Giáo dục khoa học cho trẻ 5- 6 tuổi theo hướng trải nghiệm - Pdf 44

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON

NGUYỄN THỊ HÀO

GIÁO DỤC KHOA HỌC CHO TRẺ 5-6 TUỔI
THEO HƢỚNG TRẢI NGHIỆM

TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp môi trƣờng xung quanh

HÀ NỘI – 2017


TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON

NGUYỄN THỊ HÀO

GIÁO DỤC KHOA HỌC CHO TRẺ 5-6 TUỔI
THEO HƢỚNG TRẢI NGHIỆM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp môi trƣờng xung quanh

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học

TS. PHẠM QUANG TIỆP

HÀ NỘI – 2017


Sinh viên

Nguyễn Thị Hào


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
1. Lí do chọn đề tài:.....................................................................................................1
2. Mục đích nghiên cứu:..............................................................................................3
3. Đối tượng nghiên cứu của đề tài: ............................................................................3
4. Khách thể nghiên cứu của đề tài: ............................................................................3
5. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài:.............................................................................3
6. Phạm vi nghiên cứu đề tài: ......................................................................................4
7. Phương pháp nghiên cứu đề tài: ..............................................................................4
8. Giả thuyết khoa học ................................................................................................4
9. Cấu trúc đề tài .........................................................................................................4
NỘI DUNG ................................................................................................................5
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA GIÁO DỤC KHOA
HỌC CHO TRẺ THEO HƢỚNG TRẢI NGHIỆM ..............................................5
1.1. Cơ sở lí luận của việc giáo dục khoa học cho trẻ 5-6 tuổi theo hướng trải
nghiệm .........................................................................................................................5
1.1.1. Lịch sử về “Giáo dục trải nghiệm” ...................................................................5
1.1.2. Những nghiên cứu về giáo dục khoa học cho trẻ mầm non theo hướng trải
nghiệm .........................................................................................................................6
1.1.3. Một số vấn đề về giáo dục khoa học cho trẻ mầm non .....................................7
1.1.4. Đặc điểm học tập của trẻ 5- 6 tuổi ..................................................................27
1.1.5. Trải nghiệm và học tập qua trải nghiệm .........................................................30
1.2. Cơ sở thực tiễn của giáo dục khoa học theo hướng trải nghiệm ........................38
1.2.1. Mục đích khảo sát thực trạng ..........................................................................38
1.2.2. Phạm vi, đối tượng khảo sát thực trạng ..........................................................38

: GDBVMT

Giáo dục khoa học

: GDKH

Giáo dục mầm non

: GDMN

Giáo viên

: GV

Khám phá khoa học

: KPKH

Mẫu giáo bé

: MGB

Mẫu giáo lớn

: MGL

Mẫu giáo nhỡ

: MGN


Chính vì thế, các quốc gia và các tổ chức trong xã hội đã xác định “ GDMN là
một mục tiêu quan trọng của giáo dục con người” và việc nâng cao chất lượng
GDMN được các đơn vị, tổ chức đoàn thể giáo dục đặc biệt quan tâm.
Việc phát triển nhận thức, đặc biệt là hình thành thái độ nhận thức và kĩ năng
nhận thức cho trẻ là một nhiệm vụ của giáo dục mầm non nhằm hình thành nền tảng
cho việc học tập của trẻ trong tương lai.
Sự phát triển của trẻ về trí tuệ và sự gia tăng về khối lượng tri thức, sự phong phú
đa dạng của các nhu cầu, hứng thú nhận thức hiện nay đã đặt ra những yêu cầu mới
cho người lớn trong việc nuôi dạy và chăm sóc trẻ.
Việc tổ chức giáo dục khoa khoa học trong trường mầm non nhằm phát triển
nhận thức của trẻ đã trở thành một nội dung quan trọng trong chương trình giáo dục
mầm non của nhiều nước tiên tiến trên thế giới. Thông qua giáo dục khoa học giáo
viên sẽ tạo cơ hội cho trẻ được tìm tòi, khám phá, trải nghiệm. Giáo dục khoa học
phù hợp sẽ giúp trẻ tìm ra cái mới, tiếp cận với những tri thức tiền khoa học, tích
cực hoạt động nhận thức.

1


Nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục sớm đối với trẻ em, công tác giáo
dục, đổi mới phương pháp dạy học ở trường mầm non ngày càng được chú trọng.
Hiện nay, có rất nhiều phương pháp dạy học mới và tốt hơn, và các phương pháp
dạy học truyền thống không phải là sự lựa chọn duy nhất và hiệu quả nhất đối với
trẻ. Vì thế đã có rất nhiều các phương pháp dạy học mới được áp dụng cho trẻ như:
dạy học trải nghiệm, dạy học tích cực, dạy học tương tác, dạy học theo vấn đề… Và
dạy học thông qua trải nghiệm là một phương pháp được áp dụng nhiều nhất cho
trẻ, đây là phương pháp có nhiều ưu điểm và kích thích được các tiềm năng sáng tạo
và tư duy của trẻ.
Phương pháp dạy học trải nghiệm cho trẻ được sử dụng trong nhiều mô hình nổi
tiếng như: Jonh Dewey, mô hình Shichida Makoto (Nhật Bản), Glenn Doman (Mỹ),

giáo viên giải quyết những hạn chế trên và giúp giáo viên có một cái nhìn đúng đắn
về trẻ em và các phương pháp dạy học mới. Đó cũng là lí do tôi chọn cho mình đề
tài “Giáo dục khoa học cho trẻ 5-6 tuổi theo hƣớng trải nghiệm”.
2. Mục đích nghiên cứu:
Mục đích nhằm “Giáo dục khoa học cho trẻ 5-6 tuổi theo hướng trải nghiệm”.
Trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp nhằm giáo dục khoa học cho trẻ thông qua hoạt
động trải nghiệm ở trường Mầm non.
3. Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài:
Việc giáo dục khoa học cho trẻ 5- 6 tuổi thông qua hoạt động trải nghiệm.
4. Khách thể nghiên cứu của đề tài:
Quá trình tổ chức các hoạt động giáo dục khoa học cho trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi ở
trường Mầm non.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài:
- Xây dựng cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của giáo dục khoa học cho trẻ 5- 6
tuổi theo hướng trai nghiệm.
- Nghiên cứu thực trạng giáo dục khoa học cho trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi theo hướng
trải nhiệm ở trường Mầm non.
- Đề xuất một số biện pháp giáo dục khoa học cho trẻ theo hướng trải nghiệm ở
trường Mầm non hiện nay.

3


6. Phạm vi nghiên cứu đề tài:
Đề tài giới hạn nghiên cứu việc giáo dục khoa học theo hướng trải nghiệm cho
trẻ 5- 6 tuổi ở trường Mầm non (theo Chương trình giáo dục mầm non hiện hành):
Trường mầm non Đại Mạch- Đông Anh- Hà Nội.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu đề tài:
- Phương pháp nghiên cứu lí luận
+ Phương pháp phân tích - tổng hợp lí thuyết .

“Người ta phải học bằng cách làm một việc gì đó; Với những điều bạn nghĩ là mình,
bạn sẽ thấy không chắc chắn cho đến khi làm nó”. Đây được coi là những nguồn
gốc tư tưởng đầu tiên của “Giáo dục trải nghiệm”.
“Giáo dục trải nghiệm” được thực sự đưa vào giáo dục hiện đại từ những năm
đầu của thế kỷ 20. Tại Mỹ, năm 1902, “Câu lạc bộ trồng ngô” đầu tiên dành cho trẻ
em được thành lập, CLB có mục đích dạy các học sinh thực hành trồng ngô, ứng
dụng khoa học kỹ thuật vào nông nghiệp thông qua các công việc nhà nông thực tế.
Hơn 100 năm sau, hệ thống các CLB này trở thành hoạt động cốt lõi của tổ chức 4H, tổ chức phát triển thanh thiếu niên lớn nhất của Mỹ, tiên phong trong ứng dụng
học tập qua lao động, trải nghiệm.
Tại Anh, năm 1907, một Trung tướng trong quân đội Anh đã tổ chức một cuộc
cắm trại hướng đạo đầu tiên. Hoạt động này sau phát triển thành phong trào Hướng
đạo sinh rộng khắp toàn cầu. Hướng đạo là một loại hình “Giáo dục trải nghiệm”,
chú ý đặc biệt vào các hoạt động thực hành ngoài trời, bao gồm: cắm trại, kỹ năng
sống trong rừng, kỹ năng sinh tồn, lửa trại, các trò chơi tập thể và các môn thể thao.
Cho đến năm 1977, với sự thành lập của “Hiệp hội Giáo dục trải nghiệm”
(Association for Experiential Education – AEE), “Giáo dục trải nghiệm” đã chính
thức được thừa nhận bằng văn bản và được tuyên bố rộng rãi.

5


“Giáo dục trải nghiệm” bước thêm một bước tiến mạnh mẽ hơn khi vào năm
2002, tại Hội nghị thượng đỉnh Liên hiệp quốc về Phát triển bền vững, chương trình
“Dạy và học vì một tương lai bền vững” đã được UNESCO thông qua, trong đó có
học phần quan trọng về “Giáo dục trải nghiệm” được giới thiệu, phổ biến và phát
triển sâu rộng.
Ngày nay, “Giáo dục trải nghiệm” đang tiếp tục phát triển và hình thành mạng
lưới rộng lớn những cá nhân, tổ chức giáo dục, trường học trên toàn thế giới ứng
dụng. UNESCO cũng nhìn nhận Giáo dục trải nghiệm như là một triển vọng tươi lai
tươi sáng cho giáo dục toàn cầu trong các thập kỷ tới [12]

lĩnh vực cụ thể. Đối với John Dewey, tất cả những gì quí giá, được chắt lọc, được
trải nghiệm từ các tình huống cụ thể, từ các kinh nghiệm được tổ chức một cách
chuyên nghiệp, từ thực tế mới chính là cứu cánh của nền giáo dục đích thực.
Năm 1984, trên cơ sở những nghiên cứu của Dewey và các nhà nghiên cứu khác
về kinh nghiệm và học tập dựa vào kinh nghiệm, David Kolb (1939), nhà lý luận
giáo dục Hoa Kì đã nghiên cứu và cho xuất bản một công trình về học tập dựa vào
trải nghiệm: Trải nghiệm học tập: Kinh nghiệm là nguồn học tập và phát triển. Đối
với Kolb, “Học tập là quá trình mà trong đó kiến thức được tạo ra thông qua việc
chuyển đổi kinh nghiệm”. Các kinh nghiệm học tập liên quan đến việc áp dụng các
thông tin nhận được từ giáo dục đến kinh nghiệm của người học. Người học không
tiếp thu kiến thức của mình chỉ từ các GV, mà thay vào đó, người học thông qua
quá trình trải nghiệm dựa trên các kinh nghiệm hiện có của bản thân để thu thập
thông tin mới trong môi trường học tập thực tiễn và kiểm tra nó lại bằng kinh
nghiệm của mình.
1.1.3. Một số vấn đề về giáo dục khoa học cho trẻ mầm non
1.1.3.1. Khái niệm về giáo dục
Theo Wikipedia, Giáo dục (Education) là hình thức học tập theo đó kiến thức, kĩ
năng, và thói quen của một nhóm người được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ
khác thông qua giảng dạy, đào tạo, hay nghiên cứu.
Theo Hà Thế Ngữ “Giáo dục là một quá trình đào tạo con người một cách có
mục đích, nhằm chuẩn bị cho con người tham gia đời sống xã hội, tham gia lao
động sản xuất, bằng cách tổ chức việc truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm
lịch sử- xã hội của loài người”.

7


Giáo dục (theo nghĩa rộng) là sự hình thành nhân cách được tổ chức một cách có
mục đích, có tổ chức thông qua các hoạt động và các quan hệ giữa nhà Giáo dục với
người được giáo dục nhằm giúp người được giáo dục chiếm lĩnh những kinh

lập luận…Kết quả của các hoạt động khám phá MTXQ là trẻ thu được một lượng
kiến thức khoa học đơn giản và quan trọng hơn là ở trẻ phát triển các năng lực cơ
bản như quan sát, tư duy logic, giải quyết vấn đề, hợp tác…
 Từ những khái niệm trên, chúng ta có thể hiểu “Giáo dục khoa học” cho trẻ là
việc giáo viên tổ chức có ý thức, hướng tới mục đích khơi gợi và biến đổi nhận
thức, năng lực, tình cảm, thái độ, tạo điều kiện, cơ hội và tổ chức các hoạt động
cho trẻ qua những hiểu biết về thế giới khách quan để cho trẻ tích cực tìm tòi,
phát hiện những điều thú vị về các sự vật và hiện tượng xung quanh trẻ. Đây thực
chất là việc giáo viên tạo môi trường, tạo ra các tình huống và tổ chức các hoạt
động cho trẻ tiếp xúc, trải nghiệm với các sự vật, hiện tượng của MTXQ, thông
qua đó trẻ hiểu biết về đặc điểm, thuộc tính của sự vật, hiện tượng, các mối quan
hệ qua lại, sự thay đổi và phát triển của chúng. Thông qua giáo dục khoa học trẻ
học được kĩ năng quan sát, so sánh, phân loại, đo lường, phán đoán, giải quyết
vấn đề, chuyển tải ý kiến của mình và đưa ra kết luận.
1.1.3.3. Mục tiêu giáo dục khoa học cho trẻ
Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ phát triển về thể chất, tình cảm, trí
tuệ, thẩm mĩ, những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em bước vào
lớp Một (Điều 22- Luật Giáo dục 2005).
Dựa trên những mục đích của giáo dục mầm non và đặc điểm phát triển của trẻ
có thể xác định được mục tiêu giáo dục khoa học cho trẻ mầm non, cụ thể:
Về kiến thức:
- Củng cố, chính xác hóa những biểu tượng cũ, cung cấp những biểu tượng mới
và GV cũng cần mở rộng hiểu biết cho trẻ về thế giới xung quanh một cách khoa
học, hệ thống.
- GV cần trang bị cho trẻ vốn hiểu biết cơ bản, ban đầu về tự nhiên, xã hội và con
người trong thế giới, đây cũng là nhiệm vụ quan trọng của giáo viên nói chung và
người lớn xung quanh trẻ.
Trong quá trình tổ chức các hoạt động giáo dục khoa học cho trẻ, GV cần giúp
trẻ gọi tên chính xác các sự vật, hiện tượng, nhận biết, phân biệt những dấu hiệu bên


điều chỉnh hành vi của bản thân…

10


- Ngoài các kĩ năng trên, GV cần rèn luyện cho trẻ các kĩ năng quan trọng khác
như: kĩ năng vận động, kĩ năng tạo hình, kĩ năng âm nhạc, các kĩ năng xã hội (kĩ
năng ứng xử, giao tiếp, kĩ năng giải quyêt vấn đề…).
Về thái độ:
- Giáo dục khoa học cho trẻ về đạo đức, tình cảm: nhằm khơi gợi ở trẻ tình cảm
nhân ái, quan tâm đến người khác, những người nghèo, hoàn cảnh khó khăn, những
đối tượng cần giúp đỡ và bảo vệ, tạo điều kiện cho việc hình hình thành tính tự tin
vào bản thân.
+ Giúp trẻ có tâm hồn trong sáng, hồn nhiên, cởi mở, có lòng nhân ái, tình yêu
đối với những người thân,bạn bè, có lòng kính trọng đối với người lao động, với
lãnh tụ và những người có công với đất nước, biết yêu lao động, sản phẩm mà
người lao động làm ra, yêu quí và bảo vệ thiên nhiên: không ngắt hoa, bẻ cành,..
- Giáo dục về thể chất và thẩm mĩ cho trẻ: Thông qua việc tìm hiểu về MTXQ trẻ
sẽ cảm nhận được màu sắc, hình dạng, mùi vị, âm thanh… của cỏ cây, hoa lá, sản
phẩm con người làm ra, trẻ biết rung động trước cái đẹp, trước sự phong phú đa
dạng của thiên nhiên và cuộc sống. Từ đó, trẻ có tình yêu với cái đẹp, biết tôn trọng,
giữ gìn và bảo vệ cái đẹp. Giáo dục trẻ biết giữ gìn và chăm sóc cơ thể của mình,
biết yêu quí và trân trọng cái đẹp xung quanh mình… Đồng thời, giúp trẻ rèn luyện
sức khỏe, tạo sức đề kháng cho cơ thể trẻ trước những thay đổi của thiên nhiên và
cuộc sống.
- Khơi gợi ở trẻ sự hứng thú và tham gia tích cực vào các hoạt động trải nghiệm,
khám phá các sự vật, hiện tượng xung quanh trẻ, kể cả các sự vật, hiện tượng không
quen thuộc với trẻ.
- Hình thành và rèn luyện cho trẻ có thái độ, thói quen có văn hóa, lịch sự và
hành vi ứng xử đúng đắn với môi trường xung quanh: Trẻ có lối sống của con

tiếp theo.
1.1.3.5. Đặc điểm của chương trình giáo dục khoa học cho trẻ 5-6 tuổi
Chương trình được xây dựng theo quan điểm tích hợp. Bên cạnh chương trình
giáo dục phù hợp, cần lựa chọn cách tổ chức nội dung học phù hợp đến trẻ. Cách tổ
chức nội dung học đảm bảo nội dung mối liên kết của các môn học, các lĩnh vực
nhận thức là phù hơp với trẻ mầm non và trẻ mầm non cần học theo cách tiếp cận
tích hợp. Tóm lại, Tích hợp trong GDMN là thiết kế các nội dung và tổ chức các

12


hoạt động thành một thể thống nhất, trong khung cảnh có ý nghĩa để trẻ phối hợp áp
dụng và phát triển, các kinh nghiệm, kĩ năng từ các lĩnh vực khác nhau khi tìm hiểu
một sự việc, thông qua việc trẻ tham gia tích cực và trực tiếp một cách tự nhiên.
Khi triển khai chương trình GDMN phải chú ý đến các nguyên tắc cơ bản chỉ đạo
trong giáo dục tích hợp lấy trẻ làm trung tâm của quá trình giáo dục và phát huy tính
tích cực, tính sáng tạo của trẻ trong các hoạt động của chúng ở trường mầm non.
Tích hợp các hoạt động khác nhau của trẻ theo các chủ đề gần gũi thân thuộc xuất
phát từ hứng thú và nhu cầu của trẻ.
Tăng cường cho trẻ được trải nghiệm và khám phá thế giới xung quanh bằng các
giác quan, trên cơ sở để phát triển ngôn ngữ, tư duy và tưởng tượng cho trẻ.
Tổ chức cho trẻ hoạt động một cách tự nhiên, hài hòa dưới nhiều hình thức khác
nhau thiết thực và phù hợp với từng cá nhân nhằm hình thành cho trẻ những năng
lực chung tạo điều kiện cho trẻ phát triển hài hòa về mọi mặt như thể chất, xã hội,
tình cảm, trí tuệ.
Chương trình thường xây dựng theo nội dung tích hợp theo chủ đề
Có các loại tích hợp như sau
 Tích hợp theo chủ đề
- Tích hợp theo chủ đề là việc tổ chức các hoạt động xoay quanh nội dung một
chủ đề nào đó, giúp GV tìm ra các cách dạy mới sáng tạo hơn và đạt hiệu quả cao

+ Khai thác nhiều mặt phát triển khác nhau ở trẻ khi tiến hành triển khai thực
hiện một hoạt động thúc đẩy một lĩnh vực nào đó. Hoạt động này phải là chủ đạo,
đồng thời kết hợp thật hợp lí các lĩnh vực khác nhau trong quá trình thực hiện hoạt
động trọng tâm.
+ Tích hợp các lĩnh vực nội dung trong một hoạt động tức là khai thác nội dung
của các lĩnh vực hoạt động khác nhau vào quá trình tổ chức một hoạt động nào đó.
Ví dụ: khi GV tổ chức hoạt động học có chủ đích thuộc lĩnh vực phát triển ngôn
ngữ, GV có thể khai thác những nội dung có liên quan ở các lĩnh vực khác nhau
như: toán, tạo hình, âm nhạc, văn học…và việc triển khai các nội dung đó cần thực
hiện linh hoạt, nhẹ nhàng, không làm mất đi tính trọng tâm của nội dung chính của
giờ hoạt động.
 Tích hợp mọi hoạt động trong ngày vào chủ đề

14


Các hoạt động chăm sóc- giáo dục trẻ diễn ra trong một ngày ở trường MN bắt đầu
từ lúc đón trẻ cho đến khi trả trẻ được tổ chức theo một chủ đề. Giáo viên có thể
tích hợp các nội dung vào hoạt động trong ngày theo chủ đẻ đã chọn một cách hợp
lí, tự nhiên.
Ví dụ: Chủ đề thực vật- Quả
+ Trẻ trò chuyện, kể tên các loại quả mà trẻ đã biết, đã được ăn.
+ Tham quan, chăm sóc các loại cây ăn quả cũng như các cây cho bóng mát, cây
cảnh…
+ Vẽ và tô màu các loại quả
+ Đọc thơ, câu đố, kể truyện về các loại quả
+ Làm nước uống từ các loại quả
+ Tổ chức trò chơi: Hái quả
Chương trình tích hợp trên chính là tổ chức các hoạt động trực tiếp của bản thân
trẻ với thế giới xung quanh, thông qua sinh hoạt tự nhiên và kinh nghiệm của trẻ.

+ Trẻ biết tên, đặc điểm, công dụng, cách sử dụng đồ dùng, đồ chơi.
+ Phân biệt, so sánh, phân loại đồ dùng, đồ chơi quen thuộc (hình dạng, kích
thước, màu sắc, chất liệu và công dụng).
*Tính phát triển: Nội dung môn học được cấu trúc nâng cao dần theo độ tuổi. Nghĩa
là cùng một chủ đề/ nhánh mà trẻ được làm quen thì yêu cầu về kiến thức, kĩ năng
đặt ra cho trẻ ở từng độ tuổi là khác nhau, trẻ càng lớn yêu cầu càng cao hơn và nội
dung làm quen rộng hơn.
Ví dụ: GV vẫn cho trẻ tìm hiểu về đồ dùng đồ chơi
MGB

MGN

MGL

-Biết đặc điểm nổi

- Đặc điểm, công dụng của đồ dùng, đồ

bật, công dụng và

chơi và cách sử dụng chúng.

cách sử dụng đồ

- Mối liên hệ dơn giản giữa đặc điểm,

dùng, đồ chơi.

cấu tạo với các sử dụng đồ dùng, đồ chơi
quen thuộc.

hiệu.

hiệu.

1.1.3.6. Phương pháp giáo dục khoa học cho trẻ:
Để giải quyết các mục đích của việc giáo dục khoa học cho trẻ làm quen MTXQ
ở trường mầm non có thể sử dụng tất cả các phương pháp và biện pháp dạy học và
giáo dục. Các phương pháp cần hướng tới mục tiêu giáo dục khoa học cho trẻ:
Giúp trẻ phát huy hết năng lực, khả năng sáng tạo, tư duy của mình một cách tối ưu
nhất để trẻ có thể thỏa sức tìm tòi, khám phá MTXQ.
Có thể phân loại các phương pháp dạy học thành các nhóm theo các quan điểm
và tiêu chí khác nhau. Mỗi cách phân loại đều có những ưu nhược điểm nhất định.
Một trong những cách phân loại hợp lí nhất đối với phương pháp giáo dục khoa học
cho trẻ đó là dựa vào nguồn kiến thức và đặc điểm tri giác thông tin. Theo cách
phân loại này, phương pháp giáo dục khoa học cho trẻ có những phương pháp sau:
* Phương pháp quan sát
Là cách thức GV tổ chức cho trẻ tri giác các sự vật, hiện tượng một cách có mục
đích, có hệ thống trong một thời gian nhất định mà không làm thay đổi qua trình
diễn biến của sự vật, hiện tượng đó.
Phương pháp quan sát giúp trẻ khám phá các đặc điểm, dấu hiệu đặc trưng, rõ nét
của sự vật, hiện tượng xung quanh; phát triển năng lực quan sát, tính ham hiểu biết
của trẻ đồng thời giáo dục sự gần gũi, gắn bó vơi thiên nhiên và cuộc sống xung
quanh.
- Cách tiến hành
+ Bước 1: Chuẩn bị nội dung cho trẻ quan sát
+ Bước 2: Sử dụng hệ thống câu hỏi để đàm thoại với trẻ
+ Bước 3: Tổ chức hướng dẫn trẻ qua sát và cho trẻ tự quan sát
+ Bước 4: Cho trẻ thảo luận, trình bày khái quát các đặc điểm, đặc trưng của đối
tượng.
+ Bước 5: Nhận xét, đánh giá


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status