Bộ Giáo dục và Đào tạo
Dự án Phát triển Giáo viên Tiểu học
ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP
DẠY HỌC Ở TIỂU HỌC
(TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN)
(Tái bản lần thứ nhất)
NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC
Trang
Lời nói đầu ...................................................................................................................................... 5
Tổng quan về tài liệu.................................................................................................................. 6
Phần I
Những vấn đề chung của phương pháp dạy học
phát huy tính tích cực của học sinh ................................................................................ 7
Phần II
Vận dụng phương pháp phát huy tính tích cực của học sinh
vào việc dạy học các môn học ở Tiểu học................................................................. 35
Đổi mới phương pháp dạy học môn Tiếng Việt ở Tiểu học ................................ 36
Đổi mới phương pháp dạy học môn Toán ở Tiểu học ............................................ 78
Đổi mới phương pháp dạy học môn Đạo đức ở Tiểu học .................................. 130
Đổi mới phương pháp dạy học môn Tự nhiên và Xã hội ở Tiểu học ........... 146
Đổi mới phương pháp dạy học môn Khoa học ở Tiểu học................................ 156
Đổi mới phương pháp dạy học môn Lịch sử ở Tiểu học .................................... 162
Đổi mới phương pháp dạy học môn Địa lí ở Tiểu học ........................................ 172
Đổi mới phương pháp dạy học môn Âm nhạc ở Tiểu học ................................. 185
Đổi mới phương pháp dạy học môn Mĩ thuật ở Tiểu học .................................. 194
Đổi mới phương pháp dạy học môn Thủ công – Kĩ thuật ở Tiểu học.......... 203
Đổi mới phương pháp dạy học môn Thể dục ở Tiểu học ................................... 227
TỔNG QUAN VỀ TÀI LIỆU
I - Mục tiêu của tài liệu
Sau khi được bồi dưỡng theo tài liệu này, người học sẽ :
a) Hình thành và phát triển những tri thức về phương pháp dạy học (PPDH) phát huy
tính tích cực của học sinh (HS) tiểu học trong từng môn học.
b) Vận dụng được những kĩ năng dạy học tích cực vào dạy học các môn học ở trường
tiểu học.
c) Tích cực và biết tổ chức tốt các hoạt động dạy học theo phương pháp phát huy tính
tích cực nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở trường tiểu học trong từng môn học.
II - Thời lượng học
150 tiết.
III - Nội dung của tài liệu
1) Những vấn đề chung của PPDH phát huy tính tích cực của HS
Thời gian thực hiện : 15 tiết
2) Vận dụng phương pháp phát huy tính tích cực của HS vào việc dạy học
các môn học ở Tiểu học
a) Môn Toán : 30 tiết
b) Môn Tiếng Việt : 30 tiết
c) Môn Nghệ thuật, TN&XH, Lịch sử - Địa lí, Khoa học, Đạo đức, Thể dục : 75 tiết.
Thời lượng cho mỗi môn sẽ được quy định như sau :
- Các môn Nghệ thuật (Âm nhạc, Mĩ thuật, Thủ công – Kĩ thuật) : mỗi phân môn 10
tiết.
- Các môn TN&XH, Đạo đức, Thể dục : mỗi môn 10 tiết.
- Các môn Khoa học, Lịch sử, Địa lí : mỗi môn 5 tiết ;
3) Nội dung băng hình : 16 đoạn băng hình bao gồm :
- Đánh giá được PPDH như thế nào được coi là PPDH phát huy tính tích cực (thông qua tài
liệu, thông qua thực hành dạy mẫu của học viên và thông qua chính giờ dạy của giảng
viên).
- Biết cách vận dụng PPDH phát huy tính tích cực vào dạy các môn học ở Tiểu học.
2. Kĩ năng
- Vận dụng được cơ sở lí luận vào thiết kế bài học theo PPDH phát huy tính tích cực.
- Lựa chọn được PPDH phát huy tính tích cực, tài liệu học tập cũng như phương tiện dạy
học phù hợp với nội dung bài dạy.
- Triển khai thực hành một số PPDH phát huy tính tích cực trong quá trình dạy học của bản
thân.
- Có kĩ năng lập kế hoạch bài học và đánh giá giờ dạy của đồng nghiệp.
3. Thái độ
- Tự tin trong việc thực hiện PPDH phát huy tính tích cực.
- Quyết tâm đổi mới cách thực hiện PPDH.
B - NỘI DUNG
Nội dung 1: Cơ sở thực tiễn và lí luận của đổi mới PPDH
Hoạt động 1: Tìm hiểu cơ sở thực tiễn của đổi mới cách thực hiện PPDH.
Thực hiện các công việc
1) Đọc thông tin cơ bản 1.1. để trả lời câu hỏi : “Đổi mới cách thực hiện PPDH được hiểu
như thế nào ?”
2) Học viên thảo luận tự đưa ra nguyên nhân thực tiễn của việc cần đổi mới cách thực hiện
PPDH.
3) Đọc thông tin định hướng cơ bản của phần này.
4) Trả lời được vì sao đổi mới cách thực hiện PPDH sẽ đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn.
hoá của quá trình này.
Đổi mới cách thực hiện PPDH là đổi mới cái gì ? Cái gì cần làm mới lại ? Cái cũ là cái gì ?
Giá trị của cái cũ còn đến đâu hay không còn giá trị ? Mới là cái gì và giá trị của nó ở chỗ
nào ? Chúng ta đều biết không phải cái gì cũ cũng tồi và cái gì mới cũng hoàn hảo. Hiệu quả
hay không của PPDH là do người tiến hành nó như thế nào. Xét bản thân phương pháp thì
không có phương pháp nào là phương pháp tồi, không có phương pháp nào là phương pháp
tích cực hay thụ động, mà phương pháp ấy trở nên tồi, thụ động khi người ta không khai
thác hết tiềm năng của nó hoặc sử dụng nó không đúng lúc, đúng chỗ, đúng đối tượng.
Cần nhấn mạnh rằng, không có một phương pháp nào tồn tại lại không có ý nghĩa nào đó.
Đổi mới PPDH thực chất không phải là sự thay thế các PPDH cũ bằng một loạt các PPDH
mới. Về mặt bản chất, đổi mới PPDH là đổi mới cách tiến hành các phương pháp, đổi mới
các phương tiện và hình thức triển khai phương pháp trên cơ sở khai thác triệt để ưu
điểm của các phương pháp cũ và vận dụng linh hoạt một số phương pháp mới nhằm phát
huy tối đa tính tích cực, chủ động và sáng tạo của người học. Như vậy, mục đích cuối
cùng của đổi mới PPDH là làm thế nào để HS phải thực sự tích cực, chủ động, tự giác, luôn
trăn trở tìm tòi, suy nghĩ và sáng tạo trong quá trình lĩnh hội tri thức và lĩnh hội cả cách thức
để có được tri thức ấy nhằm phát triển và hoàn thiện nhân cách của mình. Trong những phần
tiếp theo của tài liệu này, thuật ngữ “đổi mới PPDH” được hiểu là “đổi mới cách thực hiện
PPDH” ; “PPDH tích cực” được hiểu là “PPDH theo hướng tích cực hoá người học” hoặc
“PPDH phát huy tính tích cực của người học”.
Những PPDH thường được sử dụng trước đây mà người ta vẫn gọi là PPDH truyền thống,
thí dụ phương pháp thuyết trình, phương pháp hỏi - đáp, vẫn đang được thực hiện trong tất
cả các giờ dạy của GV hiện nay. Nhưng nếu các phương pháp này vẫn được tiến hành theo
cái cách mà ở những thập niên trước sử dụng thì chắc chắn nó trở nên kém hiệu quả. Vì vậy,
phương pháp thuyết trình cần phải được “đổi mới”. Hiện nay, phương tiện công nghệ thông
tin phát triển đã không biến người học thành những “cỗ máy ghi chép” và người dạy là “máy
đọc”. Máy photocopy, máy chiếu hắt, đèn chiếu,... sẽ làm giảm thời gian dành cho sự ghi
chép của GV lên bảng với ghi chép của HS vào vở. Trên lớp, GV nên tập trung vào việc tổ
chức quá trình lĩnh hội kiến thức. Phương pháp thuyết trình sẽ trở nên tích cực khi GV
thuyết trình trong một lượng thời gian phù hợp và biết kết hợp một cách nhuần nhuyễn, hợp
không đáp ứng yêu cầu đào tạo thế hệ trẻ năng động sáng tạo của tương lai nếu không có sự
đổi mới về cách thức tiến hành phương pháp.
b) Sự đổi mới của chương trình tiểu học
Với yêu cầu mới đặt ra cho giáo dục những nhiệm vụ mới : xem xét lại mục tiêu, nội dung
chương trình giáo dục ở mọi bậc học. Bậc Tiểu học là bậc học nền tảng nên sự đổi mới lại
càng cần thiết và quan trọng. Chính vì vậy đã từ nhiều năm nay, giáo dục tiểu học đã có
những thay đổi mạnh mẽ.
• Về mục tiêu
Chương trình dạy học tiểu học truyền thống chủ yếu gồm các đích cần đạt và danh mục các
nội dung dạy học. Điều này đã làm khó khăn cho người sử dụng chương trình, nên trong đổi
mới chương trình Tiểu học, mục tiêu đã được cụ thể hoá bằng kế hoạch hành động sư phạm
bao gồm :
- Những đích cuối cùng (thể hiện ở cấp bậc mục tiêu : bậc học, môn học, chủ đề, bài học...).
- Những nội dung kiến thức và phẩm chất năng lực cần đạt ở HS.
- Các phương pháp và phương tiện dạy học, các hoạt động dạy học cụ thể.
- Các cách thức đánh giá kết quả học tập của HS.
• Về nội dung
Nội dung chương trình Tiểu học được soạn thảo hiện đại, tinh giản, thiết thực và cập nhật sự
phát triển của khoa học – công nghệ, kinh tế – xã hội, tăng cường thực hành vận dụng, gắn
bó với thực tiễn Việt Nam tiến kịp trình độ phát triển chung của chương trình giáo dục phổ
thông của các nước trong khu vực và quốc tế. Hơn nữa nội dung chương trình và sách giáo
khoa có tính thống nhất cao, phù hợp với trình độ phát triển chung của số đông HS, tạo cơ
hội và điều kiện học tập cho mọi HS, phát triển năng lực của từng đối tượng HS, góp phần
phát hiện và bồi dưỡng những HS có năng lực đặc biệt. Cụ thể là :
- Tập trung vào các kĩ năng cơ bản : nghe, đọc, nói, viết và tính toán. Xác định Tiếng Việt và
Toán là các môn học chủ chốt, chuẩn bị công cụ (kĩ năng và phương pháp tư duy) để học
tập các môn học khác và để phát triển năng lực cá nhân.
- Coi trọng đúng mức các kĩ năng sống trong cộng đồng, thích ứng với những đổi mới diễn
động, tự sinh thành và phát triển thông qua việc giải quyết mâu thuẫn nội tại do sự tương tác
hợp quy luật của các thành tố tạo ra. Qua đó phát hiện ra yếu tố sinh thành, yếu tố bản chất,
tất yếu và logic phát triển của đối tượng trở thành hệ toàn vẹn, tích hợp mang chất lượng
mới.
Ví dụ : Quá trình giáo dục mang tính toàn vẹn về mặt tổ chức - sư phạm và nó quan hệ mật
thiết với môi trường xã hội. Quá trình dạy học được coi là một hệ thống, nó bao gồm nhiều
thành tố và các thành tố này có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, ảnh hưởng qua lại tới nhau,
quyết định chất lượng của nhau... Mối quan hệ giữa thầy, trò, phương tiện và điều kiện dạy
học, mục đích, nội dung và PPDH với quá trình kiểm tra đánh giá trong quá trình dạy học có
những quan hệ phụ thuộc nhau. Toàn bộ quá trình dạy học này chịu ảnh hưởng của môi
trường kinh tế - xã hội.
Ta có thể minh họa mối quan hệ phụ thuộc của các thành tố của quá trình dạy học và mối
quan hệ của quá trình dạy học với môi trường kinh tế - xã hội bằng sơ đồ sau :
2) Quá trình dạy học theo tiếp cận nhân cách
Thầy và trò cùng là chủ thể của các mối quan hệ trong quá trình dạy học. Quá trình dạy học
muốn kiến tạo và phát triển nhân cách phải thông qua sự thống nhất 3 mặt :
- Tính riêng biệt, độc đáo của cá nhân : Dạy học tạo ra được môi trường thuận lợi nhất cho
mỗi cá nhân phát huy được tiềm năng để trở thành chính mình.
- Hoà đồng các mối quan hệ liên nhân cách : Dạy học phải tạo ra được năng lực cho người
học để họ có thể tham gia vào các hoạt động và các mối quan hệ xã hội.
- ảnh hưởng của nhân cách tới xã hội, cộng đồng : Dạy học tạo ra được năng lực để mỗi cá
nhân có thể đóng góp, cống hiến và sáng tạo cho xã hội, cộng đồng.
Đổi mới PPDH theo cách tiếp cận nhân cách tức là phát triển được 3 mặt nêu trên của
nhân cách.
3) Quá trình dạy học theo tiếp cận hoạt động
chuẩn, tiêu chí đánh giá, phương pháp đánh giá và phương tiện đánh giá. Quy trình đánh
giá phải bám sát quy trình dạy học, có những đánh giá mang tính kiểm tra để uốn nắn,
điều chỉnh, giúp đỡ cách học, có những đánh giá mang tính tổng kết về mức độ đạt yêu
cầu để xác nhận trình độ, chứng chỉ, cấp văn bằng. Việc đánh giá phải đảm bảo độ tin
cậy, độ giá trị và tính khách quan về mặt kĩ thuật và về mặt xã hội.
Có thể xây dựng quy trình tự đánh giá.
5) Thuyết dạy học cộng tác (collaborative theory)
Thuyết này tích hợp hai cách tiếp cận : hướng vào người học (learner centred approach) và
hướng vào GV (teacher centred approach), đưa ra quan điểm về sự thống nhất biện chứng
giữa dạy và học.
Theo thuyết này, dạy có chức năng thiết kế, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra quá trình học ;
góp phần thi công nhưng không làm thay người học. Học là tự điều khiển quá trình chiếm
lĩnh tri thức của bản thân tức là tự thiết kế, tự tổ chức, tự thi công và tự kiểm tra việc học của
chính mình dưới sự điều khiển của thầy. Hai hoạt động dạy và học thống nhất với nhau nhờ
sự cộng tác.
Sự cộng tác giữa dạy và học chính là yếu tố cơ bản duy trì và phát triển sự thống nhất toàn
vẹn của quá trình dạy học và là yếu tố dẫn tới chất lượng cao của học tốt, dạy tốt.
1.4. Một số đặc điểm tâm lí của HS tiểu học
1) Những thay đổi của trẻ bắt đầu đi học
Đặc điểm của chế độ học tập : phải thức dậy đúng giờ, không được bỏ học, phải ngồi yên
lặng, phải thực hiện đúng hạn bài tập ở nhà... Tính chất quan hệ qua lại giữa GV với trẻ,
giữa trẻ với trẻ, giữa trẻ với gia đình cũng thay đổi, điều này gây cho trẻ những khó khăn
trong việc thích ứng với môi trường mới trong giai đoạn đầu của giáo dục phổ thông.
Đại đa số trẻ em được chuẩn bị sẵn sàng về mặt tâm lí để đến trường phổ thông. Chúng
muốn đến trường để xem nhà trường có gì khác so với ở nhà. Do trẻ chỉ hứng thú với đặc
điểm bên ngoài của quá trình học tập nên hứng thú đó dễ mất đi. Cho nên cần làm cho trẻ
hứng thú với chính quá trình học tập, với sự hấp dẫn của nội dung tri thức.
Sự thay đổi hoạt động chủ đạo diễn ra khi trẻ bắt đầu đi học. Hoạt động chủ đạo của lứa tuổi
3) Đặc điểm nhân cách của HS tiểu học
a) Tính cách HS tiểu học
Nét tính cách của HS tiểu học mới hình thành nên chưa ổn định. Hành vi của trẻ mang tính
xung động cao (bột phát), và ý chí còn thấp. Tính cách điển hình của trẻ là hồn nhiên và cả
tin, trẻ thích bắt chước hành vi của người xung quanh hay trên phim ảnh. HS tiểu học ở Việt
Nam sớm có thái độ và thói quen tốt đối với lao động.
b) Nhu cầu nhận thức
Nhu cầu nhận thức của HS tiểu học đã phát triển khá rõ nét : từ nhu cầu tìm hiểu những sự
vật hiện tượng riêng lẻ (lớp 1 và lớp 2) đến nhu cầu phát hiện những nguyên nhân, quy luật
và các mối liên hệ, quan hệ (lớp 3, lớp 4 và lớp 5). Nhu cầu đọc sách phát triển cùng với
việc phát triển kĩ xảo đọc. Cần phải hình thành nhu cầu nhận thức cho trẻ ngay từ sớm.
c) Đặc điểm đời sống tình cảm
Đối tượng gây xúc cảm cho HS tiểu học thường là sự vật hiện tượng cụ thể nên xúc cảm,
tình cảm của các em gắn liền với đặc điểm trực quan, hình ảnh cụ thể. HS tiểu học rất dễ xúc
cảm, xúc động và khó kìm hãm xúc cảm của mình. Tình cảm của HS tiểu học còn mỏng
manh, chưa bền vững, chưa sâu sắc. Sự chuyển hoá cảm xúc nhanh.
Việc hiểu đặc điểm tâm lí HS giữ vai trò quan trọng trong quá trình dạy học. Nếu chúng ta
tác động vào đối tượng mà không hiểu tâm lí của chúng thì cũng như ta đập búa trên một
thanh sắt nguội. Chính vì vậy, trong quá trình dạy học GV cần phải dựa vào những đặc điểm
tâm lí đối tượng để lựa chọn và xây dựng những phương pháp, phương tiện và hình thức dạy
học phù hợp, có như thế đổi mới PPDH mới mang lại hiệu quả như mong muốn.
Nội dung 2 : Những định hướng chính trong đổi mới
cách thực hiện phương pháp dạy học
Hoạt động 1 : Tìm hiểu về PPDH.
Thực hiện các công việc
1) Học viên thảo luận theo nhóm chuyên môn về những PPDH của mình, kể tên hoặc mô tả
những PPDH mà mình đã thực hiện.
với một loạt nhu cầu bẩm sinh khác nhau, thí dụ nhu cầu ăn, uống... và sau đó xuất hiện nhu
cầu xã hội... Những nhu cầu này không bao giờ cạn và luôn trở thành động cơ thúc đẩy con
người hoạt động. Khi nhu cầu nhận thức xuất hiện thì nó sẽ thúc đẩy hoạt động học tập.
Lí luận dạy học cũng chỉ ra rằng, muốn xây dựng động lực của quá trình dạy học có hai điều
quan trọng cần phải lưu ý :
- Phải biến yêu cầu của chương trình dạy học thành nhu cầu nhận thức của người học bằng
cách tạo dựng các tình huống nhận thức, đưa HS tới đỉnh điểm của những mâu thuẫn chứa
đựng những khó khăn vừa sức đối với HS.
- Phải giáo dục tính tích cực, tự giác học tập và tạo điều kiện cho những cố gắng vươn tới
của HS bằng khả năng của mình.
Trong quá trình lĩnh hội kiến thức, kĩ năng kĩ xảo ở HS, tính tích cực được thể hiện từ cấp
độ thấp nhất đến cấp độ cao nhất như sau :
Bắt chước : tính tích cực thể hiện ở sự cố gắng làm theo mẫu hành động, thao tác, cử chỉ
hành vi hay nhắc lại những gì trải qua...
Tìm hiểu và khám phá : tính tích cực thể hiện ở sự chủ động hoặc ý muốn hiểu thấu đáo vấn
đề nào đó để sau đó có thể tự giải quyết vấn đề...
Sáng tạo : tính tích cực thể hiện ở khả năng linh hoạt và hiệu quả trong giải quyết vấn đề...
Trong quá trình dạy học, GV là chủ thể tổ chức, điều khiển và HS là chủ thể hoạt động học
tích cực chủ động và sáng tạo. GV phải cải tiến không ngừng PPDH và giúp HS cải tiến
phương pháp học.
Những tri thức đã học sẽ tạo ra một trình độ ở người học, GV phải dựa vào trình độ này để
hướng dẫn HS nâng cao lên một trình độ mới.
2.2. Đổi mới PPDH theo hướng kết hợp một cách nhuần nhuyễn và sáng tạo
các PPDH khác nhau (truyền thống và hiện đại) sao cho vừa đạt được mục
tiêu dạy học vừa phù hợp với đối tượng và điều kiện thực tiễn của cơ sở.
Không có một PPDH nào là tồi, mỗi phương pháp đều có những giá trị riêng của nó. Tính
hiệu quả hay không hiệu quả của phương pháp phụ thuộc vào người sử dụng biết phát triển
Tuy nhiên, GV phải biết khai thác lợi thế của tập thể để phát triển từng cá nhân. Phải quan
tâm đến hứng thú, xu hướng, khả năng của từng người trong môi trường tập thể cũng như
trong tự học. Suy cho cùng kết quả học tập là thành quả cụ thể, trực tiếp của từng cá nhân
nên cần phải chú ý đến dạy cá nhân.
2.5. Đổi mới PPDH theo hướng tăng cường kĩ năng thực hành
Mục đích cuối của quá trình dạy học là tạo ra năng lực thực tiễn cho người học. Đổi mới
theo hướng này có nghĩa là :
- HS được thao tác hành động thực tế.
- HS học qua tình huống thực tiễn cuộc sống.
- HS giải thích được thực tiễn bằng lí thuyết đã học.
- HS được thực hành trao đổi, phối hợp, hợp tác trong nhóm.
- HS được rèn luyện kĩ năng diễn đạt trong nói và viết.
- HS được rèn kĩ năng cùng chung sống.
- HS được đi vào cuộc sống thực để có kinh nghiệm thực tế...
2.6. Đổi mới PPDH theo hướng sử dụng phương tiện kĩ thuật hiện đại vào dạy
học
Các phương tiện chủ yếu là phương tiện nhìn, nghe, nghe nhìn, các chương trình phần mềm
hỗ trợ,...
Sử dụng phương tiện kĩ thuật để chuyển tải nội dung kiến thức thực sự sẽ mang lại hiệu quả
cao nếu người dạy không lạm dụng nó, phải sử dụng nó theo đúng quy tắc sư phạm trong sử
dụng phương tiện dạy học.
Sử dụng phương tiện đa dạng trong dạy học giúp cho PPDH trở nên sinh động hơn và tạo ra
được hứng thú và tính tích cực ở người học.
2.7. Đổi mới PPDH theo hướng đổi mới cả phương pháp kiểm tra và đánh giá
kết quả học tập của HS
cảnh mà các hành vi đó được áp dụng.
Các mục tiêu phức hợp phải xác định theo kiểu phân tích và cụ thể.
Các mục tiêu xây dựng phải phân biệt rõ ràng năng lực HS và năng lực ấy cho phép đạt
được các hành vi khác nhau.
Mục tiêu có tính phát triển, thể hiện các con đường đi tới mục tiêu chứ không phải là các
điểm cuối cùng.
Mục tiêu phải thực tế và bao gồm những gì được hiện thực hoá thành kinh nghiệm ngay
trong lớp học.
Phạm vi mục tiêu phải đủ rộng để chứa các kiểu kết quả đầu ra mà nhà trường chịu trách
nhiệm.
Gợi ý một số thuật ngữ được sử dụng khi xây dựng mục tiêu :
Đối với mục tiêu về kiến thức, có thể sử dụng các thuật ngữ :
Kể tên
Lập kế hoạch
Nêu lên
Phân loại
Dự đoán
Mô hình hoá
Đề xuất
Phát biểu
Viết lại
Thẩm định
Vẽ lại
Cụ thể hoá
Bổ sung
Xác định
So sánh
Phân tích
hoạch.
Nhìn vào kế hoạch bài dạy, ta có thể thấy trọng số của mỗi đơn vị kiến thức, cách làm việc
của thầy và trò, mục tiêu có khả năng đạt được hay không...
Nội dung 3 :Đặc điểm của PPDH và những đặc trưng của PPDH
phát huy tính tích cực của học sinh ở tiểu học
Hoạt động 1 : Tìm hiểu những vấn đề chung về PPDH.
Thực hiện các công việc
1) Nghiên cứu tài liệu để nhìn nhận lại cốt lõi của PPDH và những đặc điểm của PPDH để biết phân
tích và đánh giá những PPDH đã, đang và sẽ sử dụng trong dạy học.
2) Phát biểu và giải thích những đặc điểm của PPDH.
3) Lấy thí dụ trong thực tiễn giảng dạy để minh hoạ cho các đặc điểm ấy.
Hoạt động 2 : Tìm hiểu những đặc trưng của PPDH theo hướng tích cực
hoá người học.
Thực hiện các công việc
1) Trao đổi để thu thập ý kiến của đồng nghiệp về những dấu hiệu của PPDH tích cực.
2) Nghiên cứu và phân tích tài liệu về nội dung này.
3) Liên hệ với phần cơ sở lí luận cho những đặc trưng của PPDH theo hướng tích cực hoá
vừa đưa ra.
Hoạt động 3 : Thảo luận về những điều kiện và giải pháp để thực hiện đổi
mới cách thực hiện PPDH thành công.
Thực hiện các công việc
1) Đọc thông tin cơ bản, thảo luận và bổ sung những điều kiện cần cho đổi mới cách thực
hiện PPDH.
2) Cá nhân suy nghĩ đưa ra giải pháp thực thi của bản thân để góp phần đổi mới cách thực
việc sử dụng PPDH là yếu tố quyết định hiệu quả dạy học.
b) Tính mục đích của PPDH
PPDH chịu sự quy định của mục đích và nội dung dạy học. Thực chất PPDH là phương thức
để đạt được mục đích. Do vậy mỗi mục đích dạy học đòi hỏi PPDH tương ứng và mỗi
PPDH bao giờ cũng hướng tới đạt mục đích cụ thể nào đó. Không có một PPDH nào lại đạt
được tất cả các mục đích.
Mỗi PPDH giúp HS đạt được trình độ năng lực nhất định. Việc xác định mục đích hình
thành năng lực ở HS để chọn PPDH phù hợp là điều quan trọng (thí dụ B.Bloom chia mức
độ nhận thức : nhận biết, thông hiểu, vận dụng, phân tích, tổng hợp, đánh giá).
c) PPDH gắn liền với nội dung dạy học
Như Hêghen đã nói “phương pháp là sự vận động bên trong của nội dung”, nên không có
phương pháp nào nằm ngoài nội dung của nó. Nội dung quyết định sự lựa chọn phương
pháp. Không có PPDH nào phù hợp với mọi nội dung dạy học.
Có 4 kiểu nội dung cơ bản :
NA : hệ thống tri thức về thế giới và về cách thức hành động.
NB : hệ thống những kinh nghiệm thực hiện hoạt động (kĩ năng, kĩ xảo).
NC : hệ thống kinh nghiệm hoạt động sáng tạo.
ND : hệ thống kinh nghiệm về thái độ và quy tắc ứng xử.
Nếu coi PPDH là một hàm số phụ thuộc vào nội dung với 4 nhân tố trên thì có thể diễn đạt :
PPDH = f (NA,B,C,D).