`
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
********
LƢU THỊ THU
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO
CHẤT LƢỢNG HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP
CHO TRẺ 5 TUỔI Ở TRƢỜNG MẦM NON
TIỀN PHONG A, MÊ LINH, HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Chăm sóc và vệ sinh trẻ em
HÀ NỘI - 2017
`
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
********
LƢU THỊ THU
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO
CHẤT LƢỢNG HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP
CHO TRẺ 5 TUỔI Ở TRƢỜNG MẦM NON
TIỀN PHONG A, MÊ LINH, HÀ NỘI
Em xin trân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 20 tháng 4 năm 2017
Sinh viên
LƢU THỊ THU
`
LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đề tài: “MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO
CHẤT LƢỢNG HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CHO TRẺ 5 TUỔI Ở
TRƢỜNG MẦM NON TIỀN PHONG A, MÊ LINH, HÀ NỘI” là kết quả
nghiên cứu của riêng em dưới sự hướng dẫn của Th.S Phí Thị Bích Ngọc.
Các số liệu thu thập trong khóa luận là: trung thực, rõ ràng, chính xác, không
trùng lặp và chưa từng được công bố trong bất kì một công trình nghiên cứu
nào.
Hà Nội, ngày 20 tháng 4 năm 2017
Sinh viên
LƢU THỊ THU
`
MỤC LỤC
PHẦN 1. MỞ ĐẦU ................................................................................................................................. 1
1.
Lý do chọn đề tài ........................................................................................................................ 1
Hoạt động học tập của trẻ ở trƣờng mầm non ................................................................ 7
1.2.3.
Đặc điểm tâm lý của trẻ 5 tuổi ........................................................................................ 13
1.2.4.
Đặc điểm sinh lý của trẻ 5 tuổi ........................................................................................ 20
CHƢƠNG 2 .......................................................................................................................................... 25
KẾT QUẢ ĐIỀU TRA VÀ THỰC NGHIỆM KHOA HỌC ............................................................ 25
2.1. Một vài nét về trƣờng mầm non Tiền Phong A, Mê Linh, Hà Nội ...................................... 25
Đối tượng điều tra: giáo viên lớp5 tuổi trường mầm non ...................................................................... 25
2.2. Thực trạng về cơ sở vật chất và không gian nhà trƣờng ...................................................... 26
2.3. Thực trạng về đội ngũ giáo viên nhà trƣờng ......................................................................... 30
2.4. Thực trạng về việc tổ chức hoạt động học tập cho trẻ 5 tuổi ở trƣờng mầm non .............. 32
2.5. Thực trạng về sự phối hợp giữa gia đình và nhà trƣờng ...................................................... 35
2.6. Khó khăn của giáo viên trong quá trình thực hiện hoạt động ............................................. 39
`
2.7. Thực trạng về việc kiểm tra đánh giá của nhà trƣờng ......................................................... 40
CHƢƠNG 3 ...................................................................................................................................... 43
CÁC BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG HOẠT ĐỘNG HỌC CHO TRẺ 5 TUỔI .... 43
3.1. Một số nguyên tắc xây dựng biện pháp .................................................................................. 43
3.2. Một số biện pháp ...................................................................................................................... 43
3.3. Áp dụng các biện pháp đƣa ra tại trƣờng mầm non Tiền Phong ........................................ 44
3.4. Kết quả thu đƣợc sau khi thực nghiệm .................................................................................. 51
vẫn còn bị hạn chế về không gian ....................................................................... 28
Hình 4: Trước giờ học thể dục giao lưu giữa hai lớp.......................................... 45
Hình 5: Trẻ được tham gia vào các bài tập vận động đã được giới thiệu ........... 46
Hình 6: Trẻ được đổi sân chơi giữa các lớp, dưới sự hướng dẫn của giáo viên.......... 46
Hình 7: Một góc tạo hình, phục vụ cho tiết học vẽ của trẻ ................................. 48
Hình 8: Trẻ tích cực, hứng thú tham gia hoạt động tạo hình và tạo ra những
sản phẩm rất đẹp.................................................................................................. 48
Hình 9: Sắp xếp, bố trí lại góc học tập với những đồ dùng phong phú, ............. 48
đa dạng để trẻ thỏa sức học. ................................................................................ 48
Hình 10: Trò chơi học tập những con số vui nhộn, xâu vòng đủ số lượng,
ghép tranh, ghép chữ. .......................................................................................... 49
Hình 11: Mô hình nông trại vui vẻ, các loại rau củ thật và................................ 50
hộp quà bí mật. .................................................................................................... 50
Hình 12: Lớp học với số lượng trẻ ít hơn thường ngày ...................................... 51
PHẦN 1. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “làm mẫu giáo tức là thay
mẹ dạy trẻ, dạy trẻ cũng như trồng cây non, trồng cây non tốt thì sau này cây
lớn lên tốt, dạy trẻ tốt thì sau này các cháu thành người tốt”. Ngoài ra
Rabelais có câu danh ngôn: “một đứa bé không phải là một chiếc lọ hoa để đổ
cho đầy mà là một ngọn lửa cần được thắp sáng”. Qua đó ta thấy giáo dục
mầm non, trẻ mầm non từ xa xưa đã được chú ý và có tầm quan trọng rất lớn
trong xã hội. Có thể coi giáo dục mầm non là một mắt xích đầu tiên của hệ
thống giáo dục quốc dân, nó đặt nền móng cho sự phát triển về thể chất, nhận
thức, tình cảm xã hội và cả thẩm mĩ cho trẻ sau này. Bên cạnh đó với những
đặc điểm phát triển của trẻ mầm non cùng với vai trò quan trọng trong việc
giáo dục trẻ nên giáo dục mầm non có những nhiệm vụ mà không một bậc
học nào có được đó là thực hiện đồng thời 3 nhiệm vụ: nuôi dưỡng, chăm sóc,
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc tổ chức hoạt động học tập cho trẻ.
- Nghiên cứu thực trạng của việc tổ chức hoạt động học tập cho trẻ tại
trường mầm non Tiền Phong.
- Giải pháp để nâng cao chất lượng của hoạt động học cho trẻ 5 tuổi.
- Thực nghiệm một số biện pháp và đánh giá tính khả thi.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để hoàn thành đề tài nghiên cứu, tôi có sử dụng một số phương pháp
sau:
Phương pháp nghiên cứu lý luận: một số tài liệu liên quan nhằm mục
đích xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài.
Phương pháp điều tra: thông qua các phiếu điều tra về tình hình tổ chức
các hoạt động học tập của giáo viên cho trẻ 5 tuổi, cùng với tình hình nhận
thức của trẻ về hoạt động học tập.
Phương pháp quan sát: tìm hiểu thực trạng của vấn đề.
2
Phương pháp thống kê, xử lý số liệu.
6. Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất được biện pháp, hình thức tổ chức hoạt động học cho trẻ
mầm non phù hợp với lứa tuổi, phát huy tối đa sự tích cực sáng tạo cũng như
sự hứng thú của trẻ thì sẽ góp phần nâng cao nhận thức cho trẻ mầm non nói
riêng và giúp trẻ phát triển toàn diện.
7. Đóng góp của đề tài
Phân tích và đánh giá được chất lượng hoạt động học tập của trẻ 5 tuổi
tại trường mầm non.
Đưa ra một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động học cho
trẻ mầm non.
Đây có thể là tài liệu tham khảo cho giáo viên ngành giáo dục mầm
Một số quy định về chính sách phát triển giáo dục mầm non giai đoạn
2011-2015.
Tuy nhiên để tìm ra một công trình nghiên cứu chỉ nhắc đến vấn đề các
biện pháp để nâng cao chất lượng hoạt động học tập của trẻ mầm non nói
chung thì rất hiếm và đặc biệt hơn nữa là nghiên cứu để đưa ra biện pháp
nâng cao chất lượng hoạt động học cho trẻ mầm non nói chung lại càng khó
4
hơn. Các công trình trên mặc dù đóng góp nhiều ý kiến rất thiết thực cho
nghành giáo dục nhưng cũng chưa đề cập nhiều đến chất lượng hoạt động học
của trẻ mầm non. Vì vậy cần phải đi sâu vào nghiên cứu vấn đề này nhằm đưa
ra những biện pháp cụ thể đóng góp cho sự phát triển giáo dục đăc biệt là giáo
dục mầm non.
1.2.
Cơ sở lý luận
1.2.1. Hoạt động
a) Khái niệm
Theo tâm lý học: hoạt động là phương thức tồn tại của con người trong
thế giới. Hoạt động tạo nên mối quan hệ tác động qua lại giữa con người với
thế giới khách quan và với chính bản thân mình, qua đó tạo ra sản phẩm cả về
phía thế giới, cả về phía con người.[2]
b) Các dạng hoạt động giáo dục mầm non
- Hoạt động vui chơi: là dạng hoạt động không mang tính bắt buộc, trẻ
tham gia nhiệt tình do chính sự hấp dẫn của trò chơi. Đối với trẻ, trò chơi là
một dạng hoạt động mang tính tự lập. Trẻ có thể chơi với các loại trò chơi cơ
bản sau: trò chơi đóng vai theo chủ đề, trò chơi ghép hình, trò chơi lắp ráp, trò
chơi xây dựng, trò chơi đóng kịch, trò chơi học tập, trò chơi vận động, trò
thành một nề nếp, thói quen trong sinh hoạt, đáp ứng nhu cầu sinh lý của trẻ,
tạo cho trẻ trạng thái thoải mái, vui vẻ. [5]
Các hoạt động ở trên là các dạng hoạt động cơ bản của con người, trong
đó nó thể hiện các trình độ phát triển theo bậc thang khác nhau của một đời
người. Lúc đầu trẻ mới biết vui chơi, sau đó là học tập và cuối cùng là lao
động. Hoạt động vui chơi đóng vai trò chủ đạo trong sự phát triển tâm lý của
trẻ mầm non. Bên cạnh hoạt động vui chơi, cần tổ chức cho trẻ tham gia vào
các hoạt động khác như học tập và lao động phù hợp với các em, đặc biệt là
nên chú trọng tổ chức hoạt động học tập cho trẻ cho hợp lý để có thể giúp trẻ
phát triển về nhận thức một cách tốt nhất.
c) Vai trò của hoạt động
6
Hoạt động đóng vai trò quyết định đến sự hình thành và phát triển tâm
lý và nhân cách cá nhân thông qua hai quá trình:
- Quá trình đối tượng hóa: chủ thể chuyển năng lực và phẩm chất tâm
lý của mình tạo thành sản phẩm. Từ đó, tâm lý con người được bộc lộ, khách
quan hóa trong quá trình tạo ra sản phẩm, hay còn gọi là quá trình xuất tâm.
- Quá trình chủ thể hóa: thông qua các hoạt động đó, con người, tiếp
thu lấy tri thức, đúc rút được kinh nghiệm nhờ quá trình tác động vào đối
tượng, hay còn được gọi là quá trình nhập tâm.
Do vậy, hoạt động quyết định đến sự hình thành và phát triển tâm lý,
nhân cách cá nhân. Sự hình thành và phát triển tâm lý, nhân cách cá nhân phụ
thuộc vào hoạt động chủ đạo của từng thời kì.
1.2.2. Hoạt động học tập của trẻ ở trƣờng mầm non
a) Khái niệm
Hoạt động học tập của trẻ mầm non là hoạt động độc lập của trẻ nhằm
lĩnh hội tri thức, kĩ năng, kĩ xảo và phương thức hoạt động, diễn ra dưới sự
hướng dẫn của giáo viên.
và mới, đưa ra những tình huống mới và tự giải quyết dựa trên những kiến
thức đã được tiếp thu ở giai đoạn đầu.
- Như vậy, việc lĩnh hội một đơn vị tri thức nào đó đều được bắt đầu
bằng sự khảo sát đối tượng và kết thúc bằng việc ứng dụng tri thức thu được
về đối tượng vào một hoạt động thực tiễn. Quy trình học tập (lĩnh hội tri thức)
ở trẻ diễn ra với mức độ, thời gian khác nhau ở mỗi giai đoạn. Nó phụ thuộc
vào đặc điểm lứa tuổi, những kinh nghiệm đã có ở trẻ, hứng thú, nhận thức và
khả năng riêng của từng trẻ. Ngoài ra nó còn phụ thuộc vào khả năng của
người lớn khi dẫn dắt, điều khiển hoạt động tìm hiểu và tích lũy tri thức, vào
việc họ đã sử dụng biện pháp nào để giúp trẻ hứng thú hơn trong việc tham
gia hoạt động củng cố tri thức đã lĩnh hội được. [6]
c) Các hình thức học tập (lĩnh hội tri thức) ở trẻ mầm non
8
Trẻ lĩnh hội tri thức thông qua hoạt động khám phá thế giới xung
quanh, việc lĩnh hội tri thức của trẻ diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau,
với các mức độ khác nhau phụ thuộc vào tính tích cực của bản thân trẻ, của
môi trường hoạt động, của kinh nghiệm và của phương pháp giáo dục của
người lớn xung quanh chúng. Trên thực tế có các hình thức học tập, lĩnh hội
tri thức sau đây của trẻ:
- Thứ nhất: trẻ học tập một cách tự nhiên. Đây là kiểu học do trẻ tự
khởi xướng, là cách học chính trong giai đoạn giác động, nhưng nó luôn cần
thiết và quan trọng đối với trẻ ở các lứa tuổi. Để giúp trẻ có thể dễ dàng lĩnh
hội tri thức, cần có sự chuẩn bị điều kiện hoạt động cho trẻ về phía người lớn
như: tạo môi trường hấp dẫn phong phú cho trẻ hoạt động như có nhiều đồ vật
cho trẻ cầm, nắm, nghe, sờ, ngửi. Quan sát hành động của trẻ để theo dõi sự
phát triển của chúng, quan tâm khuyến khích hoặc giúp trẻ hoạt động, hợp tác
và tích cực khen ngợi trẻ để tạo động lực cho trẻ hoạt động.
dành cho các giai đoạn: thích ứng, hưng phấn tối ưu, mệt mỏi trong giờ học.
Đối với trẻ 5-6 tuổi thì các giai đoạn đó cụ thể như sau: giai đoạn thích ứng:
giờ thứ nhất là gần 6 phút, giờ thứ hai là gần 5 phút. Trong đó, 80% các
trường hợp kéo dài từ 2-7 phút. Giai đoạn hưng phấn tối ưu: giờ thứ nhất 1718 phút, giờ thứ 2 từ 16-17 phút. Giai đoạn bắt đầu mệt mỏi: kéo dài 5-7 phút.
Sự phân bố thời gian tối thiểu dành cho các giai đoạn trên phụ thuộc vào đặc
điểm giờ học động hay tĩnh, đòi hỏi sự tập trung về trí tuệ hay thể chất. Cần
sự tham gia của một hay nhiều giác quan.[4]
Thời điểm học: có hai cao điểm tăng cường khả năng làm việc của con
người trong ngày tương ứng với thời gian tăng cường các chức năng sinh lý
trong cơ thể. Cao điểm thứ nhất là 8h-12h; cao điểm thứ hai là từ 14h-18h.
Trong đó, khả năng làm việc ở cao điểm thứ nhất cao hơn cao điểm thứ hai.
Về không khí: thành phần không khí trong phòng học ảnh hưởng đến
khả năng hoạt động của trẻ. Bên cạnh đó, trẻ rất hay nhạy cảm với các thành
phần như: nhiệt độ, độ ẩm, chuyển động của không khí. Do vậy, không khí
10
trong phòng học của trẻ cần đảm bảo các thông số như: nhiệt độ thích hợp là
18-20 độ C, độ ẩm trung bình là 40-60%. Các yếu tố có ảnh hưởng đến khí
hậu trong phòng như việc bố trí bề mặt kính, sự thông thoáng khí, số lượng
trẻ, điều kiện vệ sinh cũng cần phải đảm bảo.
Về ánh sáng: ánh sáng có ảnh hưởng đến sức khỏe và khả năng làm
việc của cơ thể. Đồng thời việc học có liên quan đến sự căng thẳng của mắt
nên cần đảm bảo độ sáng tối thiểu trong phòng học. Độ sáng tối ưu giúp cơ
quan thị giác làm việc có hiệu quả là: cường độ ánh sáng phải đạt tới giới hạn
800 lux-1200 lux. Độ sáng này chỉ đạt được trong điều kiện hệ số ánh sáng tự
nhiên là 2,5 - 5%. Yêu cầu cơ bản về ánh sáng là đều, cần bổ sung thêm ánh
sáng nhân tạo nếu không đủ ánh sáng tự nhiên. Có thể dùng hai loại bóng đèn:
bóng tròn và bóng tuýp. Có đủ độ phản chiếu của tia sáng. Độ phản chiếu tia
sáng ở trong phòng còn phụ thuộc vào chất lượng kính, vấn đề vệ sinh màu
sức khỏe.
+ Có một số thói quen tốt trong ăn uống, giữ gìn sức khỏe và đảm bảo
sự an toàn của bản thân.
- Phát triển nhận thức:
+ Ham hiểu biết, thích khám phá, tìm tòi các sự vật, hiện tượng xung
quanh.
+ Có khả năng quan sát, so sánh, phân loại, phán đoán, chú ý, ghi nhớ
có chủ đích.
+ Có khả năng phát hiện và giải quyết các vấn đề đơn giản theo những
cách khác nhau.
+ Có khả năng diễn đạt sự hiểu biết của mình bằng các cách khác nhau
với ngôn ngữ nói là chủ yếu.
+ Có một số hiểu biết ban đầu về con người, sư vật hiện tượng xung
quanh và một số khái niệm sơ đẳng về toán.
- Phát triển ngôn ngữ:
+ Có khả năng biểu đạt bằng nhiều cách khác nhau.
12
+ Diễn đạt rõ ràng và giao tiếp có văn hóa trong đời sống hàng ngày.
+ Có khả năng nghe và kể lại sự việc, kể lại truyện.
+ Có khả năng cảm nhận vần điệu, nhip điệu của bài thơ, ca dao, đồng
dao phù hợp với độ tuổi.
+ Có một số kĩ năng ban đầu về đọc và viết.
- Phát triển tình cảm và kĩ năng xã hội:
+ Có khả năng nhận biết và thể hiện tình cảm với người, sự vật, hiện
tượng xung quanh.
+ Có một số phẩm chất như: mạnh dạn, tự tin, tự lực…
+ Có một số kĩ năng sống: tôn trọng, hợp tác, thân thiện, quan tâm, chia
sẻ…
+ Nắm vững ngữ âm và ngữ điệu khi sử dụng tiếng mẹ đẻ.
+ Phát triển vốn từ và cơ cấu ngữ pháp.
+ Sự phát triển ngôn ngữ mạch lạc.
+ Nhìn chung đứa trẻ trước khi bước vào tuổi học sinh đã có khả năng nắm
được ý nghĩa của từ vựng thông dụng, phát âm đúng sự phát âm của người
lớn, biết dùng ngữ điệu phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp và đặc biệt là nói
đúng hệ thống ngữ pháp phức tạp bao gồm những quy luật ngôn ngữ tinh vi
nhất về phương diện cú pháp, phương diện tu từ, nói năng mạch lạc, thoải
mái. Tóm lại, trẻ đã thực sự nắm được tiếng mẹ đẻ.[7]
b) Sự phát triển quá trình nhận thức: xuất hiện kiểu tư duy trực quan
hình tượng mới
- Đó là kiểu tư duy trực quan sơ đồ. Kiểu tư duy này tạo cho trẻ một
khả năng phản ánh những mối liên hệ tồn tại khách quan, không bị phụ thuộc
vào hành động hay ý muốn chủ quan của bản thân đứa trẻ.
- Trẻ ở tuổi mẫu giáo lớn có khả năng hiểu dễ dàng và nhanh chóng về
cách biểu diễn sơ đồ và sử dụng kết quả của sơ đồ đó để tìm hiểu sự vật.
14
- Tư duy trực quan sơ đồ giúp trẻ một cách có hiệu lực để lĩnh hội
những tri thức ở trình độ khái quát cao, từ đó mà hiểu đươc bản chất của sự
vật.
- Tư duy trực quan sơ đồ phát triển cao sẽ giúp đứa trẻ đến ngưỡng của
tư duy trừu tượng, sẽ giúp cho đứa trẻ hiểu được những biểu diễn sơ đồ khái
quát mà sau này sự hình thành khái niệm sẽ được tiến hành chủ yếu dựa trên
đó. Kiểu tư duy logic sẽ được hình thành và phát triển mạnh ở tuổi học sinh,
nhưng yếu tố của nó đã được xuất hiện ngay khi ở tuổi mẫu giáo, đặc biệt là
tuổi mẫu giáo lớn. Khi trẻ biết sử dụng khá thành thạo các vật thay thế, khi đã
phát triển tốt chức năng kí hiệu của ý thức.
cùng (độ tuổi mẫu giáo lớn) hoạt động tâm lý của trẻ đặc biệt nhạy cảm với
những hình tượng cụ thể sinh động về các sự vật và hiện tượng của hiện thực,
và tiếp thu những tri thức được biểu hiện dưới dạng trực quan- hình tượng là
dễ dàng hơn hết. Do đó chủ trương tăng nhanh và quá mức tốc độ để nắm các
hình thức tư duy logic ở lứa tuổi này là không hợp lý.
- Các biểu tượng vốn có ở trẻ không thể tự nhiên biến thành khái niệm,
chúng chỉ có thể được sử dụng khi hình thành khái niệm. Còn bản thân khái
niệm và những hình thức tư duy trửu tượng, tư duy bằng khái niệm sẽ hình
thành được qua quá trình lĩnh hội tri thức khoa học thông qua hoạt động học
tập ở trường phổ thông.[7]
c) Sự phát triển ý thức bản ngã và tính chủ định trong hoạt động tâm lý
- Tiền đề của ý thức bản ngã là việc tách mình ra khỏi người khác, đã
được hình thành ở cuối tuổi ấu nhi. Tuy nhiên phải trải qua một quá trình phát
triển, ý thức bản ngã của trẻ mới được xác định rõ ràng.Khi mới bước vào
tuổi mẫu giáo, đứa trẻ chưa hiểu biết gì mấy về bản thân mình và những phẩm
chất của mình. Nhưng đến cuối tuổi mẫu giáo trẻ mới hiểu được mình là
người như thế nào, có phẩm chất gì, những người xung quanh đối xử với
mình ra sao và tại sao mình lại có hành động này hay hành động khác… Ý
thức bản ngã hay sự tự ý thức được thể hiện rõ nhất trong sự tự đánh giá về
16
mình, thành công hay thất bại của mình, về những ưu điểm hay khuyết điểm
của bản thân, về những khả năng và cả sự bất lực nữa.
- Để đánh giá bản thân một cách đúng đắn, đầu tiên đứa trẻ phải học
cách đánh giá người khác và nghe những người xung quanh đánh giá mình
như thế nào.
- Đến tuổi mẫu giáo lớn, trẻ mới nắm được kĩ năng so sánh mình với
người khác, điều này là cơ sở để tự đánh giá một cách đúng đắn hơn và cũng
là cơ sở để trẻ noi gương những người tốt, việc tốt. Đặc biệt ở tuổi mẫu giáo