Nghiên cứu phân loại các chi họ gừng (zingiberaceae lindl.) ở vườn quốc gia Tam Đảo - Pdf 44

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN

DƯƠNG THỊ NGA

NGHIÊN CỨU PHÂN LOẠI CÁC CHI
HỌ GỪNG (ZINGIBERACEAE LINDL.)
Ở VƯỜN QUỐC GIA TAM ĐẢO

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Thực vật học

HÀ NỘI, 2017


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN

DƯƠNG THỊ NGA

NGHIÊN CỨU PHÂN LOẠI CÁC CHI
HỌ GỪNG (ZINGIBERACEAE LINDL.)
Ở VƯỜN QUỐC GIA TAM ĐẢO
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Thực vật học

Người hướng dẫn khoa học:
TS. Nguyễn Quốc Bình
Bảo tàng thiên nhiên Việt Nam
TS. Hà Minh Tâm

Để đảm bảo tính trung thực của khóa luận, tôi xin cam đoan:

Khóa luận tốt nghiệp “Nghiên cứu phân loại các chi họ Gừng
(Zingiberaceae Lindl.) ở vườn Quốc gia Tam Đảo” là công trình nghiên cứu của
cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Quốc Bình và TS.
Hà Minh Tâm. Các kết quả trình bày trong khóa luận là trung thực và chưa được
công bố trong bất kỳ công trình nào trước đây.

Xuân Hòa, ngày 03 tháng 05 năm 2017

Sinh viên làm khóa luận

DƯƠNG THỊ NGA


MỤC LỤC

Trang
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
Chương 1: Tổng quan tài liệu ................................................................................. 3
1.1. Các nghiên cứu họ Gừng (Zingiberaceae) trên thế giới ....................................... 3
1.2. Các nghiên cứu họ Gừng (Zingiberaceae) ở Việt Nam và các nước
lân cận……………………………………………………………………………….3
Chương 2: Đối tương, phạm vi, thời gian và phương pháp nghiên cứu...……...7
2.1. Đối tượng nghiên cứu........................................................................................... 7
2.2. Phạm vi nghiên cứu


3.5. Giá trị tài nguyên các loài thuộc họ Gừng (Zingiberaceae) tại vườn Quốc gia
Tam Đảo……………………………………………………………………………36
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ................................................................................ 38
TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………………………. 39
PHỤ LỤC 1. DANH LỤC CÁC LOÀI GỪNG Ở VƯỜN QUỐC GIA TAM
ĐẢO……………………………………………………………………………….42
PHỤ LỤC 2. MỘT SỐ ẢNH MINH HỌA............................................................44
PHỤ LỤC 3. KÝ HIỆU VIẾT TẮT CÁC PHÒNG TIÊU BẢN……………….55
PHỤ LỤC 4. BẢNG TRA TÊN KHOA HỌC………………………..…………56
PHỤ LỤC 5. BẢNG TRA TÊN VIỆT NAM..…………………………………..58


MỞ ĐẦU

Thế giới thực vật vô cùng phong phú và đa dạng. Trên thế giới cũng như ở
Việt Nam đã có rất nhiều chuyên ngành khoa học nghiên cứu về thực vật. Trong đó,
chuyên ngành Phân loại thực vật đóng vai trò nền tảng. Phân loại thực vật một cách
chính xác sẽ cung cấp tài liệu cho nhiều ngành khoa học khác có liên quan.
Họ Gừng (Zingiberaceae) có khoảng 45 chi, 1.300 loài, phân bố ở vùng nhệt
đới và cận nhiệt đới trong đó chủ yếu là ở Nam và Đông Nam châu Á. Ở Việ6t
Nam, họ này hiện biết có 19 chi, 144 loài và thứ (Nguyễn Quốc Bình, 2011), trong
đó có nhiều cây có giá trị như: Riềng (Alpinia officinarum) làm gia vị và làm thuốc,
Nghệ (Curcuma longa) làm thuốc chữa bệnh đau dạ dày, bệnh vàng da, Gừng
(Zingiber officinale) làm mứt, làm thuốc, … .
Nói chung họ Gừng có nhiều chi, nhiều loài được sử dụng trong nhiều lĩnh
vực: y học, dược phẩm, công nghệ thực phẩm. Do vậy, nghiên cứu phân loại họ
Gừng để có cơ sở khoa học nhằm khai thác, sử dụng và bảo tồn bền vững nguồn tài
nguyên thực vật đã và đang là mối quan tâm lớn của nhiều nhà khoa học.
Cho đến nay, ở vườn Quốc gia Tam Đảo (Vĩnh Phúc) đã có một số nghiên cứu
đề cập đến phân loại họ Gừng, nhưng vẫn chưa đầy đủ, chưa thực sự có hệ thống và

(3 trang), chương 1 (Tổng quan tài liệu: 4 trang), chương 2 (Đối tượng, phạm vi,
thời gian và phương pháp nghiên cứu: 4 trang), chương 3 (Kết quả nghiên cứu: 27
trang), kết luận và kiến nghị: 1 trang; tài liệu tham khảo: 27 tài liệu; bảng tra tên
khoa học và tên Việt Nam, phụ lục.
Số lượng mẫu nghiên cứu: Tổng số số hiệu mẫu là 43 với 104 tiêu bản.

2


CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Các nghiên cứu họ Gừng (Zingiberaceae) trên thế giới
Người đầu tiên thu thập mẫu thuộc họ Gừng là E. Kaempfer một bác sĩ người
Đức. Dựa trên những mẫu vật đã thu thập, ông đã đặt tên và mô tả 2 loài:
Kaempferia galanga và Kaempferia rotunda.
Cùng thời gian trên C. Linnaeus (1753) [22] đã đặt tên và mô tả 4 chi:
Amomum, Alpinia, Curcuma và Costus với 10 loài sau này xếp vào họ Gừng.
Sau Linnaeus, có một số tác giả khác mô tả các chi và loài sau này được xếp
vào họ Gừng cùng theo quan điểm như trên:
J. G. Koenig (theo N.Q. Bình [5]) mô tả 21 loài và 4 chi mới trong Retzis
(1783): Hura (Globba), Languas (Alpinia), Hedychium và Banksea (Costus).
William Roscoe (1807) (theo N.Q. Bình [5]) mô tả 8 chi với 47 loài thuộc họ
Gừng ở Ấn Độ, hầu hết được minh họa bằng hình vẽ.
C. L. Blume (1823) (theo N.Q. Bình [5]) nghiên cứu thực vật ở Bogor
(Inđonexia) đã mô tả 8 chi với 20 loài, năm 1827 công bố 12 chi với 57 loài sau này
thuộc họ Gừng, tuy nhiên do danh pháp các loài công bố chưa đầy đủ nên đến nay
đã có nhiều thay đổi.
Lindley (1835) (theo N.Q. Bình [5]) đã đặt tên cho họ Gừng là Zingiberaceae
đựơc lấy từ tên chi Zingiber làm chi chuẩn. Từ đó thì họ Gừng chính thức được coi
là 1 taxon riêng biệt, làm cơ sở cho các nhà nghiên cứu sắp xếp các taxon vào họ
Gừng (Zingiberaceae).

với 118 loài ở Đông Dương, trong đó Việt Nam có 13 chi với 63 loài. Cho đến nay
tài liệu này đã quá cũ nhưng vẫn là tài liệu tham khảo quan trọng, mặc dù có nhiều
sai sót: danh pháp nhiều loài đến hiện nay đã thay đổi, tài liệu trích dẫn không đầy
đủ, một số loài vẫn chưa được đề cập.
Lê Khả Kế et al. (1975) [11] trong “Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam” đã
xây dựng khóa định loại , mô tả 8 chi và 25 loài thường thấy ở Việt Nam.
Phạm Hoàng Hộ (1972) [8] giới thiệu ngắn gọn 41 loài Gừng ở miền Nam
Việt Nam. Phạm Hoàng Hộ (1993, 2000) [9] [10] trong “Cây cỏ Việt Nam” đã mô
4


tả ngắn gọn với hình vẽ đơn giản kèm theo của 22 chi, 108 loài họ Gừng ở Việt
Nam. Trong công trình này tác giả nhắc đến hệ thống phân loại của K. Schumann
(1904) với 2 phân họ và 4 tông, nhưng các taxon bậc chi lại không được mô tả và
sắp xếp theo hệ thống, có khóa định loại đến chi nhưng không đầy đủ. Tác giả mô tả
108 loài trong 22 chi nhưng chỉ có khóa định loại của 10 chi, không có khóa định
loại tới loài. Tuy nhiên “ Cây cỏ Việt Nam” là 1 tài liệu đã bổ sung cho hệ thực vật
Việt Nam gần 1 nửa số chi với 1 nửa số loài so với Gagnepain (1908) [20]. Công
trình chỉ mô tả một cách ngắn gọn với hình vẽ đơn giản nhưng dễ nhận ra các chi
và loài. Tuy nhiên, một số taxon lại theo quan điểm của của Holltum (1950) nên
chưa phù hợp với luật danh pháp thực vật hiện hành: 1 số loài trong chi Alpinia tách
sang chi Catimbium, Languas…
Nguyễn Tiến Bân (2005) [3] trong công trình “Danh lục các loài thực vật
Việt Nam ”, tác giả đã đưa ra danh lục đề cập đến 18 chi với 131 loài. Tác giả đã
cung cấp một số dẫn liệu về vùng phân bố, dạng sống và sinh thái cũng như giá trị
sử dụng của mỗi loài.
Võ Văn Chi (1997) [7] trong cuốn “Từ điển cây thuốc Việt Nam”, Đỗ Tất
Lợi (2004) [12] trong cuốn “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” giới thiệu
một số loài làm thuốc thuộc họ Gừng ở Việt Nam.
Nguyễn Quốc Bình (2011) [5] đã nghiên cứu phân loại các loài họ Gừng ở

6


CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG, THỜI GIAN
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Các chi thuộc họ Gừng (Zingiberaceae Lindl.) ở vườn Quốc gia Tam Đảo, dựa
trên cơ sở mẫu vật và tài liệu.
Tài liệu: Các tài liệu về phân loại họ Gừng (Zingiberaceae Lindl.) trên thế giới
và của Việt Nam, nhất là các tài liệu chuyên khảo.
Mẫu vật: Các mẫu vật thực vật thuộc họ Gừng (Zingiberaceae Lindl.) ở vườn
Quốc gia Tam Đảo được thu thập trong các chuyến đi thực địa và các mẫu vật đang
được lưu giữ tại phòng tiêu bản thực vật của Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam
(VNMN) và Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật (HN), phòng tiêu bản thực vật
trường Đại học Khoa Học tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội (HNU).
2.2. Phạm vi nghiên cứu
Vườn Quốc gia Tam Đảo, Vĩnh Phúc
2.3. Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 3/ 2016- 4/2017
2.4. Nội dung nghiên cứu
2.4.1. Phân tích các hệ thống phân loại họ Gừng (Zingiberaceae) ở Việt Nam
và trên thế giới, từ đó lựa chọn hệ thống phù hợp để sắp xếp chi thuộc họ Gừng
(Zingiberaceae) ở vườn Quốc gia Tam Đảo.
2.4.2. Mô tả đặc điểm nhận biết họ, các chi thuộc họ Gừng (Zingiberaceae)
ở vườn Quốc gia Tam Đảo.
2.4.3. Xây dựng khoá định loại các chi thuộc họ Gừng (Zingiberaceae) ở
vườn Quốc gia Tam Đảo.
2.4.4. Tìm hiểu giá trị tài nguyên các chi thuộc họ Gừng (Zingiberaceae) ở
vườn Quốc gia Tam Đảo.
2.5. Phương pháp nghiên cứu:


8


Bước 1: Tổng hợp, phân tích các tài liệu trong và ngoài nước về họ Gừng
(Zingiberaceae Lindl.) Từ đó lựa chọn hệ thống phân loại phù hợp với việc phân
loại họ này ở vườn Quốc gia Tam Đảo.
Bước 2: Phân tích, định loại các mẫu vật thuộc họ Gừng (Zingiberaceae
Lindl.) đang lưu giữ ở các phòng tiêu bản thực vật.
Bước 3: Tham gia các chuyến điều tra, nghiên cứu thực địa để thu thập mẫu,
tìm hiểu về sinh thái học, sự phân bố và các thông tin có liên quan khác.
Bước 4: Tổng hợp kết quả nghiên cứu, mô tả các đặc điểm chung của các chi,
xây dựng khoá định loại, mô tả các chi và các loài, chỉnh lý phần danh pháp theo
luật danh pháp quốc tế và cuối cùng hoàn chỉnh các nội dung khoa học khác của đề
tài.
– Soạn thảo chi dựa theo quy ước quốc tế về soạn thảo thực vật và quy phạm
soạn thảo thực vật chí Việt Nam, thứ tự như sau:
Thứ tự soạn thảo chi: Tên khoa học chính thức kèm theo tên tác giả, tên Việt
Nam thường dùng, trích dẫn lại tên tác giả công bố tên khoa học, năm công bố, tài
liệu công bố, số trang, tài liệu chính và các tài liệu ở Việt Nam đề cập đến, các tên
đồng nghĩa (nếu có), tên Việt Nam khác (nếu có), mô tả, loài typ của chi, ghi chú
(nếu có).
Thứ tự soạn thảo loài và dưới loài: Tên khoa học chính thức kèm theo tên tác
giả công bố tên gọi, tên Việt Nam thường dùng, trích dẫn lại tên tác giả công bố tên
khoa học, năm công bố, tài liệu công bố, số trang, tài liệu chính và các tài liệu ở
Việt nam đề cập đến, tên đồng nghĩa gốc (nếu có), các tên đồng nghĩa (nếu có), tên
Việt Nam khác (nếu có), mô tả, địa điểm thu mẫu chuẩn (Loc. class.), mẫu vật
chuẩn (Typus) kèm theo nơi bảo quản (theo quy ước quốc tế), sinh học và sinh thái,
phân bố, mẫu nghiên cứu, giá trị sử dụng, ghi chú (nếu có).
– Cách mô tả: Mô tả lần lượt những đặc điểm hình thái ngoài, theo trình tự từ


CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Hệ thống phân loại họ Gừng (Zingiberaceae Lindl.)
Có nhiều hệ thống phân loại họ Gừng ra đời song có thể chia ra làm 2 nhóm
chính:
Thứ nhất: Từ họ đến tông và đến chi:
Người đầu tiên đặt nền móng là G. Bentham & J. D. Hooker (1883). Dựa
vào đặc điểm: Nhị hữu thụ 1, vòi nhụy 1, bầu 1 ô hay 3 ô, noãn đính bên hay đính
giữa sắp xếp các chi có những đặc điểm trên vào 4 tông: Zingiberaceae, Maranteae,
Canneae, Museae. Có 21 chi thuộc họ Zingiberaceae được xếp vào tông
Zinggibereae bao gồm 4 chi có bầu 1 ô và 17 chi bầu 3 ô. 3 tông còn lại được các hệ
thống phân loại sau này nâng cấp thành các họ độc lập.
J. Hutchinson (1959) dựa vào đặc điểm: nhị lép bên dạng cánh tràng, số
lượng ô của bầu đã xây dựng hệ thống phân loại gồm 45 chi trong 4 tông: Costeae,
Hedychieae, Globbeae, Zingibere.
Hệ thống A. Takhtajan (1987 và 1996) cũng căn cứ vào nhị lép bên và số
lượng ô trong bầu sắp xếp các chi họ Gừng vào 4 tông: Hedychieae, Zingibereae,
Alpinieae, Globbeae. Tông Costeae được tách ra khỏi họ Gừng thành 1 họ độc lập
là Mía dò (Costaceae).
Thứ hai: Từ họ phân chia đến phân họ (Subfam.) đến tông, có thể đến phân tông
(Subtrib.) rồi đến chi (Genus).
K. Schumann (1904) dựa vào cách sắp xếp lá thành 2 dãy hay xếp xoắn, bẹ
lá mở 1 bên hay hình ống đã sắp xếp 38 chi trong 2 phân họ là Zingiberoideae
(Hedychieae, Globbeae, Zingibereae) và Costoideae (Costeae).
Nhiều năm gần đây, công nghệ sinh học phát triển mạnh mẽ với phương
pháp nghiên cứu sinh học phân tử đã hỗ trợ cho nghiên cứu phân loại thực vật bằng
hình thái, John Kress (2002) đã đưa ra hệ thống phân loại mới với 53 chi được xếp

11


12


Lá của các loài trong họ Gừng là lá đơn, mọc cách, các lá xếp thành hai
hàng, thường hướng lên trên, đôi khi nằm ngang gần như song song với mặt đất
(Kaempferia galanga, K. pulchra); kích thước và hình dạng lá biến đổi, đôi khi
phiến lá tiêu giảm thành bẹ lá dạng vảy. Lá gồm các phần: bẹ lá, cuống lá, lưỡi lá và
phiến lá.
Bẹ lá: Mở đến gốc, phần dưới bẹ lá thường ôm chặt lấy nhau làm thành thân
giả. Mặt trong bẹ không lông, mặt ngoài có lông hay không, mép có lông hoặc
không.
Cuống lá: Là phần giữa bẹ lá và phiến lá, có tiết diện ngang hình lòng máng
nông hoặc sâu. Lá không cuống hay có cuống ngắn đến dài (từ 1-3 mm đến 15-20
cm, đôi khi tới 25 cm). Mặt trong cuống lá không lông, mặt ngoài không hay có
lông, mép có lông mi hay không.
Lưỡi lá (thìa lìa): Là phần giữa bẹ lá và cuống lá, từ bẹ lá kéo dài lên. Lưỡi
dày hay mỏng dạng màng, đầu nguyên hay xẻ 2, cụt ngang, dài 1-2 mm tới vài cm.
Mặt trong lưỡi lá không lông, mặt ngoài có lông hay không, mép có lông mi hay
không. Hiếm khi phần tiếp giáp giữa gốc lưỡi lá và phần đầu bẹ lá cong lại giống
dạng khuỷu (Zingiber).
Phiến lá: Hình mác, hình trứng hẹp, bầu dục, ít khi gần tròn (Kaempferia
pulchra), gốc phiến nhọn, hình nêm hay gần tròn; đầu phiến thường nhọn, đôi khi
thót nhỏ thành dạng đuôi, hiếm khi tròn. Gân chính của lá nổi rõ ở mặt dưới, lõm ở
mặt trên, các gân bên xếp hình lông chim, song song với nhau, mép lá nguyên. Phần
lớn phiến lá có 2 mặt mầu xanh, nhưng ở một vài loài trong một số chi, mặt trên lá
có đốm trắng loang lổ (Stahlianthus) hay dọc gân chính mặt trên nâu đỏ (Curcuma)
hoặc mặt dưới nâu đỏ (Distichochlamys, Stahlianthus, Zingiber). Hình dạng và kích
thước phiến lá khác nhau theo từng loài khác nhau. Hình dạng phiến lá ở mỗi loài
giống nhau, nhưng khác nhau về kích thước: những phiến lá ở giữa thân giả to và

Hoa lưỡng tính, mẫu 3, bầu hạ, đối xứng hai bên, có mầu sắc sặc sỡ, kích thước
trung bình hoặc lớn. Các hoa đính trên cụm hoa dày đặc hay thưa thớt, hoa đơn độc
hay vài hoa trong một cụm nhỏ (Cincinnus) đính vào trục cụm hoa. Hoa thường chỉ
nở và tàn trong một ngày. Hoa gồm các bộ phận:

14


Đài: Có các lá đài dính với nhau ở phần dưới thành hình ống hình trụ, hình
phễu hay hình chuông. Phần trên cụt ngang hay chia 2-3 thùy ngắn hay dài giống
dạng răng, hoặc xẻ chữ V - đầu trên chia 2-3 thùy dạng răng.
Tràng: Dính với nhau ở phần dưới thành hình ống mảnh, hình phễu hẹp,
hình phễu hay hình chuông, thường dài hơn đài; phần trên chia 3 thùy, thùy lưng
thường to hơn 2 thùy bên, phía đầu thùy lưng lõm ít nhiều dạng mũ (Alpinia,
Globba)
Bộ nhị: Chỉ có một nhị hữu thụ (nhị sinh sản) duy nhất và 5 nhị bất thụ. Nhị
hữu thụ ở phía trong thùy tràng lưng, gồm có chỉ nhị và bao phấn có 2 ô. Chỉ nhị
dạng bản mỏng hay dày, ngắn hoặc dài, phía trên đính hai bao phấn hướng trong,
các ô bao phấn song song hay gần song song với nhau, đôi khi chụm ở phía đầu
thành hình mũi tên (Hedychium villosum) hay chụm ở dưới hình dạng chữ V. Ô bao
phấn mở bằng khe dài dọc theo ô bao phấn, hiếm khi nứt thành khe nhỏ hay có lỗ
nhỏ (Boesenbergia). Bao phấn có hay không có phần phụ của trung đới, nếu có thì
có các dạng sau:
Kéo dài lên phía trên tạo thành mào, không bao lấy vòi nhụy, xẻ 2-3 thùy hay
nguyên, hay bao lấy vòi nhụy kéo dài (Zingiber).
Kéo dài ở 2 phía cạnh ngoài hai bao phấn thành dạng cánh (Globba). Đôi khi
bao phấn không có phần phụ nhưng ở gốc mỗi bao phấn kéo dài xuống phía dưới
tạo thành cựa (Curcuma). Nhị bất thụ 5 gồm: cánh môi đối diện với nhị do 3 nhị bất
thụ dính lại với nhau biến thành, kích thước to hoặc nhỏ, có màu sặc sỡ; đầu cánh
môi nguyên hay xẻ thành 2-3 thùy. Hai nhị bất thụ còn lại ( thường gọi là nhị lép


3.3. Khóa định loại các chi thuộc họ Gừng (Zingiberaceae Lindl.) ở vườn Quốc
gia Tam Đảo
1A. Nhị lép bên tiêu giảm hay dạng răng, dạng dùi, hiếm khi là dạng trứng hẹp.
2A. Cụm hoa trên thân có lá
3A. Nhị lép bên tiêu giảm hay dạng răng, dạng dùi; quả hình cầu, bầu dục hiếm
khi là hình thoi ................................................................................ 1. ALPINIA
3B. Nhị lép bên hình trứng ngược hẹp; quả dạng quả cải 2. SILIQUAMOMUM
2B. Cụm hoa mọc từ thân rễ, riêng với thân có lá
4A. Hoa nhiều xếp sít nhau trên trục cụm hoa; các lá bắc xếp lợp lên nhau
5A. Các hoa xếp theo vòng tròn đồng tâm trên một đế phẳng; cánh môi hình
thìa hoặc lưỡi......................................................................... 3. ETLINGERA
5B. Các hoa xếp dọc theo trục cụm hoa: cánh môi hình tròn, trứng hoặc hình
bầu dục ..................................................................................... 4. AMOMUM
4B. Hoa ít, xếp thưa trên trục cụm hoa; các lá bắc không xếp lợp lên nhau ...........
.. ...................................................................................... 5. ELETTARIOPSIS
1B. Nhị lép bên dạng cánh tràng, hiếm khi là dạng dùi
6A. Nhị lép bên dạng cánh tràng dính với cánh môi; vòi nhụy được bao bởi phần
phụ trung đới của bao phấn kéo dài ............................................... 6. ZINGIBER
6B. Nhị lép bên dính với cánh tràng không dính với cánh môi; vòi nhụy không
được bao bọc bởi phần phụ trung đới của bao phấn kéo dài.
7A. Các lá bắc dính với nhau ở nửa dưới làm thành dạng túi ........7. CURCUMA
7B. Các lá bắc không dính với nhau ở nửa dưới và không thành dạng túi.
8A. Cụm hoa trên ngọn thân có lá ........................... 8. CAULOKAEMPFERIA
8B. Cụm hoa mọc ở bên hay giữa các lá .............................. 9. KAEMPFERIA

17


3.4. Đặc điểm hình thái các chi thuộc họ Gừng (Zingiberaceae Lindl.) ở vườn

Đảo có 17 loài.
Nơi sống: Phần lớn các loài trong chi này ưa bóng, mưa ẩm, mọc dưới tán
rừng, dưới bóng cây khác, nhưng có một số ít loài vẫn phát triển tốt ở nơi ít bóng
như ven đường lớn hay ở trảng cỏ.

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status