Pháp luật kinh tế
A.LỜI NÓI ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, bên cạnh các loại hình doanh nghiệp như
Doanh nghiệp tư nhân, Công ty Trách nhiệm hữu hạn, Công ty hợp danh,… thì Công
ty Cổ phần là loại hình doanh nghiệp khá phổ biến, góp phần phát triển và hoàn thiện
thể chế nền kinh tế thị trường. Mặc dù Công ty Cổ phần và luật pháp về Công ty Cổ
phần ra đời từ rất lâu nhưng ở nước ta, do hoàn cảnh kinh tế xã hội mà trong những
năm gần đây công ty cổ phần và pháp luật về công ty cổ phần mới được quan tâm
nhiều. Công ty Cổ phần có nhiều ưu thế so với các loại hình công ty khác như: Có tư
cách pháp nhân; các cổ đông công ty chỉ phải chịu trách nhiệm hữu hạn trong phần
vốn góp của mình và đặc biệt là có cấu trúc vốn linh hoạt, khả năng huy động vốn
cũng như chuyển nhượng vốn góp tự do, dễ dàng, có tính ổn định trong kinh doanh
khiến công ty cổ phần ngày càng được nhiều nhà đầu tư lựa chọn khi muốn đầu tư
kinh doanh hoặc thành lập, chuyền đổi loại hình công ty. Và để hiểu rõ hơn về quy
định của pháp luật về vốn góp của Công ty Cổ phần, nhóm chúng em đã chọn đề tài:
“Quy định về vốn của công ty cổ phần theo luật Doanh nghiệp năm 2014”
Do kiến thức còn hạn chế nên trong bài làm của chúng em có thể còn nhiều sai sót,
chúng em mong nhận được sự đánh giá, góp ý của thầy cô để chúng em có thể hoàn
thiện hơn về bài tập cũng như về kiến thức.
Chúng em xin trân trọng cảm ơn các thầy cô!
1
Pháp luật kinh tế
B.NỘI DUNG
I.
Khái quát chung về công ty cổ phần
1.Khái niệm
Pháp luật kinh tế
- Vốn điều lệ của công ty cổ phần là tổng giá trị mệnh giá số cổ phần đã bán do các
cổ đông sáng lập và các cổ đông phổ thông khác đã đăng ký mua và được ghi trong
điều lệ công ty.
- Cổ phần đã bán:
• Cổ phần đã bán là số cổ phần được quyền chào bán, đã được các cổ đông thanh
toán đủ và những thông tin về người mua được ghi đúng, ghi đủ vào sổ đăng
ký cổ đông; kể từ thời điểm đó, người mua cổ phần trở thành cổ đông của công
ty.
• Tại thời điểm đăng kí doanh nghiệp, cổ phần đã bán là tổng số cổ phần các loại
đã được đăng kí mua
- Cổ phần được quyền chào bán
• Cổ phần được quyền chào bán là tổng số cổ phần các loại được chào bán để
huy động vốn. Hội đồng quản trị quyết định thời điểm, phương thức và giá
chào bán cổ phần trong số cổ phần được quyền chào bán.
• Tại thời điểm đăng kí doanh nghiệp, số cổ phần được quyền chào bán là tổng
số cổ phần các loại mà công ty định bán để huy động vốn, gồm cổ phần đã
được đăng kí mua và cổ phần chưa được đăng kí mua.
- Cổ phần chưa bán
• Cổ phần chưa bán là số cổ phần các loại mà công ty được quyền chào bán để
•
-
huy động vốn nhưng chưa được các cổ đông thanh toán.
Tại thời điểm đăng kí doanh nghiệp, cổ phần chưa bán là số cổ phần chưa
được các cổ đông đăng kí mua.
Các trường hợp mà công ty có thể thay đổi vốn điều lệ:
thanh toán và không được chuyển nhượng quyền mua số cổ phần đó cho người
khác. Số cổ phần chưa thanh toán được coi là cổ phần chưa bán và Hội đồng
quản trị được quyền bán.
- Công ty phải đăng ký thay đổi vốn điều lệ bằng giá trị mệnh giá số cổ phần đã được
thanh toán đủ trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày kết thúc thời hạn phải thanh toán đủ
số cổ phần đã đăng ký mua.
3. Các loại cổ phần
Cổ phần công ty cổ phần bao gồm: Cổ phần phổ thông và cổ phần ưu đãi
- Cổ phần phổ thông:
• Là loại cổ phần phổ biến nhất, cần phải có ở mỗi công ty cổ phần. Người sở
-
hữu cổ phần phổ thông được gọi là cổ đông phổ thông.
• Cổ phần phổ thông không thể chuyển thành cổ phần ưu đãi
Cổ phần ưu đãi:
• Là loại cổ phần cho phép cổ đông sở hữu một phần của công ty với những
quyền lợi ưu tiên hơn so với cổ đông phổ thông.
• Cổ phần ưu đãi có thể chuyển thành cổ phần phổ thông theo nghị quyết của
•
Đại hội đồng cổ đông.
Cổ phần ưu đãi gồm các loại: Cổ phần ưu đãi biểu quyết, cổ phần ưu đãi cổ
tức, cổ phần ưu đãi hoàn lại và cổ phần ưu đãi khác.
4
Pháp luật kinh tế
Cổ phần ưu đãi biểu
quyết
đông, đề cử người
vào Hội đồng quản
trị và Ban kiểm soát
Tổ chức được Chính Do Điều lệ công ty quy
phủ ủy quyền và cổ định hoặc do Đại hội
Người sở hữu
đông sáng lập
đồng cổ đông quyết
định.
Không được chuyển Không có quyền biểu
nhượng cổ phần cho quyết, dự họp Đại hội
người khác
đồng cổ đông, đề cử
Yêu cầu
người vào Hội đồng
quản trị và Ban kiểm
soát
4. Cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập
- Các cổ đông sáng lập phải cùng nhau đăng kí mua ít nhất 20% tổng số cổ phần phổ
thông được quyền chào bán tại thời điểm đăng ký doanh nghiệp.
- Cổ đông có quyền chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác. Tuy nhiên cổ
phần phổ thông của cổ đông sáng lập lại phải tuân theo quy định: Trong thời hạn 3
năm kể từ ngày công ty được cấp giấy chứng nhận đăng kí doanh nghiệp, cổ đông
sáng lập có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho các cổ đông sáng lập
khác. Trường hợp chyển nhượng cho người không phải là cổ đông sáng lập thì phải
được chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông. Trong trường hợp này cổ đông chuyển
nhượng cổ phần không có quyền biểu quyết về việc chuyển nhượng của các cổ phần
đó.
chưa phù hợp
Chào bán ra công chúng
Với hình thức chào bán cổ phần ra công chúng, tổ chức phát hành phải hoàn
chỉnh hồ sơ theo quy định gửi Ủy ban Chứng khoán Nhà nước xem xét và cấp
giấy chứng nhận chào bán trước khi triển khai đợt phát hành. Với hình thức
chào bán cổ phần riêng lẻ, các công ty đại chúng, công ty chứng khoán, công ty
quản lý quỹ phải gửi hồ sơ chào bán tới Uỷ ban Chứng khoán.
• Chào bán cổ phần riêng lẻ
Đối với các công ty cổ phần chưa phải là công ty đại chúng, ngoại trừ doanh
nghiệp thuộc các lĩnh vực ngân hàng, bảo hiểm, công ty chứng khoán, công ty
6
Pháp luật kinh tế
quản lý quỹ, thì công ty phải thông báo việc chào bán cổ phần riêng lẻ với Cơ
quan đăng ký kinh doanh trước khi triển khai đợt phát hành trong vòng 5 ngày.
Công ty có quyền bán cổ phần sau 5 ngày,kể từ ngày gửi thông báo mà không
nhận được sự phản đối của Cơ quan đăng ký kinh doanh và đăng ký thay đổi
vốn điều lệ trong 10 ngày kể từ ngày hoàn thành bán cổ phần.
6. Chuyển nhượng cổ phần
-
Chuyển nhượng cổ phần là việc làm thay đổi chủ sở hữu đối với cổ phần được
-
chuyển nhượng trong công ty cổ phần.
Về chủ thể: Chủ thể của hoạt động chuyển nhượng cổ phần bao gồm bên bán là
Pháp luật kinh tế
7. Mua lại cổ phần
- Mua lại cổ phần là việc công ty mua lại cổ phần của chính công ty mình từ các cổ
đông trong công ty. Cổ phần được mua lại được coi là cổ phần thu về và thuộc số
-
cổ phần được quyền chào bán.
Mua lại cổ phần là một trong những biện pháp nhằm tăng cường kiểm soát công ty
-
và tăng giá cổ phần.
Về chủ thể: Chủ thể của hoạt động mua lại cổ phần bao gồm bên bán là cổ đông và
-
bên mua chính là công ty phát hành cổ phần.
Về điều kiện: Việc mua lại cổ phần chỉ được thực hiện trong trường hợp: cổ đông
biểu quyết phản đối quyết định về việc tổ chức lại công ty hoặc thay đổi quyền,
-
nghĩa vụ của cổ đông quy định tại Điều lệ.
Về hậu quả pháp lý: Mua lại cổ phần, vốn điều lệ của công ty cũng không giảm
ngay, nhưng nếu hết đợt chào bán cổ phần, mà công ty không chào bán được số cổ
hành trái phiếu.
Phát hành cổ phiếu có thể diễn ra nhiều lần. Có thể chia thành các trường
hợp: phát hành cổ phiếu lần đầu để huy động vốn thành lập công ty và phát
hành cổ phiếu trong quá trình hoạt động của công ty.
Phát hành trái phiếu là phương pháp huy động vốn ưu việt cho những
CTCP có dự án kinh doanh dài hạn, với mức lãi suất thích hợp nhỏ hơn lãi
suất mà công ty phải vay ngân hàng, nhưng lại cao hơn lãi suất tiền gửi tiết
kiệm ngân hàng để thu hút đầu tư.
•
Trường hợp giảm vốn của công ty
Giảm vốn điều lệ khi nhu cầu về vốn của công ty giảm do công ty thay đổi
ngành nghề kinh doanh, tổ chức lại với quy mô nhỏ hơn trước.
Khi cổ đông không thanh toán hoặc chỉ thanh toán một phần số cổ phần đã
mua công ty phải đăng ký giảm vốn điều lệ theo quy định tại điểm d, khoản
3, điều 112 Luật Doanh nghiệp.
III. Một số điểm mới về vốn của công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp 2014 so
với Luật Doanh nghiệp 2005
9
Pháp luật kinh tế
Điểm mới
Thống nhất các
khái niệm về vốn
Số cổ phần chưa
được thanh toán
vốn điều lệ
Trường hợp
không được phát
hành trái phiếu
Tỷ suất lợi nhận sau
thuế bình quân của 3
năm liên tiếp trước đó
không cao hơn mức lãi
suất dự kiến trả cho
10
Luật Doanh nghiệp 2014
Nhận xét
Thống nhất các khái
niệm về vốn, cổ phần đã
bán, cổ phần được quyền
chào bán, cổ phần chưa
bán
-Không được chuyển
nhượng quyền mua số cổ
phần chưa thanh toán
cho người khác
-Số cổ phần chưa thanh
toán được coi là cổ phần
chưa bán và Hội đồng
quản trị được quyền bán
doanh nghiệp
Luật Doanh nghiệp
2014 có quy chế
pháp lý để phân
biệt giữa vốn đăng
ký và vốn thực
góp, giải quyết tình
trạng vốn không có
thực (ảo) nhưng
không thể xử lý
được như hiện nay
Với quy định mới
này Luật Doanh
nghiệp không chỉ
hạn chế được vấn
đề vốn ảo mà còn
giúp đảm bảo được
quyền lợi của cổ
đông và khả năng
thanh toán của
công ty
Luật Doanh nghiệp
2014 đã nới lỏng
điều kiện về việc
phát hành trái
phiếu, giúp công
Pháp luật kinh tế
doanh nghiệp để có
thể bán ra cổ phần
Quy định mới này
giúp đảm bảo lợi
ích của cổ đông
cũng như lợi ích
của công ty; giúp
tăng cường kiểm
soát công ty
Trường hợp
Cổ đông đó có thể bán Luật Doanh nghiệp 2015
không thỏa thuận cổ phần cho người chỉ quy định: Các bên có
được về giá bán
khác hoặc các bên có thể yêu cầu một tổ chức
cổ phần khi mua
thể yêu cầu một tổ thẩm định giá chuyên
lại cổ phần theo
chức định giá chuyên nghiệp định giá
yêu cầu của cổ
nghiệp định giá
đông
Nhận xét chung:
- Luật Doanh nghiệp 2014 được coi là cuộc đột phá thể chế lần hai, thể hiện đúng
tinh thần Hiến pháp 2013 về quyền tự do kinh doanh của công dân, của doanh
nghiệp, theo đó, những gì luật pháp không cấm thì người dân, doanh nghiệp được
-
tự do đầu tư, kinh doanh.
2014 và kiến nghị
Thứ nhất : Khi nghiên cứu về các loại cổ phần( ý 3, phần II) chúng em thấy Luật
Doanh nghiệp hiện không có quy định cụ thể về điều kiện trả cổ tức cho cổ phần
ưu đãi cổ tức và điều kiện hoàn lại phần vốn góp cho cổ phần ưu đãi hoàn lại: Cổ
đông sở hữu cổ phần ưu đãi cổ tức được hưởng cổ tức với mức cao hơn so với
mức cổ tức của cổ phần phổ thông hoặc mức ổn định hằng năm. Cổ tức được chia
hằng năm gồm cổ tức cố định và cổ tức thưởng. Cổ tức cố định không phụ thuộc
vào kết quả kinh doanh của công ty. Vậy khi công ty đang kinh doanh thua lỗ thì
có được thanh toán cổ tức cho cổ phần ưu đãi không? Về cổ phần ưu đãi hoàn lại,
cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi hoàn lại có quyền yêu cầu công ty hoàn lại vốn
góp bất cứ khi nào theo các điều kiện được ghi tại cổ phiếu của cổ phần ưu đãi
hoàn lại. Vậy, khi công ty mất khả năng thanh toán nợ, có được hoàn lại vốn cho
cổ phần ưu đãi hoàn lại khi không đủ tài sản để trả nợ không? Pháp luật không có
quy định rõ.
Điều lệ công ty cần quy định rõ để giải quyết vấn đề theo nguyên tắc
chung, tránh phát sinh các tranh chấp
- Thứ hai: Tại khoản 2 điều 119, Luật Doanh nghiệp quy định: Các cổ đông sáng
lập phải cùng nhau đăng ký mua ít nhất 20% tổng số cổ phần phổ thông được
quyền chào bán tại thời điểm đăng ký doanh nghiệp. Trong khi đó tại khoản 3 của
điều luật này lại yêu cầu: Trong thời hạn 3 năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy
chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, cổ đông sáng lập có quyền tự do chuyển
nhượng cổ phần của mình cho cổ đông sáng lập khác và chỉ được chuyển nhượng
cổ phần phổ thông của mình cho người không phải là cổ đông sáng lập nếu được
sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông. Quy định này không rõ ràng ,chồng
chéo, có thể dẫn đến các giải thích sai lệch và gây khó khăn cho doanh nghiệp
12
Đề chặt chẽ hơn, quy định này có thể viết lại theo hướng sau: Trường hợp
chỉ ghi việc hạn chế việc chuyển nhượng trên cổ phiếu bút toán ghi sổ hoặc
dữ liệu điện tử thì không có giá trị pháp lý.
13
Pháp luật kinh tế
C.KẾT LUẬN
Qua bài tiểu luận trên ta thể thấy được rằng Luật Doanh nghiệp 2014 đã có sự kế
thừa và phát huy những kết quả đạt được của Luật Doanh nghiệp 1999 và 2005 đồng
thời khắc phục những điểm hạn chế, bất cập của quy định hiện hành và thể chế hóa các
vấn đề mới phát sinh từ thực tiễn. Luật Doanh nghiệp 2014 đã có những quy định mới
nhằm tạo ra một môi trường kinh doanh thuận lợi hơn cho doanh nghiệp nói chung và
cho công ty cổ phần nói riêng. Nhưng bên cạnh những ưu điểm trong quy chế pháp lý
về vốn của công ty cổ phần như tính hoàn thiện về vốn, trình độ tổ chức và hoạt động
mang tính xã hội hóa cao.... thì chúng ta cũng cần phải nhìn nhận những hạn chế trong
Luật Doanh nghiệp về vốn của Công ty cổ phần, nhất là trong bối cảnh số lượng Công
ty Cổ phần đang tăng nhanh như hiện nay. Vì vậy pháp luật về doanh nghiệp nói chung
và Công ty Cổ phần nói riêng cần phải ngày càng hoàn thiện hơn nữa để đảm bảo an
toàn, chặt chẽ cũng như nhanh nhạy về mặt pháp lý cho những nhà đầu tư cũng như
đảm bảo lợi ích chung cho toàn xã hội
14
Pháp luật kinh tế
15