TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
ĐÀO THỊ LÝ
GIÁ TRỊ NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT
TẬP THƠ DẮT MÙA THU VÀO PHỐ
CỦA NGUYỄN HOÀNG SƠN
TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học thiếu nhi
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
TS. NGUYỄN THỊ NHÀN
HÀ NỘI - 2017
LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc
tới TS Nguyễn Thị Nhàn - Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 đã tận tình
hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu, thực hiện đề tài.
Nhân dịp này, em xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo trong khoa
Mầm non - Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 đã quan tâm giúp đỡ em những
kiến thức chuyên môn cần thiết trong quá trình học tập tại trường.
Cuối cùng, em xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình và bạn bè đã luôn
động viên, giúp đỡ cho em hoàn thành tốt khóa luận này.
Em xin chân thành cảm ơn!
Xuân Hòa, ngày tháng 05 năm 2017
Ngƣời thực hiện
Đào Thị Lý
2.2. Thể thơ ..................................................................................................... 28
2.2.1. Thể thơ bốn chữ .................................................................................... 28
2.2.2. Thể thơ năm chữ ................................................................................... 30
2.2.3. Thể thơ lục bát....................................................................................... 32
2.3. Ngôn ngữ thơ............................................................................................ 34
2.3.1. Ngôn ngữ thơ hóm hỉnh ........................................................................ 34
2.3.2. Ngôn ngữ thơ bình dị ............................................................................ 36
2.4. Một số biện pháp tu từ ............................................................................. 38
2.4.1. Biện pháp nhân hóa ............................................................................... 38
2.4.2. Biện pháp so sánh.................................................................................. 41
Tiểu kết chương 2............................................................................................ 45
KẾT LUẬN .................................................................................................... 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Mười năm đầu sau chiến tranh, văn học thiếu nhi đang trong giai
đoạn trăn trở, tìm tòi, kể từ sau đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, đội ngũ
sáng tác ngày càng đông đảo. Bên cạnh những cây bút như: Tô Hoài, Phạm
Hổ,… đã xuất hiện những cây bút trẻ, thậm chí rất trẻ về tuổi đời và tuổi
nghề, tiêu biểu trong số đó là Nguyễn Hoàng Sơn.
Nguyễn Hoàng Sơn viết truyện, làm thơ cho người lớn, viết phê bình,
tranh luận văn học, nhưng thành tựu nổi bật hơn cả vẫn là viết thơ, truyện thơ
cho các em. Cho đến nay, ông đã xuất bản gần chục tập thơ, trong đó phần lớn
là thơ dành cho thiếu nhi. Nhà thơ được giải thưởng về lĩnh vực này trong đó
có giải thưởng của hội nhà văn Việt Nam.
xét, đánh giá về sáng tác thơ của Nguyễn Hoàng Sơn, về tác phẩm Dắt mùa
thu vào phố. Sau đây, khóa luận xin nêu ra những ý kiến tiêu biểu:
- Nhà nghiên cứu Dương Kỳ Anh đã đánh giá: “Nguyễn Hoàng Sơn là
một nhà báo biết tôn trọng sự thật và dám bày tỏ chính kiến của mình trước sự
thật dù sự thật đó có phũ phàng cay đắng… Khi người thơ chân thật với bản
thân mình, dám bày tỏ chính kiến, bày tỏ điều gan ruột thì những câu thơ
những bài thơ như thế mới đến được với người đọc, mới thực sự lay động lòng
người. Không màu mè, không uốn éo, Nguyễn Hoàng Sơn đến với người đọc
một cách chân thực mà sâu lắng” (Văn Nghệ - Báo điện tử Tiền Phong -2015).
- Nhà thơ Trần Đăng Khoa chỉ ra rằng: ...“Nhưng cứ như mắt tôi đọc,
thì “đặc sản” chính của anh vẫn là thơ viết cho thiếu nhi. Và trong mảng thơ
khá đặc biệt này, Nguyễn Hoàng Sơn bộc lộ rõ nhất tài năng của mình trong
truyện thơ, một thể loại văn học mà ở ta hầu như còn rất ít người viết, cũng
một phần vì khó viết, và nếu có viết được thì cũng rất khó hay. Nguyễn
Hoàng Sơn tỏ ra là một cây bút có sở trường trong cái thể loại rất hiểm hóc
này” (Văn học thiếu nhi Việt Nam -2003-NXB Kim Đồng).
2
- Nhà nghiên cứu Huỳnh Diệu nhận định: “Thơ Nguyễn Hoàng Sơn với
những phát hiện mới mẻ và liên tưởng thông minh. Trong mảng thơ cho thiếu
nhi, ông bộc lộ tài năng của mình, đặc biệt qua các truyện thơ, ông găm vào
trí nhớ người đọc với nhiều hình ảnh thơ độc đáo, thi vị” (Trang báo sinh viên
Đại học An Giang - 20/06/2007).
- Nhà thơ Đặng Hấn đã khẳng định: “Đọc truyện thơ của Nguyễn
Hoàng Sơn giống như đến rạp hát để xem diễn Kiều hoặc Quan Âm Thị Kính:
không phải đến để xem diễn biến câu chuyện ra sao, kết cục ai sống ai chết, ai
lấy ai… mà là để thưởng thức cái chất văn, chất đời tư trong từng câu ca, lời
thoại …” (Văn học thiếu nhi Việt Nam-2003-NXB Kim Đồng).
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp nghiên cứu tác phẩm theo thể loại
- Kết hợp các thao tác khoa học khác: Bình giảng, phân tích…
7. Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Tài liệu tham khảo, Nội dung chính
của khóa luận gồm 2 chương sau:
Chương 1: Giá trị nội dung tập thơ Dắt mùa thu vào phố
Chương 2: Giá trị nghệ thuật tập thơ Dắt mùa thu vào phố
4
NỘI DUNG
CHƢƠNG 1. GIÁ TRỊ NỘI DUNG
TẬP THƠ DẮT MÙA THU VÀO PHỐ
1.1. Cảnh vật và thiên nhiên
Thiên nhiên luôn là một thế giới kỳ diệu và có sức hấp dẫn bao đời nay.
Thiên nhiên luôn tỏa ra một sức cuốn hút khiến người ta mê say và muốn khám
phá. Đi vào thế giới thơ của Nguyễn Hoàng Sơn, ta bắt gặp tất cả những cảnh vật
quen thuộc trong cuộc sống hàng ngày của các em. Đó là bức tranh về làng quê,
về các sự vật hiện tượng tự nhiên, cảnh vật bốn mùa, tất cả hiện lên thật phong
phú, đa dạng. Một số bài thơ tiêu biểu trong tập thơ Dắt mùa thu vào phố thuộc
chủ đề này là: Hoa sen, Hoa dạ hương, Tiếng mõ trâu, Lập thu,…
Các bài thơ: Hoa sen, Hoa dạ hương, Hoa lục bình, Bài hát về quả sồi,
Quất, Hoa giấy là những bài thơ viết vừa đẹp vừa gần gũi với cách nói, cách
nghĩ của các em.
Trong bài thơ Hoa sen, sự tinh tế, nhẹ nhàng của hương vị hoa sen
được tác giả thể hiện thông qua những câu thơ sau:
“Đầu tiên là lá nổi
làm “lạ hóa” chúng, khiến cho chúng thật hồn nhiên và lung linh. Đối với một
số người thì mây, bóng của núi, tiếng thác nước, gió, mưa, bờ ruộng đều là
vật vô tri vô giác, nhưng đối với Nguyễn Hoàng Sơn, tất cả đều có hồn, có
tính cách.
Những màu sắc, hình dạng của đám mây được Nguyễn Hoàng Sơn
miêu tả rõ nét trong bài Mây: lúc trắng, lúc xanh, lúc xám,… Chúng thay dạng
đổi hình giống hệt tâm lí của một đứa trẻ nhỏ:
“Lúc mặc áo trắng
Lúc mặc áo xanh
Lúc choàng áo xám
Thay dạng đổi hình
6
…
Là con của nước
Đi học trên trời
Bỗng dưng nhớ mẹ
Liền rơi… rơi… rơi”.
(Mây)
Trong bài Mưa, thông qua việc miêu tả cảnh trời mưa, tác giả đã khéo
léo chỉ ra lợi ích thiết thực mà thiên nhiên ban tặng:
“Này mưa ra cỏ
Này mưa ra cá
Này mưa ra quả”.
Để rồi tình yêu với thiên nhiên đã khiến ông nhìn “mưa” như bạn hữu
với con người:
“Mưa ơi mưa ơi
Bạn của muôn người”.
những đặc trưng quen thuộc của nó, không cần tô vẽ màu mè. Khung cảnh
mùa thu vẫn hiện lên rõ nét và gần gũi, màu lá thay áo vàng, màu nắng vàng
đẹp. Đặc biệt là mùa cốm mới của thôn quê:
“Một chiếc lá chín rực
Đậu nhẹ trước hiên nhà
Nắng vàng như rót mật
Người gánh cốm bước qua”.
(Qua ngõ)
Đọc thơ của ông ta không chỉ thấy đơn thuần những sự vật thân thuộc
hàng ngày mà còn tìm thấy tình yêu, sự thân thiết của nhà thơ giành cho thiên
nhiên, đó là những cảm xúc, muốn níu giữ, tiếc nuối cho một mùa thu đẹp lại
trôi qua quá nhanh. Mùa thu đi qua mà hương vị như còn ở lại. Đó là cái
hương vị cốm thơm, hương quả cây còn vương vấn trong cõi ngẩn ngơ của
đất trời:
“Riêng mùa thu đẹp thế
Lại ngắn ngủi làm sao
8
Đến và đi đều khẽ
Như là trong chiêm bao
Vị cốm đã tan đâu
Hương thị còn quanh quất
Thu đã đi qua khuất
Ngõ ngẩn ngơ tìm ai”.
(Mùa thu ngắn)
Đối lập với sự nhẹ nhàng của mùa thu là một mùa hạ sống động, tươi
mát, một sức sống tràn trề của thiên nhiên ban tặng. Vào hè, Cây mùa hè,
Chuyện mùa hạ là những bài miêu tả về khung cảnh mùa hạ với nhựa sống
Hoa dày cánh trắng vẫn thanh
Gió đông lay khẽ rung rinh như cười”.
Thông qua vẻ đẹp của hoa mận, ông đã khéo léo tái hiện lại một miền
kí ức tuổi thơ đẹp đẽ:
“Nhà tôi tựa dốc núi nghiêng
Ngọn cây ngang cửa mắt nhìn đã quen
...
Mùa Xuân rồi nhỉ hoa ơi
Tôi đi xem hội, tôi chơi đánh cù”.
(Hoa mận)
Đọc bài Cây lúa trèo thang chúng ta sẽ thấy được cái nhìn vừa lãng
mạn, vừa nhân hóa tài tình của nhà thơ. Cây lúa của người miền núi cũng thật
khác miền xuôi:
“Núi chen nhau hóa chật
Cây lúa phải trèo thang
Đồi biến thành cô gái
Mặc váy xanh ngấn chàm”.
Bằng những vần thơ vừa đẹp, vừa gần gũi, Nguyễn Hoàng Sơn không
chỉ vẽ lên một bức tranh thiên nhiên sống động muôn màu sắc mà qua đó còn
10
muốn các em nhận ra rằng, vạn vật đều có linh hồn và sự sống. Vì vậy, các
em hãy xem chúng như những người quen, những người bạn, hãy biết nâng
niu và chăm sóc chúng như chính bản thân mình.
1.2. Thế giới con ngƣời
1.2.1. Những con ngƣời lao động và sáng tạo
Bên cạnh thiên nhiên thì con người cũng được Nguyễn Hoàng Sơn
miêu tả một cách chân thực, sinh động. Đó là những người nông dân với đời
(Phép lạ)
Ngoài những người dân vùng biển làm nghề muối, trong thơ ông còn
nói tới những người lính (Ông em, Kon Tum), cô y tá (Y tá), người nghệ sĩ
(Nhà thơ đi dạo). Những con người ấy dù làm những ngành nghề khác nhau
nhưng luôn năng động, yêu đời, yêu nghề. Họ sống và cống hiến hết mình.
Trong bài Ông em, tác giả viết về một người lính đã giải ngũ. Dù đã là
một người lính về nghỉ hưu nhưng ông luôn dậy sớm nhất nhà và hăng say lao
động. Kể cả những ngày rét buốt, ông vẫn miệt mài trồng cây, chăm chỉ làm
việc như lúc còn trai trẻ:
“Ông em là bộ đội
Chân đã đi trăm miền
Nay tuổi già về nghỉ
Ngày ngày gần bên em
Ông dậy sớm nhất nhà
Cả những ngày rét buốt
Dù chỉ có tiếng gà
Thay tiếng còi trực nhật
Ông vẫn chăm thể dục
Như lúc còn đương trai
Về nghỉ mà không nghỉ
Ông miệt mài trồng cây”.
12
Cô y tá ở bài Cô y tá cũng thế! Cô làm việc vất vả trong những năm
tháng ở Trường Sơn, cũng đào hầm, ngủ võng, chữa bệnh dưới bom đạn. Tất
cả những khó khăn ấy vẫn không làm cô thôi yêu nghề. Để rồi, khi đất nước
hòa bình, cô vẫn tiếp tục công việc chăm sóc cho mọi người:
“Hòa bình mười năm hơn
nhủ với con trẻ rằng, lời chào không nặng nên chớ có quên, hãy mang theo:
“Ai cũng có
Chẳng nặng là bao
Bạn ơi đi đâu
Nhớ mang đi nhé’’.
Ngoài việc nhấn mạnh sự cần thiết của lời chào hỏi trong giao tiếp, thì
đức tính hòa thuận, đoàn kết cũng được ông đề cập đến thông qua bài thơ có ý
vị ngụ ngôn hóm hỉnh (Mỡ và hành cãi nhau). Đây là bài thơ không viết về
con người nhưng nó hàm nghĩa giáo dục cao. Mượn cách nói ngụ ngôn, mượn
thế giới hoa, trái, cỏ cây, tác giả khéo léo nhắc nhở tính thân ái, đoàn kết:
“Mỡ và Hành cãi nhau:
Mùi thơm là của tao!
Không của tao!
Củi cháy nổ lép bép
Chúng chẳng nghe thấy gì
Lát sau hành đen sì
Mỡ bay mùi khét lét”
(Mỡ và hành cãi nhau)
Độc giả có thể thấy một cuộc cãi vã giữa Mỡ và Hành tại đây. Ai cũng
cho rằng, mùi thơm là của riêng mình, không bên nào nhường nhịn để rồi tất
cả cùng bị cháy khét lẹt, cuộc cãi vã chỉ kết thúc khi mùi thơm tan biến. Từ
đó cho ta thấy việc sống đoàn kết đùm bọc lẫn nhau, biết giúp đỡ chia sẻ
trong cuộc sống hằng ngày là rất cần thiết.
14
Ngay cả những loại trái cây tưởng chừng vô tri vô giác như Mít, Bí,
Nhót cũng trở thành những người bạn chia sẻ cho nhau bài học để giúp nhau
cùng tiến bộ thông qua cách ví von của nghệ sĩ:
không biết tả làm sao cho hay cho đẹp. Nếu tả thực thì ngôi trường xấu xí sẽ
không được điểm cao:
“Viết bài tập làm văn
Kể chuyện trường ta nhé
Này cửa gương nhà tầng
Tả sao cho văn vẻ
Đề ra nghe thật dễ
Sao tôi bí thế này?
Viết, viết rồi lại xé
Biết nói điều gì đây?”
Chính vì điều đó, Nguyễn Hoàng Sơn muốn truyền tải cho người đọc
rằng, hãy dạy trẻ em nói những điều chân thật. Nó cũng như khi ta dạy các em
làm bài văn miêu tả ngôi trường của mình.
1.2.2. Cuộc sống sinh hoạt của trẻ em
Trong mảng viết về cuộc sống của trẻ em nông thôn, Nguyễn Hoàng
Sơn cho thấy cách tiếp cận đời sống sinh hoạt đa dạng, thể hiện được nhiều
sắc thái của cuộc sống, áp sát đời sống thiết thực của trẻ thơ nông thôn. Ngôn
ngữ thơ được chọn lọc từ chính cách nói cách nghĩ của các em, không cầu kì
mà rất chân thật. Cảnh sinh hoạt của các em được miêu tả và cảm nhận trong
dáng vẻ của những phong tục, những thói quen của người Việt Nam. Đó là
những hoàn cảnh khó khăn, thiếu thốn mà trẻ em nông thôn vẫn thường đối
mặt hàng ngày. Hơn thế, cái khó khăn vất vả ấy dường như đã trở thành câu
chuyện của nhiều năm:
“Trung thu năm nay
Như bao năm khác
16
Dù đồng quê ta
luôn đi tìm bóng mẹ, bóng em, tìm mái nhà thân thuộc, muốn trở về với gia
đình nhưng không được. Còn Thảo, sau nhiều đêm thương nhớ chị đã rủ bạn
đan đèn, thúc trống, thổi kèn,… để gửi cho chị.
Bên trong mái nhà nhỏ bé, đơn sơ lại là chốn nuôi dưỡng một thứ tình
cảm thân thiết của hai chị em khiến người đọc rung động. Lớn lên trong cảnh
nghèo đói nhưng tâm hồn của hai đứa trẻ lại luôn giàu tình yêu thương, sự
hồn nhiên, ngây thơ và trong sáng:
“Vào một buổi sớm mai
Thức dậy theo chim hót
Cha lên nương tỉa hạt
Mẹ vào rừng tìm rau
Hiền và Thảo rủ nhau
Thẩn thơ đi nhặt củi
Bước lần theo bờ suối
Ngắm cá đùa tung tăng”
(Sự tích rước đèn trung thu).
Những câu thơ giản dị như lời bọn trẻ thường ngày. Cách nghĩ của các
em ngây thơ nhưng không kém phần sâu sắc. Thảo đã bỏ qua những cám dỗ
hấp dẫn, quyết định ở lại bên mái ấm dẫu nghèo khó mà vui. Khi hai chị em
bị chia cắt ở hai thế giới khác nhau, lòng Thảo luôn hướng đến chị:
“Ấy là bé Thảo ngoan
Sau nhiều đêm thương chị
Rủ bạn ngả tre đan
Đủ kiểu đèn kì dị”
Tuy được lên cung trăng có cuộc sống sung sướng nhưng người chị vẫn
luôn hướng về trần gian, luôn tìm hình bóng mẹ, bóng em gái nhỏ, tìm về mái
ấm thân thuộc. Hiền luôn khóc thương khi nhớ về những người ruột thịt:
18
19
“Đêm ba mươi năm nay
Làng em bừng ánh điện
Bóng tối thôi phủ dày
Tỏ lối giao thừa đến
Bàn thờ không đốt nến
Mắc đôi bóng nhỏ xinh
Đài chẳng lo hết pin
Suốt đêm i ơi hát!”
Đơn giản là, ngay cả khi chơi thả diều, lũ trẻ cũng nhăn nhó, buồn rầu
khi không có gió. Chợt gió về, chúng hò reo trong sung sướng, đến cả trong
giấc ngủ cũng nằm mơ có gió nhiều để diều được bay cao:
“Trẻ làng quen ngủ sớm
Đêm nay giấc chập chờn
Lắng trong khuya dứt nối
Sáo diều nào thanh hơn”
(Đợi gió)
Với những đứa trẻ ở làng quê, một cuộc đi chơi đây đó cũng là niềm vui
lớn, là ước nguyện. Những khát khao đó được gửi gắm vào nhân vật “quả thị”:
“Cây thị bên cầu ao
Suốt đời không đổi chỗ
Quả thị trên cành cao
Muốn đi đây đi đó”
(Quả thị đi chơi)
Quả thị muốn vui chơi nhưng lại gặp phải bao nhiêu là cản trở, khó
khăn. Nó đành ấp ủ giấc mơ. Và rồi, khi điều mong muốn đó thành hiện thực,
quả thị bước ra thế giới bên ngoài với nụ cười hớn hở. Quả thị ở đây như
những đứa trẻ bị sống giới hạn trong lũy trẻ làng. Chúng mong ước được