoặc đo đạc được” [3].
F.E.Weinert (2001) cho rằng: “Năng lực là những kĩ năng kĩ xảo học
được hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định cũng
như sự sẵn sàng về động cơ xã hội… và khả năng vận dụng các cách giải
quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống
linh hoạt” [10].
OECD (Tổ chức các nước kinh tế phát triển) (2002) đã xác định: “Năng
lực là khả năng cá nhân đáp ứng các yêu cầu phức hợp và thực hiện thành
công nhiệm vụ trong một bối cảnh cụ thể” [5]
Theo tác giả Trần Trọng Thủy và Nguyễn Quang Uẩn (1998): “Năng
lực là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu
cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo việc hoàn thành có
kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy” [9].
Theo tác giả Nguyễn Thị Minh Phương (2007): “Năng lực của học sinh
được thể hiện ở khả năng thực hiện hành động cá nhân trong việc giải quyết

nước có thể thấy năng lực tồn tại dưới hai hình thức chính: Năng lực chung
(key competency) và năng lực chuyên biệt (domain - spesific competency).

5


Năng lực chung là năng lực cần thiết để cá nhân có thể tham gia hiệu quả vào
nhiều hoạt động và các bối cảnh khác nhau của đời sống xã hội. Năng lực này
cần thiết cho tất cả mọi người. Năng lực chuyên biệt (ví dụ: chơi piano…) chỉ
cần thiết với một số người hoặc cần thiết ở một số tình huống nhất định. Các
năng lực chuyên biệt không thể thay thế được các năng lực chung [6].
- Năng lực chỉ có thể quan sát được qua hoạt động của cá nhân ở các
tình huống nhất định. Thông qua các tình huống có vấn đề nảy sinh trong học
tập và cuộc sống làm cho các biểu hiện, kĩ năng, hành vi… của năng lực được
thể hiện một cách cụ thể và rõ nét.
- Năng lực được hình thành và phát triển trong và ngoài nhà trường.
Nhà trường được coi là môi trường chính thức giúp học sinh có được những
năng lực cần thiết nhưng đó không phải là nơi duy nhất. Những bối cảnh
không gian không chính thức như: gia đình, cộng đồng, phương tiện thông tin
đại chúng, tôn giáo và môi trường văn hóa … góp phần bổ sung và hoàn thiện
năng lực cá nhân.
- Năng lực và các thành phần của nó không bất biến mà có thể thay đổi
từ sơ đẳng, thụ động tới năng lực bậc cao mang tính tự chủ cá nhân.
- Năng lực được hình thành và phát triển liên tục trong suốt cuộc đời
con người vì sự phát triển năng lực thực chất là làm thay đổi cấu trúc nhận
thức và hành động cá nhân chứ không đơn thuần là bổ sung các mảng kiến
thức riêng lẻ. Do đó năng lực có thể bị yếu hoặc mất đi nếu chúng ta không
rèn luyện tích cực và thường xuyên.
- Các thành tố của năng lực thường đa dạng vì chúng được quyết định
tùy theo yêu cầu kinh tế xã hội và đặc điểm quốc gia, dân tộc, địa phương.

hành vi của cá nhân khi làm việc độc lập hoặc khi làm việc nhóm trong quá
trình GQVĐ [6]:
- Tìm hiểu vấn đề: Nhận biết tình huống có vấn đề; xác định, giải thích
các thông tin; chia sẻ sự am hiểu vấn đề với người khác.

7


- Thiết lập không gian vấn đề: Thu thập, sắp xếp và đánh giá độ tin cậy
của thông tin; kết nối thông tin với kiến thức đã học (lĩnh vực, môn học, chủ
đề); xác định cách thức, quy trình, chiến lược giải quyết; thống nhất các hành
động để thiết lập không gian vấn đề.
- Lập kế hoạch và thực hiện giải pháp: Thiết lập tiến trình thực hiện cho
giải pháp đã lựa chọn (thu thập dữ liệu, thảo luận xin ý kiến, giải quyết các
mục tiêu, xem xét lại giải pháp,… và thời điểm giải quyết từng mục tiêu);
phân bố và xác định cách sử dụng nguồn lực (tài nguyên, nhân lực, kinh phí,
phương tiên…); thực hiện và trình bày giải pháp cho vấn đề; tổ chức và duy
trì hoạt động nhóm khi thực hiện giải pháp (điều chỉnh, giám sát để phù hợp
với không gian vấn đề khi có sự thay đổi).
- Đánh giá và phản ánh giải pháp: đánh giá giải pháp đã thực hiện; phản
ánh giá trị của giải pháp; đánh giá; xác nhận kiến thức và khái quát hóa cho
vấn đề tương tự; đánh giá vai trò của cá nhân đối với hoạt động nhóm.
1.1.5. Vai trò của năng lực giải quyết vấn đề đối với học sinh Tiểu học
Theo dự thảo chương trình giáo dục sau 2015, năng lực GQVĐ là một
trong các năng lực chung, năng lực này rất cần thiết để con người có thể sống
và làm việc bình thường trong xã hội. Giúp cho cá nhân đáp ứng được những
đòi hỏi của một bối cảnh rộng lớn và phức tạp, chúng có thể không quan trọng
với các chuyên gia, nhưng rất quan trọng với tất cả mọi người.
Người có năng lực GQVĐ sẽ có tư duy nhạy bén, khả năng ứng phó và
xử lí các tình huống trong học tập và cuộc sống một cách nhanh chóng và

vấn đề xã hội ở địa phương; biết cách phòng tránh một số tai nạn thường gặp.
- Biết được sự đa dạng, phong phú của động thực vật. Biết được vai trò
của mặt trời và đặc điểm, hình dạng của bề mặt trái đất. Biết ngày, đêm, năm,
tháng và các mùa.
* Kĩ năng
Hình thành và phát triển cho học sinh các kĩ năng
- Quan sát, phân tích, so sánh, rút ra những dấu hiệu chung và riêng của
một số sự vật, hiện tượng đơn giản trong tự nhiên.

9


- Ứng xử thích hợp trong các tình huống có liên quan đến vấn đề sức
khỏe của bản thân, gia đình, cộng đồng.
- Biết cách trình bày những hiểu biết của mình bằng lời nói, hình vẽ, sơ đồ,…
- Quan sát và làm một số thí nghiệm gần gũi, đơn giản.
* Thái độ
Hình thành và rèn luyện cho học sinh những thói quen, hành vi
- Ham hiểu biết khoa học, có ý thức vận dụng các kiến thức đã học vào
đời sống.
- Tự giác thực hiện các quy tắc vệ sinh, an toàn cho bản thân
- Yêu thiên nhiên, gia đình, cộng đồng
- Có ý thức bảo vệ môi trường xung quanh
1.2.1.2. Nội dung môn Tự nhiên và xã hội lớp 3
Chương trình môn Tự nhiên và xã hội lớp 3 gồm 3 chủ đề:
* Chủ đề con ngƣời và sức khỏe
- Cơ quan hô hấp (nhận biết trên sơ đồ; tập thở sâu, thở không khí
trong sạch; phòng một số bệnh lây qua đường hô hấp).
- Cơ quan tuần hoàn (nhận biết trên sơ đồ; hoạt động lao động và tập
thể dục thể thao vừa sức; phòng bệnh tim mạch).

phát huy vốn kinh nghiệm của mình. Đây là những thuận lợi tạo điều kiện cho
giáo viên phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh trong dạy học
môn Tự nhiên và xã hội lớp 3.
1.2.2. Đặc điểm chƣơng trình môn Tự nhiên và xã hội lớp 3
1.2.2.1. Chƣơng trình môn Tự nhiên và xã hội lớp 3 đƣợc xây dựng theo
quan điểm tích hợp
- Môn Tự nhiên và Xã hội lớp 3 xem xét tự nhiên - con người - xã hội
trong một thể thống nhất, có mối quan hệ qua lại và tác động lẫn nhau.
- Các kiến thức trong chương trình môn Tự nhiên và xã hội là kết quả
tích hợp kiến thức của nhiều ngành khoa học: Sinh học, Vật lí, Hóa học, Địa
lí, Lịch sử, Môi trường, Dân số.

11


- Học sinh lớp 3 là giai đoạn đầu của bậc Tiểu học, ở giai đoạn này tri
giác của trẻ mang tính tổng thể, thu nhận kiến thức thông qua trực giác, khả
năng phân tích chưa cao, khó nhận ra các mối quan hệ giữa sự vật, hiện
tượng. Vì vậy, chương trình có cấu trúc dưới dạng các chủ đề, bao gồm 3 chủ
đề: con người và sức khỏe, xã hội, tự nhiên.
1.2.2.2. Chƣơng trình có cấu trúc đồng tâm và phát triển
Các kiến thức trong các chương trình được trình bày đi từ cụ thể đến
trừu tượng. Các kiến thức được trình bày từ gần đến xa, từ dễ đến khó, tăng
dần mức độ phức tạp và khái quát hóa, tạo điều kiện để học sinh dễ tiếp thu
kiến thức.
Do đó khi giáo viên xây dựng các tình huống trong bài học hay trong cả
quá trình học phải đi từ dễ đến khó. Các tình huống khó học sinh không giải
quyết được thì giáo viên nên chia nhỏ thành các tình huống nhỏ, dễ giải quyết
hơn sau đó giúp học sinh tổng hợp, khái quát lại để giải quyết tình huống đã cho.
1.2.2.3. Chƣơng trình chú ý tới những vốn sống, vốn hiểu biết của học

HS được phát triển năng lực GQVĐ khi HS tìm hiểu, phát hiện, phân tích các
vấn đề về (các cơ quan và hệ cơ quan trong cơ thể, cơ chế hoạt động, và cách
phòng bệnh, chế độ nghỉ ngơi và học tập hợp lí, các vấn đề liên quan đến gia
đình, nhà trường, địa phương, xã hội, thực vật, động vật, đặc biệt là các kiến
thức khoa học liên quan đến mặt trời, trái đất, các hiện tượng ngày, đêm,…)
mà HS còn lúng túng, chưa có giải pháp để giải quyết.Từ đó khơi gợi cho HS
trí tò mò, óc quan sát, động cơ tìm hiểu những vấn đề mới, thúc đẩy học sinh
tư duy, suy nghĩ, đề xuất giải pháp để tìm hiểu, giải quyết các vấn đề nảy sinh
trong học tập và thực tiễn cuộc sống. Đồng thời thông qua đó tạo cơ hội cho
học sinh vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống hàng ngày,
tại địa phương nơi mình sinh sống.
HS có năng lực GQVĐ sẽ góp phần nâng cao được chất lượng giáo dục
của cấp học nói chung và chất lượng dạy học môn Tự nhiên và xã hội lớp 3

13


nói riêng. Khi có năng lực GQVĐ các em sẽ có nhiều kĩ năng mới, kiến thức
mới thiết thực và cần thiết giúp các em giải quyết các vấn đề nảy sinh trong
môn học một cách nhanh chóng và hiệu quả với tinh thần và thái độ tích cực.
1.3. Đặc điểm của học sinh lớp 3
1.3.1. Đặc điểm sinh lí
Hệ thần kinh: Ở lứa tuổi học sinh Tiểu học, hoạt động phân tích và
tổng hợp của các em còn kém nhạy bén, nhận thức các hiện tượng của xã hội
còn mang tính chủ quan, cảm tính, bị động. Các em có khả năng bắt trước một
cách máy móc, khả năng phân biệt và tính sáng tạo của các em còn hạn chế
đặc biệt với các lớp đầu cấp Tiểu học.
Hệ tuần hoàn: Ở lứa tuổi Tiểu học, nhịp tim nhanh. Khi vận động hoặc
có trạng thái lo lắng… thì nhịp tim đập nhanh hơn, dồn dập hơn. Nên khi
tham gia các hoạt động học tập trong thời gian dài và quá sức sẽ có ảnh

học có vai trò rất lớn trong việc chỉ dạy cách nhìn, hình thành kỹ năng nhìn
cho học sinh, hướng dẫn các em biết xem xét, biết lắng nghe.
Về trí nhớ: Trí nhớ có chủ định phát triển dần, trẻ có khả năng ghi nhớ
những từ ngữ được tăng cường. Ghi nhớ có chủ định đã phát triển. Tuy nhiên
hiệu quả ghi nhớ có chủ định còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mức độ tập
trung trí tuệ của các em, sức hấp dẫn của nội dung tài liệu, yếu tố tâm lí hay
hứng thú của các em.
Về ngôn ngữ: Hầu hết học sinh Tiểu học có ngôn ngữ nói thành thạo.
Khi trẻ vào lớp 1 bắt đầu xuất hiện ngôn ngữ viết. Đến lớp 3 thì ngôn ngữ viết
đang bắt đầu hoàn thiện về mặt ngữ pháp, chính tả và ngữ âm. Nhờ có ngôn
ngữ phát triển mà trẻ có khả năng tự đọc, tự học, tự nhận thức thế giới xung
quanh và tự khám phá bản thân thông qua các kênh thông tin khác nhau.
Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình nhận thức cảm
tính và lý tính của trẻ, nhờ có ngôn ngữ mà cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng
tượng của trẻ phát triển dễ dàng và được thể hiện cụ thể thông qua ngôn ngữ

15


nói và viết của trẻ. Mặt khác, trong quá trình dạy học theo quan điểm phát triển
năng lực ngôn ngữ nắm vai trò là yếu tố quan trọng. Nó giúp cho học sinh có
thể bộc lộ những quan điểm, phán đoán của mình về vấn đề chuẩn bị được học.
Thông qua đó, học sinh chủ động chiếm lĩnh kiến thức và áp dụng tốt trong
cuộc sống.
Về Tƣ duy: Tư duy của học sinh các lớp đầu cấp là tư duy cụ thể, dựa
vào những đặc điểm trực quan của đối tượng và hiện tượng cụ thể. Trong sự
phát triển tư duy ở học sinh Tiểu học, tính trực quan cụ thể vẫn còn thể hiện ở
các lớp đầu cấp và sau đó chuyển dần sang tính khái quát ở các lớp cuối cấp.
Trong quá trình dạy học và giáo dục, giáo viên cần nắm chắc đặc điểm này.
Về tình cảm: Học sinh Tiểu học thường có nhiều nét tính cách tốt như


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status