Sử dụng các hình thức kể cho học sinh lớp 5 trong giờ kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên lớp - Pdf 44

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

======

TRIỆU HẢI YẾN

SỬ DỤNG CÁC HÌNH THỨC KỂ CHO HỌC SINH
LỚP 5 TRONG GIỜ KỂ CHUYỆN ĐÃ NGHE
THẦY CÔ KỂ TRÊN LỚP
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học Tiếng Việt

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học

ThS. VŨ THỊ TUYẾT

HÀ NỘI - 2017


LỜI CẢM ƠN
Bằng tấm lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc em xin chân thành cảm ơn cô
giáo Vũ Thị Tuyết - người đã tận tình hướng dẫn, động viên và giúp đỡ chúng
em hoàn thành khóa luận này.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy, cô giáo trong Ban Chủ nhiệm
Khoa Giáo dục Tiểu học, Thư viện Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội 2. Cảm ơn
sự giúp đỡ nhiệt tình của Ban Giám hiệu, các thầy, cô giáo và các em học sinh
Trường Tiểu học Trưng Nhị - thị xã Phúc Yên - Tỉnh Vĩnh Phúc trong suốt quá
trình chúng em quan sát, tìm hiểu thực tế và thực nghiệm khóa luận này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các bạn sinh viên lớp K39A - GDTH đã tạo
điều kiện và động viên tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành

CHO HỌC SINH LỚP 5 .................................................................................. 23
2.1. Nguyên tắc khi sử dụng các hình thức kể chuyện trong giờ Kể chuyện đã
nghe thầy cô kể trên lớp ...................................................................................... 23
2.1.1. Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn ........................................................... 23
2.1.2. Nguyên tắc đảm bảo phát huy tính tích cực của người học ..................... 24
2.1.3. Nguyên tắc đảm bảo tính phù hợp với chương trình tiểu học .................. 24


2.1.4. Nguyên tắc đảm bảo sự hỗ trợ phương tiện kĩ thuật hiện đại trong quá
trình dạy học ....................................................................................................... 25
2.2. Các biện pháp rèn kỹ năng kể chuyện trong giờ Kể chuyện đã nghe thầy cô
kể trên lớp............................................................................................................ 26
2.2.1. Giúp học sinh nghe và ghi nhớ chuyện ..................................................... 26
2.2.2. Quan sát và nhận xét tranh nêu nội dung ................................................. 27
2.2.3. Kĩ năng kể lại ............................................................................................ 27
2.2.4. Kết hợp khéo léo cử chỉ điệu bộ và nét mặt .............................................. 27
2.2.5. Nghe kể, nhận xét và đánh giá ................................................................. 28
2.2.6. Trao đổi cùng bạn sau khi kể .................................................................... 28
2.3. Biện pháp sử dụng các hình thức kể chuyện trong giờ “Kể chuyện đã nghe
thầy cô kể trên lớp” cho học sinh lớp 5 .............................................................. 29
2.3.1. Biện pháp sử dụng hình thức đóng vai .................................................... 29
2.3.2. Biện pháp sử dụng hình thức kể lại chuyện theo lời nhân vật ................. 31
2.3.3. Biện pháp kể chuyện bằng hình thức kể theo tranh .................................. 33
2.3.4. Biện pháp kể chuyện bằng hình thức trò chơi .......................................... 35
Chƣơng 3: THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM........................................................ 41
3.1. Mục đích thực nghiệm ................................................................................. 41
3.2. Thời gian, địa điểm thực nghiệm ................................................................. 41
3.3. Đối tượng thực nghiệm ................................................................................ 41
3.4. Điều kiện thực nghiệm ................................................................................. 41
3.5. Nội dung thực nghiệm và tiêu chí đánh giá thực nghiệm ............................ 42

lòng yêu quê hương đất nước, yêu thế giới xung quanh, giáo dục lòng yêu cái
tốt, cái đẹp, biết căm thù cái xấu, cái ác, có tấm lòng đầy vị tha, góp phần hình
thành nhân cách con người của các em.
Phân môn Kể chuyện được dạy từ lớp 1 đến lớp 5 nhưng ở lớp 4 và lớp 5
cần được chú trọng hơn bởi độ khó và sự đa dạng của các kiểu bài kể chuyện,
bởi nó củng cố kĩ năng kể chuyện đã hình thành ở lớp 1, 2, 3. Đặc biệt, ở lớp 5
đây là lớp cuối cấp thì phân môn kể chuyện là môn học hết sức quan trọng. Nếu
so sánh thì thấy sự khác nhau thế hiện chủ yếu ở độ dài, độ phức tạp của câu
chuyện và mức độ tham gia chủ động của HS ở khâu trao đổi, đối thoại về nhân
vật, nội dung, ý nghĩa câu chuyện.
Trong giờ học Kể chuyện ở TH có nhiều hình thức khác nhau như: hình
thức đóng vai, kể nối tiếp, nhập vai nhân vật, kể chuyện theo nhóm...mỗi hình
lại đem lại cho tiết học một đặc trưng riêng, làm cho tiết học Kể chuyện chở nên
hấp dẫn, cuốn hút HS tham gia học tập và đạt kết quả cao.
Thực tế, giờ dạy học Kể chuyện ở trường tiểu học hiện nay chưa đem lại
nhiều kết quả như mong muốn. Theo đánh giá chung, giờ dạy học Kể chuyện
thiếu hấp dẫn, không gây được hứng thú và phát triển kĩ năng tiếng Việt cho
học sinh. Việc tổ chức giờ học lỏng lẻo, “tự phát”, ngẫu hứng như vậy đã làm

1


cho giờ học thiếu sôi nổi, hào hứng. Kể chuyện giáo viên chưa biết sử dụng các
hình thức kể chuyện phù hợp với câu chuyện.
Hiện nay, đã có nhiều nghiên cứu về việc sử dụng các hình thức kể
chuyện trong giờ “Kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên lớp” nhưng còn khá tản
mạn và chưa thực sự đem lại hiệu quả trong giờ học.
Chính vì những lí do trên, tôi xin chọn đề tài: “Sử dụng các hình thức kể
cho học sinh lớp 5 trong giờ Kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên lớp” nhằm
đưa ra các biện pháp phù hợp để nâng cao hiệu quả của giờ dạy kể chuyện cho

trong dạy học, sử dụng máy chiếu, băng hình... nhằm phục vụ cho quá trình dạy
- học có thể đạt được hiệu quả cao nhất.
- Vui học Tiếng Việt (Trần Mạnh Hưởng, tập 1, Nhà xuất bản Giáo dục 2002). Tác giả đã đề cập đến những kiến thức Tiếng Việt cơ bản giúp HS luyện
tập thành thạo các kĩ năng “nghe, nói, đọc, viết”, giúp các em sẽ có suy nghĩ lạc
quan, diễn đạt trong sáng, có khả năng làm chủ được tiếng nói và chữ viết của
dân tộc.
- Dạy và học môn Tiếng Việt ở Tiếu học theo chương trình mới (Nguyễn
Trí, Nhà xuất bản Giáo dục - 2003). Cuốn sách trình bày những vấn đề cơ bản
của phương pháp dạy học mới ở nhà trường Tiểu học nói chung và bộ môn
Tiếng Việt 5 nói riêng. Đặc biệt, tác giả đã quan tâm đến việc truyền đạt cho
HS bốn kĩ năng: nghe - nói - đọc - viết trong phân môn Kể chuyện. Đối với,
dạy kiểu bài “Kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên lớp” kĩ năng nghe - nói được
phát triển mạnh nhất. Dựa trên cơ sở đó, GV biết cách vận dụng linh hoạt các
phương pháp vào dạy học phân môn Tiếng Việt.
- Đổi mới phương pháp dạy học ở Tiếu học (Bộ Giáo dục và Đào tạo, Dự
án phát triển GV Tiểu học, Nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội - 2005). Cuốn sách
trình bày cụ thể những đổi mới trong nội dung và phương pháp dạy học theo
chương trình và SGK mới giúp nhà sư phạm nắm được bản chất của phương
pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động của HS; vận dụng sáng tạo,
linh hoạt những hiểu biết đã có vào thiết kế kế hoạch bài học theo hướng phát
huy tính tích cực của từng HS. Đặc biệtthực hành dạy học các phương pháp
3


như: phương pháp kể, phương pháp trục quan, phương pháp đóng vai, phương
pháp gợi mở, vấn đáp trong phân môn Kể chuyện đạt hiệu quả, chất lượng.
- Dạy học Tiếng Việt 2 (Nguyễn Trí, Lê Phương Nga, Nhà xuất bản Giáo
dục) đã đề cập đến phương pháp dạy học kể chuyện. Viết về phương pháp
dạy học kế chuyện các tác giả đã vạch ra mục đích quan trọng và ý nghĩa thiết
thực của việc dạy học kể chuyện. Đồng thời, các tác giả cũng đã xây dựng cách

- Thiết kế một số giáo án có sử dụng các hình thức kể chuyện phù hợp và
tiến hành thực nghiệm.
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: các hình thức kể chuyện trong giờ Kể chuyện đã
nghe thầy cô kể trên lớp.
- Phạm vi nghiên cứu: trường Tiểu học Trưng Nhị, Phúc Yên, Vĩnh Phúc.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Các phương pháp được sử dụng trong quá trình nghiên cứu đề tài bao
gồm:
- Phương pháp thống kê, phân loại
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
- Phương pháp thực nghiệm
- Phương pháp điều tra
7. Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, khóa luận có cấu trúc ba chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn.
Chương 2: Biện pháp sử dụng các hình thức kể chuyện trong giờ “Kể
chuyện đã nghe thầy cô kể trên lớp” cho học sinh lớp 5.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

5


NỘI DUNG
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Cơ sở tâm sinh lí
1.1.1.1 Cơ sở tâm lí
a, Đặc điểm chú ý

nhập vai vào nhân vật sẽ giúp các em khắc sâu nhân vật và nội dung câu chuyện
từ đó bộc lộ tình cảm tự nhiên với nhân vật trong truyện, giúp cho việc kể sinh
động hơn.
e, Đặc điểm tư duy
Tư duy trừu tượng, khái quát hóa đang dần chiếm ưu thế. HS biết dựa vào
các dấu hiệu bản chất của đối tượng để rút ra nội dung, ý nghĩa của câu chuyện.
f, Đặc điểm ngôn ngữ
Lên tiểu học, hầu hết các em có ngôn ngữ nói thành thạo, ngôn ngữ viết
đang hoàn thiện và bắt đầu hướng tới hoàn thiện về mặt ngữ pháp, chính tả và
ngữ âm. Nhờ có ngôn ngữ phát triển mà trẻ có khả năng tự đọc, tự học, tự nhận
thức thế giới xung quanh và tự khám phá bản thân thông qua các kênh thông tin
khác nhau.
Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình nhận thức cảm
tính và lí tính của trẻ, nhờ có ngôn ngữ mà cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng
tượng của trẻ phát triển dễ dàng và được thể hiện cụ thể thông qua ngôn ngữ nói
và viết của trẻ. Mặt khác, thông qua khả năng ngôn ngữ của trẻ ta có thể đánh
giá sự phát triển trí tuệ của trẻ.
Ngôn ngữ của HSTH đã dần ổn định giúp HS có thể sử dụng ngôn ngữ
tham gia vào các hoạt động, các nhiệm vụ học tập mà ít gặp khó khăn trong việc
bày tỏ quan điểm, trình bày ý kiến của mình. Đặc biệt, việc sử dụng hình thức
đóng vai trong dạy học phân môn kể chuyện kiểu bài đã nghe đã đọc là cơ hội
để các em phát triển ngôn ngữ, nhất là ngôn ngữ giao tiếp của HS.
Tóm lại, với những đặc điểm về tâm lí của HSTH, thì việc sử dụng các
hình thức trong dạy học phân môn Kể chuyện kiểu bài đã nghe thầy cô kể trên
7


lớp là phù hợp, có thể thực hiện để mang lại hiệu quả tốt, giúp các em hình
thành được các kĩ năng tương ứng và có khả năng vận dụng vào trong chính
cuộc sống của các em.

các hình thức trong giờ Kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên lớp, các hình thức đó
giúp các em có niềm say mê, hăng hái hơn, làm cho việc kể chuyện đạt được
hiệu quả cao.
Như vậy, việc sử dụng các hình thức trong giờ “Kể chuyện đã nghe thầy
cô kể trên lớp” HS lớp 5 là hoàn toàn có thể thực hiện, là sự kết hợp hợp lý và
mang lại hiệu quả cao.
1.1.1.3. Cơ sở văn học
Phân môn Kể chuyện ở Tiểu học sử dụng các tác phẩm của văn học làm
chất liệu. Các tác phẩm văn học sử dụng trong kể chuyện còn làm thoả mãn nhu
cầu và thị hiếu thẩm mĩ của con người. Văn học thỏa mãn nhu cầu và thị hiếu
thẩm mĩ của con người băng nhiều cách. Trước tiên, nó thoả mãn nhu cầu thưởg
thức cái đep của người đọc, người nghe qua việc phản ánh cái đep vốn có trong
thiên nhiên và trong cuộc sống vào trong nó. Hai là, qua lăng kính nghệ thuật,
các nhà văn đã gọt giũa , nhào năn làm cho cái đep vốn đã đep lại càng rục rỡ,
lóng lánh hơn. Nhờ tiếp xúc với tác phẩm văn học HS không chỉ nhận thức
được cái đep một cách tinh tế, nhạy bén mà còn biết khám phá cái đẹp.
Qua các câu chuyện được nghe, được kể trong chương trình Tiểu học, các
em được nhìn thấy vẻ đẹp của quê hương đất nước, con người. Đồng thời, các
em cũng nhận ra được đâu là điều thiện đâu là điều ác, các em sẽ vui thích khi
điều thiện bao giờ cũng chiến thắng cái ác, các em cũng vui buồn và khóc cười
với nhân vật trong truyện.
Ngoài việc cảm nhận vẻ đẹp do nội dung tác phẩm mang lại, người đọc,
người nghe còn cảm nhận được vẻ đẹp của nghệ thuật ngôn từ.
Ngoài ra, tác phẩm văn học còn đưa ra nội dung giao tiếp cụ thể. Những
tác phẩm văn học không phải đưa ra một thứ kí hiệu giao tiếp thông thường mà
nó còn chứa đựng nội dung tư tưởng tình cảm và mang tính xã hội rất đậm nét.
Do đó, tác phẩm nghệ thuật trở thành phương tiện có hiệu quả nhất đưa con
người xích lại gần nhau hơn về tình cảm cũng như về măt tinh thần.
9


10


quan đến một hay một số nhân vật bằng lời kể một cách hấp dẫn, sáng tạo, giàu
ngữ điệu và có sự phối hợp diễn xuất qua nét mặt, cử chỉ, điệu bộ của người kể
một cách tự nhiên nhằm truyền cảm đến người nghe.
1.1.2.2. Vị trí của phân môn kể chuyện
Phân môn Kể chuyện được xếp liền ngay sau phân môn Tập đọc của bộ
môn Tiếng Việt, sở dĩ như vậy là vì kể chuyện có vị trí đặc biệt trong dạy học
tiếng mẹ đẻ, vì hành động kể là một hành động “nói” đặc biệt trong hoạt động
giao tiếp. Kể chuyện vận dụng một cách tổng hợp sự hiểu biết về đời sống và
tạo điều kiện để HS rèn luyện một cách tổng hợp các kĩ năng tiếng Việt như:
nghe, nói, đọc, viết trong hoạt động giao tiếp. Khi nghe thầy giáo kể chuyện, HS
đã tiếp nhận tác phẩm văn học ở dạng lời nói có âm thanh. Khi HS kể chuyện là
các em đang tái sản sinh hay sản sinh một tác phẩm nghệ thuật ở dạng lời nói.Vì
truyện là một tác phẩm văn học nên kể chuyện có được cả sức mạnh của tác
phẩm văn học. Truyện có khả năng bồi dưỡng tâm hồn cho trẻ thơ. Sự hiểu biết
về cuộc sống, về con người, tâm hồn, tình cảm của các em sẽ nghèo nàn đi biết
mấy nếu không có môn học Kể chuyện trong trường học.
1.1.2.3. Nhiệm vụ của phân môn kể chuyện
- Phân môn Kể chuyên có liên quan đến nhu cầu nghe kế chuyên của trẻ
em, góp phần hình thành nhân cách, đem lại những cảm xúc thẩm mỹ lành
mạnh cho tâm hồn HS. Kể chuyện có sức mạnh riêng trong việc giáo dục trẻ.
Sức mạnh này bắt nguồn từ sức mạnh của công cụ mà phân môn Kể chuyện sử
dụng, đó là tác phẩm văn học nghệ thuật GV dùng để kể trong lớp. Các tác
phẩm văn học có tác dụng lớn đến tâm hồn và cảm xúc của trẻ em, đem lại
những cảm xúc thẩm mĩ lành mạnh.
- Phân môn Kể chuyện góp phần tích luỹ vốn văn học, mở rộng vốn sống
cho trẻ em. Giờ Kể chuyện giúp cho trẻ sớm tiếp xúc với tác phẩm văn học.
Suốt 5 năm ở bậc tiểu học, HS được nghe và tham gia kể hàng trăm câu chuyện

- Kể chuyện đã nghe, đã đọc;
- Kể chuyện đã được chứng kiến, tham gia.
b, Kiểu bài học “Kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên lớp”

12


Do giới hạn phạm vi đối tượng nghiên cứu là hoạt động dạy học kiểu bài
Kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên lớp (kiểu 1) cho nên chúng tôi không trình
bày đặc điểm kiểu bài Kể chuyện đã nghe, đã đọc (kiếu 2) và kiểu bài Kể
chuyện đã được chứng kiến hoặc tham gia (kiểu 3) mà chỉ đi sâu trình bày đặc
điểm của kiểu bài 1.
b.1. Đặc điểm kiểu bài “Kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên lớp”
- Trong tiết học này các em phải kể lại câu chuyện trong sách báo hoặc
trong đời sống hàng ngày. Trong chương trình cũ, kiểu bài này nằm trong phân
môn Tập làm văn, nay được chuyển sang phân môn Kể chuyện để thực sự rèn
khả năng nói cho HS.
- GV kể cho HS nghe trước một hoặc hai lần sau đó hướng dẫn HS trao
đổi vắn tắt về cách kể chuyện và ý nghĩa câu chuyện.
- Giờ kể chuyện ở tiết này thực sự dành cho HS làm chủ. GV chỉ có vai
trò điều hành, hướng dẫn nhận xét nhưng thực sự lại khó với GV bởi vì nhiều
tình huống bất ngờ xảy ra, nhiều khi khó thành công.
- So với các câu chuyện ở lớp 4 thì các chuyện ở lớp 5 có độ dài lớn hơn,
tình tiết phức tạp hơn, nội dung sâu sắc hơn. Những câu chuyện này nói về
những phẩm chất tốt đẹp mà con người cần phải rèn luyện gắn với các chủ điểm
học tập.
- Trong kiểu bài “Kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên lớp” có nhiều hình
thức kể chuyện như:
+ Hình thức đóng vai
+ Hình thức nhập vai nhân vật


Bài tập 1: Nêu yêu câu HS dựa vào lời kê của thây cô giáo kê lại câu
chuyện (thường có kèm các tranh được đánh số 1, 2, 3, 4...), hoặc gợi
ý về cách kể lại câu chuyện đã nghe, đã đọc.

3

Bài tập 2: Nêu yêu câu kê lại toàn bộ câu chuyện , họăc cách kê
chuyện đã nghe, đã đọc...

4

Bài tập 3: Nêu yêu câu trao đôi vê ý nghĩa câu.

b.2.2. Quy trình dạy học kể chuyện kiểu bài “Kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên
lớp”
Hoạt động

Nội dung hoạt động

1

Kiểm tra bài cũ: HS kê lại câu chuyện đã học trong tiêt trước, trả
lời một số câu hỏi về nội dung câu chuyện.

2

Giới thịêu bài: GV giới thiệu câu chuyện sắp kể bằng lời họăc
kết hợp lời với tranh ảnh...
14


1

Lý Tự Trọng

2

4

Tiếng Vĩ Cầm ở Mỹ Lai

3

7

Cây cỏ nước Nam

4

11

Người đi săn và con Nai

5

14

Paxtơ và em bé

6



1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Khảo sát thực trạng dạy học kể chuyện kiểu bài “Kể chuyện đã nghe
thầy cô kế trên lớp ” ở trường Tiểu học Trưng Nhị
Trong đợt khảo sát này chúng tôi khảo sát thông qua 2 tiết dạy ứng với 2
câu chuyện là: Tiếng vĩ cầm ở Mỹ Lai và Chiếc đồng hồ.
Để khảo sát thực trạng dạy học kể chuyện được chính xác và thuận lợi.
Trước tiên, chúng tôi xin đưa ra cách thức và nội dung khảo sát phù hợp.
1.2.1.1. Cách thức khảo sát và nội dung khảo sát
a) Cách thức khảo sát
Chúng tôi tiến hành điều tra bằng phiếu khảo sát GV và HS.
b) Nội dung khảo sát
- Nội dung phiếu điều tra
+ Phiếu điều tra GV
Câu 1 : Thầy (cô) có thích dạy kiểu bài “Kể chuyện đã nghe thầy cô kể
trên lớp ” không?
Câu 2: Thầy (cô) thường sử dụng hình thức dạy học nào trong dạy học
kiếu bài “Kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên lớp”?
Câu 3: Những khó khăn nào thầy (cô) gặp phải trong dạy học kiểu bài “Kể
chuyện đã nghe thầy cô kể trên lớp”?
Câu 4: Mỗi tiết học, thầy (cô) gọi được bao nhiêu HS kể chuyện trước
lớp?
+ Phiếu điều tra HS
Câu 1 : Em có hứng thú khi học kể chuyện kiểu bài “Kể chuyện đã nghe
thầy cô kể trên lớp” không?
Câu 2: Em có hay sử dụng cử chỉ, điệu bộ thường xuyên không?
Câu 3: Điều gì làm em cảm thấy khó khăn nhất khi học kể chuyện kiểu
bài “Kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên lớp”?
Câu 4: Em đã sử dụng những hình thức nào trong tiết “Kể chuyện đã

0/5 (0%)

Qua bảng 1, chúng tôi thấy rằng: Tỉ lệ GV thích dạy kể chuyện kiểu bài
“Kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên lớp”chỉ chiếm 40%, 60% GV cho rằng bình
thường, không có GV nào không thích dạy. Điều này cho thấy GV chưa có một
quan niệm thật sự đúng đắn về tầm quan trọng của việc dạy phân môn Kể
chuyện. Phần lớn GV cho rằng việc dạy kể chuyện ở mức bình thường vì phân
môn Kể chuyện không là môn thi học kì như các phân môn: Luyện từ và câu,
Chính tả, Tập làm văn ,... nên GV chưa chú trọng đầu tư cho phân môn Kể
chuyện.
Bảng 2: Thầy (cô) thường sử dụng hình thức dạy học nào trong
dạy học kiếu bài “Kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên lớp”?
Số lượng GV

Các hình thức dạy học

được khảo sát

a (%)

b (%)

c (%)

d (%)

5

5/5 (100%)


2/5 (40%)

2/5 (40%)

3/5 (60%)

1/5 (20%)

4/5 (80%)

1/5 (20%)

4/5 (80%)

hợp lí
2

Chưa biết cách kêt hợp các
hành động phi ngôn ngữ vào
kể câu chuyện

3

Chưa biết cách sử dụng hợp
lí đồ dùng trực quan vào
trong dạy học

4

Chưa có sự hợp tác của HS


Qua bảng 4, mỗi tiết dạy kiếu bài “Kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên
lớp” GV gọi ít HS lên bảng kể chuyện chiếm số lượng lớn tới 60% và không có
GV nào gọi nhiều HS lên kể chuyện trước lớp. Điều này chứng tỏ hoặc GV chỉ
dành ít thời gian cho tiết kể chuyện hoặc thời gian GV kiểm tra bài cũ và hướng
dẫn HS kể chuyện chiếm quá nhiều nên còn ít thời gian dành cho việc gọi HS
lên kể chuyện trước lớp.
Bảng 5: Em có hứng thú khi học kể chuyện kiểu bài “Kể chuyện đã
nghe thầy cô kể trên lớp” không?
Số lượng HS

Các phương án lựa chọn

được khảo sát

a (%)

b (%)

60

8/10 (13,3%)

14/60 (23.3%) 15/60 (25%)

c (%)

d (%)
23/60 (38,3%)


Qua bảng 6, ta thấy mức độ HS sử dụng cử chỉ, điệu bộ khi kể chuyện
thường xuyên và không bao giờ là như nhau: 5/60 HS, chiếm 8,3 % còn thỉnh
thoảng sử dụng thì chiếm nhiều nhất (50%). Nguyên nhân dẫn đến tình trạng
này là do trong quá trình kế chuyện GV ít khi sử dụng các cử chỉ, điệu bộ để HS
học tập hoặc khi GV kể mẫu thì HS không tập trung chú ý.
Bảng 7: Điều gì làm em cảm thấy khó khăn nhất khi học kể chuyện
kiểu bài “Kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên lớp”?
Số lượng HS được Khó khăn
khảo sát

a (%)

b (%)

c (%)

60

18/60 (30%)

30/60 (50%)

12/60 (20%)

Bảng 8 cho ta thấy trong quá trình kể chuyện, HS không biết cách thể
hiện cảm xúc, diễn tả câu chuyện chiếm số lượng lớn nhất (50%); 18/60 HS,
chiếm 30% là không nhớ được hoàn chỉnh nội dung câu chuyện; còn 12/60 HS,
chiếm 20% là sợ sai, sợ bị chê cười, rụt rè. Chính vì vậy, GV cần rèn cho HS
một số kĩ năng trong dạy học kế chuyện như: kĩ năng nghe - nhớ được câu
chuyện, kĩ năng kể trước đám đông, ...

các phương pháp dạy học, sử dụng nhiều hình thức dạy học làm cho tiết học đạt
20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status