TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
======
HỒ THỊ LINH
GIÁO DỤC KHOA HỌC CHO TRẺ 3 - 4 TUỔI
THEO QUAN ĐIỂM SHICHIDA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục mầm non
HÀ NỘI, 2017
LỜI CẢM ƠN
Em xin bày bỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đến Cô giáo –
TS. Nguyễn Thị Hương, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo em trong suốt
quá trình thực hiện đề tài.
Em xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, khoa Giáo dục Mầm non –
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, các thầy cô giáo trong khoa Giáo dục
Mầm non đã tạo mọi điều kiện, giúp đỡ em trong quá trình thực hiện đề tài.
Mặc dù em đã cố gắng, nỗ lực để hoàn thành, song do thời gian và
năng lực có hạn nên khóa luận còn những hạn chế và thiếu sót nhất định.
Em kính mong nhận được sự chỉ bảo của quý thầy cô và các bạn để khóa
luận này được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 4 năm 2017
Sinh viên thực hiện
Hồ Thị Linh
1.1Cơ sở lí luận ............................................................................................. 4
1.1.1Một số vấn đề về giáo dục khoa học ...................................................... 4
1.1.1.1Khái niệm giáo dục .............................................................................. 4
1.1.2 Một số vấn đề về giáo dục khoa học cho trẻ mầm non ........................... 7
1.1.2.1 Mục tiêu giáo dục khoa học cho trẻ mầm non ..................................... 7
1.1.2.2 Nội dung giáo dục khoa học cho trẻ mầm non .................................... 8
1.1.3 Một số vấn đề về phương pháp shichida trong giáo dục trẻ mầm non
..................................................................................................................... 11
1.1.3.1 Khái quát về lịch sử ra đời phương pháp shichida ............................ 11
1.1.3.2 Mục tiêu của phương pháp shichida ................................................. 13
1.1.3.3 Đặc trưng của từng độ tuổi và phương pháp tiếp cận theo phương
pháp Shichida............................................................................................... 15
1.1.3.4 Đặc điểm giáo dục trong phương pháp shichida.............................. 19
1.1.4 Đặc điểm của trẻ 3-4 tuổi ................................................................... 21
1.1.4.1 Đặc điểm sinh lí ................................................................................ 21
1.1.4.2 Đặc điểm tâm lí ................................................................................ 23
1.1.4.3 Đặc điểm nhận thức.......................................................................... 24
1.1.5 Sự phù hợp giáo dục khoa học cho trẻ 3-4 tuổi theo quan điểm shichi da
..................................................................................................................... 25
1.2. Cơ sở thực tiễn ..................................................................................... 25
1.2.1 Thực trạng giáo dục khoa học cho trẻ 3-4 tuổi theo quan điểm
Shichida ....................................................................................................... 26
1.2.1.1 Mục đích thực trạng .......................................................................... 26
1.2.1.2 Đối tượng khảo sát thực trạng ........................................................... 26
1.2.1.3 Nội dung và phương pháp khảo sát thực trạng .................................. 26
1.2.1.4 Kết quả khảo sát ............................................................................... 26
1.2.1.4.1 Thực trạng sử dụng các phương pháp, biện pháp trong giáo dục khoa
học ở trường mầm non hiện nay ................................................................... 26
3.1.5.1 Xác định yêu cầu cần đạt .................................................................. 51
3.1.5.2 Chuẩn bị thực nghiệm ....................................................................... 51
3.1.5.3 Triển khai thực nghiệm ..................................................................... 52
3.2 Kết quả thực nghiệm .............................................................................. 52
KẾT LUẬN CHƢƠNG 3 .............................................................................. 54
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ............................................................... 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 56
PHỤ LỤC ....................................................................................................... 58
PHIẾU ĐIỀU TRA THỰC TRẠNG GIÁO DỤC KHOA HỌC CHO TRẺ
3 – 4 TUỔI THEO QUAN ĐIỂM SHICHIDA ........................................... 58
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Đất nước ta đang trong thời kì toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng. Vì vậy
công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đòi hỏi giáo dục phải đáp ứng nhu cầu học
tập, nhanh chóng góp phần tạo ra nguồn lực chất lượng cao. Để đạt được mục tiêu
giáo dục thì người dạy phải có phương pháp và hình thức tổ chức dạy học phù hợp.
Trong các bậc học, giáo dục mầm non là giai đoạn giáo dục đầu đời của con người,
có ý nghĩa vô cùng quan trọng giúp trẻ phát triển toàn diện và hình thành các yếu tố
đầu tiên về nhân cách khi trưởng thành. Sáu năm đầu là giai đoạn “vàng” trong suốt
cuộc đời mỗi con người. Vì vậy, giáo dục mầm non tốt nhất sẽ là tiền đề để hình
thành một cá nhân toàn diện.
Nhận thức được tầm quan trọng của việc giáo dục sớm, hiện nay việc đổi mới
phương pháp giáo dục đang được quan tâm hàng đầu. Nhưng câu hỏi đặt ra là làm
sao để phát triển tốt nhất các kĩ năng cũng như kiến thức, thái độ cho trẻ? Hiện nay
các phương pháp truyền thống không phải là lựa chọn duy nhất và hiệu quả nhất đối
với trẻ. Bên cạnh đó có rất nhiều các phương pháp tiếp cận mới tạo điều kiện cho
sao?” “Tại sao”. Tuy nhiên, với nhu cầu muốn khám phá thế giới xung quanh rất
lớn của trẻ thì việc áp dụng các phương pháp trong dạy học để tổ chức cho trẻ khám
phá chưa thực sự hiệu quả. Trường học chú trọng vào một khung chương trình cố
định, giáo viên còn tổ chức giờ học đơn điệu, nhàm chán, trẻ học một cách thụ
động, chưa kích thích được sự tìm tòi khám phá của trẻ, trẻ có ít trải nghiệm.
Để trẻ khám phá khoa học theo phương pháp Shichida là một lựa chọn cần
thiết, giúp giáo viên giải quyết được những hạn chế trên và giúp giáo viên có cái
nhìn đúng đắn về trẻ em, khả năng của não bộ và các phương pháp dạy học mới. Đó
cũng chính là lí do tôi chọn đề tài: “Giáo dục khoa học cho trẻ 3-4 tuổi theo quan
điểm Shichida” để nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu đề tài
Đề xuất biên pháp giáo dục khoa học cho trẻ 3-4 tuổi theo quan điểm
Shichida.
3. Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu đề tài
3.1 Đối tƣợng nghiên cứu
2
Mối quan hệ giữa quan điểm giáo dục shichida và việc dạy trẻ 3- 4 tuổi khám
phá khoa học.
3.2 Khách thể nghiên cứu
Quá trình giáo dục trẻ mầm non khám phá khoa học.
4. Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất được biện pháp giáo dục khoa học theo quan điểm shichida phù
hợp để giáo dục trẻ mầm non khám phá khoa học, phát huy được tính tích tực của
trẻ, thì sẽ nâng cao chất lượng giáo dục trẻ khám phá khoa học nói riêng và chất
lượng giáo dục nói chung.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc giáo dục khoa học cho
1.1.1.1 Khái niệm giáo dục
Theo Bách khoa toàn thư Wikipedia: “ Giáo dục, theo nghĩa tổng quát là hình
thức học tập trong đó kiến thức, kỹ năng và thói quen của một nhóm người từ thế hệ
này (người truyền đạt) được chuyển giao sang thế hệ kế tiếp (người thụ huấn) thông
qua giảng dạy, đào tạo, hay nghiên cứu. Giáo dục thường diễn ra dưới sự hướng dẫn
của người khác, nhưng cũng có thể thông qua tự học. Bất cứ trải nghiệm nào có ảnh
hưởng đáng kể lên cách mà người ta nghĩ, cảm nhận, hay hành động đều có thể
được xem là có tính giáo dục”.
Theo Bách khoa toàn thư Wikipedia ta thấy rằng giáo dục là mối quan hệ giữa
nhóm người đi trước với nhóm người đi sau trong xã hội, một nhóm thế hệ được
thừa hưởng và đúc kết, trao dồi nên những kinh nghiệm, tri thức của nhân loại để từ
đó truyền thụ lại kiến thức, kỹ năng cho thế hệ tiếp theo, giúp cho thế hệ kế tiếp có
những kiến thức và kỹ năng trong cuộc sống. Điều đó như một nhịp liên tục tiếp
diễn không ngừng nghỉ trong các thế hệ con người. Ví dụ như mối quan hệ giữa cha
mẹ và con cái, giữa thầy và trò… “Bất cứ trải nghiệm nào đều có ảnh hưởng đánh
kể lên cách mà người ta nghĩ, cảm nhận hay hành động đều có thể được xem là có
tính giáo dục” điều này được thể hiện trong ví dụ sau: Một chuyến du lịch lên vùng
núi, chúng ta gặp em nhỏ sống mồ côi, có em không có quần áo mặc, gặp người ăn
xin, gặp người bị mắng chửi, đánh đập… ta tự thấy bản thân mình sinh ra có bố mẹ
4
đã là một đặc ân, biết sống yêu thương, biết chia sẻ và giúp đỡ người có hoàn cảnh
khó khăn và phải hành động giúp họ. Đó cũng là một trải nghiệm có tính giáo dục.
Theo nghĩa rộng: “Giáo dục là sự hình thành nhân cách được tổ chức một cách
có mục đích, có tổ chức thông qua hoạt động và các quan hệ giữa nhà Giáo dục với
người được giáo dục nhằm giúp người được giáo dục chiếm lĩnh những kinh
nghiệm của xã hội loài người.
Ta có thể hiểu theo nghĩa rộng giáo dục là việc các nhà giáo dục có thể là hội
cách thức đó là phương pháp thử nghiệm nhằm mô phỏng hiện tượng tự nhiên dưới
điều kiện kiểm soát được và các ý tưởng thử nghiệm. Tri thức trong khoa học là
toàn bộ lượng thông tin mà các nghiên cứu đã tích được. Định nghĩa về khoa học
được phổ biến rằng Khoa học là tri thức tích cực đã được hệ thống hóa.
Theo Bách khoa toàn thư ta thấy khoa học là những kiến thức được các nhà
khoa học kiểm nghiệm, hệ thống hóa thông qua các căn cứ cơ sở của vũ trụ và các
tính chất của tự nhiên, phải qua các giai đoạn nghiên cứu, phát hiện, phân tích, so
sánh, đối chiếu và thử nghiệm để đúc kết những tri thức tích cực. Có thể nói rằng nó
có tính chính xác tương đối.
Theo từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên: “Khoa học là một hệ thống
tri thức tích lũy trong quá trình lịch sử và được thực tiễn chứng minh, phản ánh
những quy luật khách quan của thế giới bên ngoài cũng như các hoạt động tinh thần
của con người, giúp con người có khả năng cải tạo thế giới hiện thực”. Như vậy,
kiến thức khoa học là những kiến thức chính xác ở mức độ cao, còn nghiên cứu
khoa học được hiểu là hoạt động tìm tòi, khám phá của loài người để phát minh ra
tri thức có thể giải thích được các hiện tượng có trong tự nhiên, trong xã hội, trong
chính con người và cải tạo thế giới. Có các ngành khoa học điển hình như: khoa học
tự nhiên, khoa học xã hội, khoa học công nghệ.
Ở đây Hoàng Phê không đề cập đến vũ trụ, đến các tính chất của tự nhiên, mà
nhấn mạnh hơn vào các tri thức phản ánh quy luật khách quan bên ngoài đã được
tích lũy trong lịch sử và thời gian cho thấy kiến thức ấy luôn đúng với thực tiễn. Nó
có độ chính xác ở mức độ cao.
Ở lứa tuổi mầm non, Khoa học là toàn bộ những hiểu biết về thế giới khách
quan được trẻ tích lũy được thông qua hoạt động tìm tòi, khám phá về thế giới xung
quanh mà trẻ tiếp xúc, để từ đó giải quyết những thắc mắc, trí tò mò của trẻ về hiện
6
tượng, sự việc nào đó xảy ra. Trên cơ sở đó, trẻ sẽ thu được những tri thức khoa
+ Rèn cho trẻ biết diễn đạt rõ rang, mạch lạc với thái độ tự tin, biết lắng nghe,
biết nhận xét, đánh giá và bày tỏ thái độ tôn trọng khi người khác trình bày.
- Kỹ năng sống: tự bảo vệ bản thân, giao tiếp, tự phục vụ, làm việc nhóm…
- Ngoài ra còn có các kĩ năng khác như: kĩ năng nghiên cứu, kĩ năng vận động,
kĩ năng thí nghiệm, tự giải quyết vấn đề…
Về thái độ:
- Khơi gợi ở trẻ hứng thú và sự sẵn sang tham gia vào hoạt động.
- Giáo dục trẻ biết yêu và bảo vệ thiên nhiên, giữ gìn đồ vật.
- Giáo dục trẻ biết yêu thương, tôn trọng và chia sẻ, giúp đỡ mọi người, có ý
chí và tâm hồn đẹp. Sống chan hòa, nhân hậu với con người, cây cỏ và động vật,
gắn bó với môi trường.
1.1.2.2 Nội dung giáo dục khoa học cho trẻ mầm non
Cho trẻ khám phá khoa học gồm hai nội dung trọng tâm:
- Nội dung giáo dục khoa học tự nhiên:
+ Thế giới tự nhiên vô sinh (đất, nước, không khí, ánh sáng, bão, gió, đám
mây). Ở nội dung này giáo viên có thể cho trẻ khám phá khoa học: chìm và nổi, gió
có từ đâu, sự hòa tan của nước, ánh sáng đi như thế nào, mùa hè của bé…
+ Thế giới tự nhiên hữu sinh (Động vật, Thực vật, Con người): sự tích về các
loài hoa, mầm và rễ, sự phát triển của cây…
Với các mối quan hệ và liên hệ có tính quy luật của thế giới tự nhiên vô sinh
và hữu sinh, với những thay đổi liên tục và không ngừng là nguồn cung cấp thông
tin, kiến thức phong phú, là nguyên liệu cho tư duy và mục đích của những khám
phá ở trẻ. Nó là nguồn cảm hứng vô tận kích thích tính sáng tạo và phát triển óc
thẩm mĩ cho trẻ.
- Nội dung giáo dục khoa học xã hội:
Đối với trẻ mầm non nội dung giáo dục xã hội bao gồm những đồ cật, những
sự kiện xã hội cụ thể, các mối quan hệ qua lại giữa người với người. Có thể chia nội
dung giáo dục thành hai nhóm sau:
+ Hình thức tiết học, trên lớp học (hoạt động có chủ đích).
9
+ Hình thức ngoài tiết hoc/ ngoài lớp học: chia theo các dạng hoạt động như
sau:
(1) Hoạt động trong ngày ở trường mầm non (dạo chơi, hoạt động góc, sinh
hoạt hàng ngày)
(2) Hoạt động tham quan
(3) Hoạt động tổ chức ngày lễ hội.
10
1.1.3 Một số vấn đề về phương pháp shichida trong giáo dục trẻ mầm non
1.1.3.1 Khái quát về lịch sử ra đời phương pháp shichida
Tác giả Shichida Makoto là giám đốc công ty Shichida và Chủ tịch kiêm cố
vấn của trường “Shichida Child Academy”, là hội viên Viện hàn lâm Hoa Kỳ
(United State Academy Academician). Nối tiếp sự nghiệp trồng người vĩ đại của
người cha mình, tác giả đã có rất nhiều đóng góp cho sự nghiệp phát triển giáo dục
trẻ thơ từ năm 1958.
Ông đã xuất bản 160 cuốn sách và nhận được nhiều giải thưởng tại Nhật Bản
và Quốc tế như: Giải thưởng Dịch vụ văn hóa-Xã hội (Socio-Cultural Award) tháng
4 Năm 1997, dành cho những cá nhân có những thành tích vượt bậc trong 6 lĩnh
vực khác nhau, bao gồm: nghệ thuật, mỹ thuật, tôn giáo, phúc lợi xã hội, văn hóa và
giáo dục; Giải thưởng Khoa học Quốc tế Grand Prix (International Science Grand
Prix) tháng 7 Năm 1997, Hội đồng Khoa học Thế giới đã đánh giá phương pháp
Shichida về giáo dục não phải là một trong những học thuyết giáo dục tốt nhất;
Huân chương Hiệp sĩ vì sự phục vụ xuất sắc của tổ chức Hòa bình Thế giới (The
não trái phát triển trội hơn thường sống có lý trí, ưa phân tích, yêu thích các môn tự
nhiên, lý luận, học tập và làm việc có phương pháp, tư duy tuyến tính và lập luận
logic, nhưng cũng dễ máy móc và thiếu sự sáng tạo. Những người có não phải phát
triển trội hơn thường rất sáng tạo, sống thiên về tình cảm, thích khác biệt so với
người khác, giải quyết các hoàn cảnh khó khăn, đột xuất dễ dàng, thích tư duy trừu
tượng, yêu thích nghệ thuật (âm nhạc, hội họa, nghệ thuật), nhưng hay giải quyết
công việc bằng trực giác và thiếu logic. Những người phát triển đều hai bán cầu não
sẽ có cuộc sống, cách suy nghĩ lập luận cân bằng và chuẩn mực hơn. Đáng tiếc hiện
nay các môn học, phương pháp dạy và phương pháp học của chúng ta chủ yếu giúp
phát triển não trái.
Shichida cho rằng, việc giáo dục phát triển não phải không chỉ là việc tập
trung vào thành tích học tập của trẻ, mà một trong những kết quả thần kỳ của nó là
tất cả trẻ em được phát triển tâm trí một cách nhẹ nhàng và hài hòa, trẻ sẽ biểu lộ sự
nhạy cảm đa dạng, lòng nhân đạo, trí tưởng tượng và sự sáng tạo. Nó nuôi dưỡng
tình yêu, tạo sự hiệp nhất của các giác quan (thính giác, thị giác, xúc giác,...) và
điều quan trọng là sự hợp tác tuyệt vời giữa bố mẹ và các con. Giáo dục sớm và
giáo dục phát triển não phải sẽ định hình tương lai của thế giới, bởi một trong
12
những mục tiêu của giáo dục là để tạo ra một thế giới tốt đẹp hơn. Đây là kết quả tự
nhiên của giáo dục phát triển não phải, phương pháp học tập dựa trên tình yêu và sự
hợp tác. Ngược lại, “giáo dục phát triển não trái là tạo nên sự đối đầu và cạnh
tranh”-Shichida. Gần đây trong nhà trường Nhật Bản, còn quan tâm dạy và rèn
luyện cho học sinh trước khi nói, trước khi hành động cần suy nghĩ phán đoán đối
tác của mình sẽ suy nghĩ, sẽ phản ứng thế nào? Hay nói khác hơn là phải đặt mình
vào vị trí của người khác trước khi nói và hành động để không làm tổn thương đến
họ. Shichida là người rất quan tâm và là người khởi xướng phương cách giáo dục
sao cho cân bằng giữa não phải và não trái. Phương pháp Shichida về giáo dục não
không thực sự tính đến toàn bộ tương lai của đứa trẻ. Rất nhiều các thầy cô và cha
mẹ đã nuôi dưỡng và dạy dỗ đứa trẻ dựa trên quan điểm “chỉ chú trọng vào khả
năng học tập ở trường” và đứa trẻ được khuyến khích để đạt được kết quả tốt hơn
các bạn nó. Các trường cũng mắc phải bệnh thành tích khi uy tín của trường được
xét đến dựa trên các chỉ tiêu về thành tích thi cử của học sinh trường đó.
Giáo dục thực chất cần vượt qua được mục tiêu trước mắt đó để có thể nuôi
dưỡng tính cá thể của từng trẻ và kích hoạt những khả năng thiên bẩm đang nằm
ngủ yên trong chúng. Giáo dục phải làm sao cho trẻ nào cũng có cơ hội thành công
trong lĩnh vực chúng hiểu rõ và làm tốt. Mỗi trẻ cần được khuyến khích theo đuổi
những thứ chúng thích. Có như vậy, khi lớn lên, chúng có thể đóng góp cho xã hội
trong mảng lĩnh vực đó. Cần phải xây dựng một nền giáo dục cho phép chấp nhận
đứa trẻ như một cá thể đáng trân trọng, chứ không phải là một cá thể mờ nhạt giữa
những cá thể khác. Hay nói cách khác, chúng ta nên xây dựng nền giáo dục có thể
đề cao ý chí của từng cá nhân.
Giáo dục não trái truyền thống chỉ chú trọng vào phát triển trí thông minh
bằng cách truyền thụ tri thức. Cách giáo dục này có những hạn chế và người ta cho
rằng nó chỉ giúp phát triển 3% tiềm năng của con người. Trên thực tế, khả năng
thiên bẩm của con người là không có giới hạn. Nhiệm vụ của giáo dục trong tương
lai là giúp cho loài người sử dụng hết tiềm năng của mình. Nó cũng cần nuôi dưỡng
tính cá thể, tâm hồn, lòng nhân ái, sự nhạy cảm và sáng tạo của trẻ. Cần phải dạy trẻ
cách sử dụng các khả năng của chúng để góp phần làm thay đổi xã hội và tương lai
thế giới.
14
1.1.3.3 Đặc trưng của từng độ tuổi và phương pháp tiếp cận theo phương pháp
Shichida
– Giai đoạn 0 tuổi – Giai đoạn trưởng thành nhanh chóng mỗi ngày, não bộ
cũng phát triển nhanh chóng.
một cách nhẹ nhàng, tránh không được trách mắng nặng lời. Ngoài ra, từ 1 tuổi 8
tháng trẻ có ý thức học tập tự phát, việc duy trì ý thức này sẽ tạo cho trẻ tính tự lập.
Tạo kích thích cho não phải bằng việc học sử dụng tranh, thẻ chấm, thẻ nhớ
(đọc tên chữ số, tên đồ vật được viết vẽ trên thẻ, và xoay vòng với tốc độ nhanh
nhất có thể). Thẻ tranh này cũng có tác dụng nâng cao vốn từ (từ vựng).
– Giai đoạn 2 tuổi – 2 tuổi là thời kỳ thiên tài, thời kỳ cơ hội
Đặc trưng của trẻ 2 tuổi
2 tuổi là thời kỳ thiên tài, và là giai đoạn phát triển nhanh chóng đến 3 tuổi. Từ
sáng sớm khi ngủ dậy cho đến lúc tối muộn khi đi ngủ, ý thức ham muốn học hỏi
mọi việc như là “muốn vận động cơ thể”, “muốn học tập từ ngữ”, “muốn làm giỏi
những việc xung quanh mình” bị mất đi, và thay vào đó là muốn tự mình làm mọi
thứ. Bố mẹ không cần phải nói mà hãy cho trẻ làm những việc đơn giản như thay
quần áo, ăn uống đúng như suy nghĩ của trẻ. Và nếu có thể hãy luôn khen ngợi trẻ,
tạo cho trẻ có sự tự tin và niềm đam mê.
Phương pháp tiếp cận với trẻ 2 tuổi
Đây là thời kỳ tốt nhất để dạy cho trẻ luyện kỹ năng của đầu ngón tay. Hãy
cho trẻ tiếp cận một cách vui vẻ với sợi dây, cái kéo, hay những bộ xếp hình. Việc
luyện tập với đầu ngón tay cũng là là cách tốt để kích thích não bộ. Khoảng thời
gian này có thể tiếp cận với khả năng ghi nhớ. Càng sớm càng tốt hãy trang bị cho
bản thân trẻ khả năng ghi nhớ những việc có ích cho cuộc sống. Bắt đầu cho trẻ
chuyên tâm vào tập viết các nét cơ bản của viết chữ. Hãy bắt đầu từ những nét viết
nguệch ngoạc. Nếu cha mẹ nào có ý định cho trẻ học nhạc thì hãy bắt đầu khi trẻ
được 2-3 tuổi.
– Giai đoạn 3 tuổi – Giai đoạn bước vào độ tuổi tự lập
Đặc trưng của trẻ 3 tuổi
3 tuổi là giai đoạn tính ưu việt của não sẽ chuyển từ não phải sang não trái, vì
thế từ việc chỉ có thể dạy cho trẻ, cho trẻ ghi nhớ như từ trước đến nay vẫn làm thì
hãy nâng cao khả năng suy nghĩ của trẻ. Hãy cho trẻ tự lập dời xa bố mẹ, người mà
16
17
Có thể thấy được tính tò mò của trẻ bộc lộ rõ nét như luôn muốn hỏi “tại sao”.
Những lúc như thế hãy cùng với trẻ thử suy nghĩ câu trả lời, và trong trường hợp
không hiểu thì hãy thử cùng tra cứu bằng hình ảnh, tranh vẽ.
Hãy chọn cho trẻ các món đồ chơi có tính trí tuệ. Khuyến khích những đồ có
thể tạo hình mới, tự mình tháo ra rồi lắp lại hơn là những đồ chơi đã được lắp sẵn
trước mặt. Để tích lũy được nhiều kinh nghiệm, hãy cho trẻ tiếp xúc với những trò
chơi thủ công đơn giản, có tính sáng tạo. Việc khuyến khích trẻ đọc sách là một
phương pháp hiệu quả tạo nền móng cho việc suy nghĩ sáng tạo nên những cái mới.
– Giai đoạn từ 5-6 tuổi – Thời kỳ trẻ thay đổi từ xã hội trẻ con sang xã hội
người lớn
Đặc trưng của trẻ 5-6 tuổi
Trẻ 5-6 tuổi có thể gọi là một thành viên nhỏ bé của xã hội, một con người
hoàn chỉnh đã có ý thức về bản thân mình trước người khác. Trẻ có thể đối đáp, cãi
lại, hoặc nói những điều không thuận tai nhưng ngược lại trẻ sẽ có sự bình tĩnh như
người lớn, và có thể trông cậy được. Nếu biết lắng nghe, đồng điệu với ý muốn của
trẻ và dạy trẻ cách nói hợp lý sẽ có thể nuôi dưỡng sự tự tin của chúng. Ngoài ra, từ
6 tuổi, vì là giai đoạn chuyển dần từ nhà trẻ mẫu giáo lên nhi đồng nên việc thay đổi
xung quanh dễ làm cho trẻ cảm thấy bất an, đây là thời kỳ rất khó xử lý. Lúc này có
thể xuất hiện hiện tượng “thoái lui” như những việc từ trước đến nay đã có thể làm
được nay đột nhiên không thể làm được, vì vậy hãy quan tâm đến trẻ bằng tình yêu
thương nồng ấm.
Phương pháp tiếp cận với trẻ 6 tuổi
Vì chỉ còn một thời gian ngắn nữa trẻ sẽ vào bước vào tiểu học nên hãy luyện
cho trẻ không chỉ việc đọc chữ mà luyện cách viết chữ một cách cẩn thận. Trang bị
đầy đủ cho trẻ năng lực suy nghĩ và kỹ năng học tập cơ bản.
Hãy cho trẻ nghe những câu chuyện về giáo dục tâm hồn. Nuôi dưỡng trẻ tình
yêu thương, cách suy nghĩ không chỉ cho bản thân mình mà cho cả những người