1
CHƯƠNG 1
GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
“HOÀN THIỆN QUY TRÌNH KIỂM SOÁT NỘI BỘ CHI ĐẦU TƯ QUA
KHO BẠC NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH PHƯỚC’’
1.1. Đặt vấn đề nghiên cứu đề tài
Với chức năng quản lý quỹ NSNN, hệ thống KBNN được giao một số chức
năng nhiệm vụ hết sức quan trọng, trong đó có nhiệm vụ kiểm soát, thanh toán, chi
trả các khoản chi của NSNN với mục tiêu đảm bảo các khoản chi đúng mục đích,
tiết kiệm và có hiệu quả. Theo quy định của Luật NSNN, chi NSNN bao gồm các
khoản chi phát triển Kinh tế - Xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt
động của bộ máy nhà nước; chi trả nợ của Nhà nước; chi viện trợ và các khoản chi
khác theo quy định của pháp luật. Mặt khác, Tổng số chi NSNN gồm lĩnh vực như
chi đầu tư phát triển, chi thường xuyên, chi trả nợ và viện trợ, chi bổ sung quỹ dự
trữ tài chính, dự phòng ngân sách nhưng chi đầu tư phát triển là một trong những
khoản chi NSNN hết sức quan trọng trong tổng chi NSNN.
Để thực thi nhiệm vụ kiểm soát chi đầu tư từ NSNN được quy định tại Quyết
định số 108/2009/QĐ-TTg ngày 26/8/2009 của Thủ tướng Chính phủ, Tổng Giám
đốc KBNN đã ban hành quy trình kiểm soát chi đầu tư và quy trình này được bổ
sung, điều chỉnh nhiều lần cho phù hợp với tình hình, yêu cầu thực tế ở từng thời
kỳ. Cụ thể, từ năm 2000 đến nay, đã ban hành các quyết định như : Quyết định số
601 KB/QĐ/TTVĐT ngày 28/10/2003; Quyết định số 297/QĐ-KBNN ngày
18/05/2007; Quyết định số 1359/QĐ-KBNN ngày 11/12/2007; Quyết định số
686/QĐ-KBNN ngày 18/8/2009; Quyết định số 282/QĐ-KBNN ngày 20/04/2012;
Quá trình tổ chức triển quy trình KSNB chi đầu tư về cơ bản đã đảm bảo tính
thống nhất trong toàn hệ thống KBNN từ trung ương đến các địa phương. Tuy
nhiên, bên cạnh tính nhất quán chung đó, do đặc thù ở mỗi địa phương, KSKB chi
đầu tư vẫn tồn tại khá nhiều vấn đề có tính đặc thù ở mỗi địa phương làm ảnh
3
Trong những năm qua, mặc dù các cấp lãnh đạo của KBNN Bình Phước đặc
biệt quan tâm và thường xuyên đưa ra những giải pháp hướng đến mục tiêu cải
thiện tốt hơn công tác kiểm soát chi đầu tư nhưng kết quả mang lại vẫn chưa đạt
được sự kỳ vọng của lãnh đạo địa phương.
Chính vì vậy, hoàn thiện quy trình KSNB chi đầu tư qua KBNN trên địa bàn
tỉnh Bình Phước hướng đến hiệu lực, hiệu quả là một vấn đề thời sự, khoa học về lý
luận, thực tiễn, cấp thiết hiện nay và tương lai. Từ đó, tác giả đã chọn đề tài “ Hoàn
thiện quy trình kiểm soát nội bộ chi đầu tư qua Kho bạc Nhà nước trên địa
bàn tỉnh Bình Phước” làm đề tài nghiên cứu luận án thạc sĩ kinh tế chuyên ngành
Kế toán.
1.3. Một số công trình nghiên cứu có liên quan đề tài
Nghiên cứu những nội dung có liên quan đến quy trình KSNB chi đầu tư qua
KBNN trong những năm qua đã được một số tác giả thực hiện. Mỗi tác giả tiếp cận
lý luận, thực tiễn theo một góc độ, ở những địa phương khác nhau. Trong số những
công trình nghiên cứu gần đây, tác giả đã tiếp cận các công trình nghiên cứu gần
nhất của một số tác giả. Tác giả Nguyễn Thị Thu Hằng (2012), “Giải pháp hoàn
thiện công tác kiểm soát chi đối với các dự án đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN
trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên”, công trình tập trung nghiên cứu về lý luận, thực
trạng và đề xuất giải pháp kiểm soát chi đối với các dự án đầu tư XDCB từ nguồn
vốn NSNN trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Tác giả Đoàn Kim Khuyên (2012),
‘‘Hoàn thiện công tác kiểm soát thanh toán đầu tư xây dựng cơ bản tại KBNN Đà
Nẵng’’, công trình tập trung nghiên cứu lý luận, thực trạng và đề xuất giải pháp
kiểm soát thanh toán kiểm soát thanh toán đầu tư xây dựng cơ bản tại KBNN Đà
Nẵng. Tác giả, Lê Toàn Thắng (2012), ‘‘Quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN của
Thành phố Hà Nội”, tập trung nghiên cứu lý luận, thực trạng và đề xuất giải pháp
hoàn thiện quản lý vốn đầu tư XDCB thành phố Hà nội. Trên cơ sở những công
dựng cơ sở luận cho tiếp cận thực tiễn, đánh giá thực tiễn để đề xuất giải pháp hoàn
thiện quy trình KSNB chi đầu tư qua KBNN tại tỉnh Bình Phước.
1.6. Nội dung nghiên cứu của đề tài
Để đạt được ba mục tiêu nêu trên, và trong phạm vi nghiên cứu, đề tài hướng
đến tiếp cận nghiên cứu, giải quyết các nội dung sau :
-
Tiếp cận, chọn lọc, xác lập cơ sở lý luận liên quan đến quy trình KSNB, như :
• Khái niệm KSNB;
• Các bộ phận cấu thành KSNB;
• Quy trình KSNB;
• Tính hữu hiệu quy trình KSNB;
• Các nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của quy trình KSNB.
và chi đầu tư qua KBNN và một số bài học kinh nghiệm quy trình KSNB liên
quan đến chi đầu tư qua KBNN, như:
• Chi đầu tư qua KBNN
5
• Một số bài học kinh nghiệm quy trình KSNB liên quan đến chi đầu tư qua
KBNN của một số quốc gia trên thế giới như Cộng hòa Pháp, Trung Quốc,
Hàn Quốc và một số tỉnh, thành phố trong nước như: Bình Dương, Bà Rịa –
Vũng Tàu.
-
Nghiên cứu thực trạng quy trình KSNB chi đầu tư qua KBNN tại tỉnh Bình
Phước như :
• Khảo sát và mô tả các quy phạm pháp luật, hành chính, quản lý chi phối đến
quy trình KSNB chi đầu tư qua KBNN và tại tỉnh Bình Phước;
6
Phương pháp luận
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở triết học duy vật biện chứng, trên quan
điểm, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đồng thời dựa
trên những cơ sở lý thuyết về kinh tế - tài chính và các đề tài nghiên cứu có liên
quan đã được công bố.
Phương pháp nghiên cứu cụ thể
-
Để tiếp cận, nghiên cứu, xác lập lý thuyết và mô tả thực tế, tác giả chủ yếu sử
dụng các phương pháp khảo sát, phân tích, thống kê, đối chiếu, so sánh, suy
luận để tổng hợp nên các cơ sở lý luận và mô tả thực trạng.
-
Để xây dựng cơ sở thực tiễn cho đề tài, tác giả sử dụng chủ yếu phương pháp
khảo sát, thống kê và sau đó dùng phần mềm SPSS để kiểm định, đánh giá
những tác động của tình hình thực trạng đến quy trình KSNB chi đầu tư qua
KBNN tại tỉnh Bình Phước.
-
Để xây dựng các giải pháp hoàn thiện, tác giả sử dụng kết hợp giữa cơ sở lý
thuyết, thực trạng và kết quả kiểm định suy luận, xác lập các quan điểm, giải
pháp hoàn thiện.
1.8. Kết cấu của luận văn
Ngoài những nội dung bắt buộc theo quy định như : Lời cảm ơn; Mục lục;
Danh mục các từ viết tắt, bảng biểu, hình vẽ; Tài liệu tham khảo và các Phụ lục, nội
Hệ thống hóa các cơ sở lý thuyết liên quan đến KSNB, quy trình KSNB chi
đầu tư qua KBNN;
-
Tóm tắt bức tranh thực trạng quy trình KSNB chi đầu tư qua KBNN trên địa
bàn tỉnh Bình Phước;
-
Giới thiệu các quan điểm và các giải pháp cụ thể hoàn thiện quy trình KSNB
chi đầu tư qua KBNN trên địa bàn tỉnh Bình Phước.
8
CHƯƠNG 2
TỔNG QUAN VỀ KSNB VÀ QUY TRÌNH KSNB
CHI ĐẦU TƯ QUA KBNN
2.1. Tổng quan về kiểm soát nội bộ (KSNB)
2.1.1. Khái niệm và hệ thống KSNB
KSNB được tiếp cận và nhận định với nhiều khái niệm khác nhau gắn liền với
quá trình hình thành, phát triển của nó. Tuy nhiên, hai định nghĩa gần đây nhất có
tính ảnh hưởng lớn đến nghiên cứu và ứng dụng kiểm soát nội bộ đó là quan điểm
về KSNB theo Báo cáo COSO 1992 và Báo cáo COSO 2004
Khái lược về COSO
COSO là một Ủy ban thuộc Hội đồng quốc gia Hoa Kỳ về việc chống gian
lận về báo cáo tài chính (National Commission on Financial Reporting, hay còn
được gọi là Treadway Commission). Ủy ban này bao gồm đại diện của Hiệp hội kế
-
KSNB được thiết kế và vận hành bởi con người điều này thể hiện KSNB
không chỉ đơn thuần là những chính sách, thủ tục
biểu mẫu mà bao
gồm cả những con người trong tổ chức có liên quan như Hội đồng quản trị,
Ban Giám Đốc, các nhân viên khác và chính con người định ra mục tiêu, thiết
lập cơ chế kiểm soát ở mọi nơi và vận hành chúng.
-
KSNB cung cấp một sự đảm bảo hợp lý chứ không đảm bảo sự tuyệt đối các
mục tiêu được thực hiện nên khi vận hành kiểm soát những yếu kém có thể
xẩy ra do các sai lầm của con người nên dẫn đến không thực hiện được các
mục tiêu. KSNB có thể ngăn chặn và phát hiện những sai phạm nhưng không
thể đảm bảo là chúng không bao giờ xảy ra. Ngoài ra, một nguyên tắc cơ bản
trong việc đưa ra quyết định quản lý là chi phí cho quá trình kiểm soát không
thể vuợt quá lợi ích được mong đợi từ quá trình kiểm soát đó. Do đó, tuy
người quản lý có thể nhận thức đầy đủ về các rủi ro, thế nhưng, nếu chi phí
cho việc kiểm soát quá cao thì họ vẫn không áp dụng các thủ tục để kiểm soát
rủi ro.
-
Mục tiêu của KSNB sẽ khác nhau với những hoạt động khác nhau. Với KSNB
về báo cáo tài chính, KSNB hướng đến đảm bảo về tính trung thực và đáng tin
cậy; với sự KSNB về tính tuân thủ, KSNB hướng đến đảm bảo sự hợp lý trong
chấp hành luật pháp, quy định; với KSNB về sự hữu hiệu và hiệu quả, KSNB
- Hội đồng quản trị và Ủy ban kiểm toán.
trong tổ chức, là nền
- Triết lý quản lý và phong cách điều
tảng cho mọi bộ phận
hành.
khác của kiểm soát
- Cơ cấu tổ chức.
nội bộ.
- Phân định quyền hạn và trách nhiệm.
- Chính sách về nhân sự.
Đánh giá
Đơn vị phải nhận biết - Xác định mục tiêu của đơn vị.
rủi ro
và đối phó với các rủi - Nhận dạng rủi ro.
ro bằng cách thiết lập
- Phân tích và đánh giá rủi ro.
mục tiêu của tổ chức và
tiêu của đơn vị.
Thông tin
Hệ thống thông tin
- Hệ thống thông tin, bao gồm cả hệ
và truyền
được thiết lập để mọi
thống thông tin kế toán phải đảm bảo
thông
thành viên trong đơn
chất lượng thông tin.
vị có khả năng nắm
- Truyền thông bảo đảm các kênh thông
bắt và trao đổi thông
tin bên trong và bên ngoài đều hoạt động
tin cần thiết cho việc
hữu hiệu.
thay đổi theo yêu cầu
- Giám sát định kỳ: thực hiện thông qua
của môi trường bên
các cuộc kiểm tra định kỳ của đơn vị
trong và bên ngoài.
kiểm toán độc lập hoặc đơn vị kiểm toán
nội bộ.
Khái niệm và các bộ phận cấu thành hệ thống KSNB
Theo COSO 2004
KSNB theo Báo cáo COSO 1992 ra đời và đã đóng góp khá tích cực cho
12
nghiên cứu, ứng dụng trong kiểm soát và nó cũng được liên tục bổ sung, hoàn thiện,
tuy nhiên, sự thay đổi môi trường hoạt động, nhất là những vấn đề rủi ro, quản trị
rủi ro dẫn đến KSNB theo COSO rơi vào một số hạn chế, khiếm khuyết. Vì vậy, sự
ra đời một công bố mới về KSNB của COSO 2004.
Trên cơ sở tiếp cận và bổ sung những vấn đề mới về KSNB, hệ thống KSNB
theo COSO 2004 so với COSO 1992 có các điểm giống và khác nhau sau:
Về quan điểm, hệ thống KSNB theo COSO 2004 vẫn tương tự như quan điểm
của COSO 1992 nhưng bổ sung, nhấn mạnh đến quản trị rủi ro. Cụ thể, quan điểm
về rủi ro được thể hiện, bổ sung như sau : Quản trị rủi ro doanh nghiệp là một quá
trình do hội đồng quản trị, các cấp quản lý và các nhân viên của đơn vị chi phối,
vị sẵn lòng chấp nhận. Nó phản ánh triết lý về quản trị rủi ro của nhà quản lý
cấp cao, và ảnh hưởng đến văn hoá, cách thức hoạt động của đơn vị. Rủi ro có
thể chấp nhận được xem xét khi đơn vị xác định các chiến lược, ở đó lợi ích
kỳ vọng của một chiến lược phù hợp với mức rủi ro có thể chấp nhận đã đề ra.
Thiết lập mục tiêu : Thiết lập mục tiêu là một bộ phận cấu thành trong
KSNB. Để quản trị rủi ro, doanh nghiệp cần nhận thấy được tầm quan trọng của
việc thiết lập mục tiêu trong quản trị rủi ro. Do đó, thiết lập mục tiêu đã tách ra
thành một bộ phận độc lập để hợp thành quản trị rủi ro. Theo quản trị rủi ro, các
mục tiêu được thiết lập đầu tiên ở cấp độ chiến lược, từ đó, đơn vị tiếp tục cụ thể
hóa trong chiến lược, hoạt động, báo cáo và tuân thủ. Việc thiết lập các mục tiêu
của đơn vị là điều kiện đầu tiên để nhận dạng, đánh giá và phản ứng với rủi ro. Các
mục tiêu chiến lược: là những mục tiêu cấp cao của đơn vị, các mục tiêu này phù
hợp và ủng hộ cho sứ mạng mà đơn vị đã đề ra. Nó thể hiện sự lựa chọn của nhà
quản lý về cách thức đơn vị tạo lập giá trị cho chủ sở hữu của mình. Các mục tiêu
liên quan: là những mục tiêu cụ thể hơn so với mục tiêu chiến lược và phù hợp với
mục tiêu chiến lược đã được lập. Mặc dù các mục tiêu trong đơn vị rất đa dạng,
nhưng các mục tiêu liên quan đến các mục tiêu chiến lược có thể bao gồm các mục
tiêu hoạt động, mục tiêu về báo cáo, mục tiêu tuân thủ. Nội dung các mục tiêu này
tương tự như KSNB.
14
Nhận dạng sự kiện : KSNB chỉ nhìn nhận các sự kiện có thể gây ra rủi ro cho
đơn vị trong khi đó quản trị rủi ro có cái nhìn rộng hơn nên khi xem xét sự kiện có
thể có ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến đơn vị và từ đó có thể tối đa hóa việc
tạo lập giá trị cho mọi tình huống trong tương lai. Ngoài ra, quản trị rủi ro cũng xem
xét các sự kiện một cách có hệ thống hơn KSNB, cụ thể như sau:
-
-
Rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát: Rủi ro tiềm tàng là rủi ro do thiếu các
15
hoạt động của đơn vị nhằm thay đổi khả năng hoặc sự tác động của các rủi ro
đó. Rủi ro kiểm soát là rủi ro vẫn còn tồn tại sau khi đơn vị đã phản ứng với
rủi ro. Đơn vị cần phải xem xét cả rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát, đầu tiên
là xem xét các rủi ro tiềm tàng, sau đó khi đã có phương án phản ứng với rủi
ro tiềm tàng thì tiếp tục xem xét đến rủi ro kiểm soát.
-
Ứơc lượng khả năng và ảnh hưởng: Các sự kiện tiềm tàng phải được đánh giá
trên hai khía cạnh: khả năng xảy ra và mức độ tác động của nó. Những sự kiện
mà khả năng xuất hiện thấp và tác động ít đến đơn vị thì không cần phải tiếp
tục xem xét. Ngược lại, các sự kiện với khả năng xuất hiện cao và tác động lớn
thì cần phải xem xét kỹ càng. Các sự kiện nằm giữa hai thái cực này đòi hỏi sự
đánh giá phức tạp, điều quan trọng là phải phân tích kỹ lưỡng và hợp lý.
-
Sự liên hệ giữa các sự kiện: Đối với những sự kiện độc lập với nhau thì đơn vị
đánh giá các sự kiện một cách độc lập. Nhưng nếu có sự liên hệ giữa các sự
kiện hoặc các sự kiện cùng kết hợp lại với nhau sẽ tạo nên những tác động lớn
thì đơn vị phải đánh giá được tác động tổng hợp đó.
Phản ứng với rủi ro : Sau khi đã đánh giá các rủi ro liên quan, KSNB chưa
đưa ra được cách thức để phản ứng với rủi ro, trong khi đó quản trị rủi ro xác định
phản ứng với các rủi ro cụ thể.
Hoạt đông kiểm soát : Các hoạt động kiểm soát bao gồm các chính sách và
thủ tục trợ giúp cho việc đối phó với rủi ro và thực hiện các chỉ thị của nhà quản lý
về phản ứng với rủi ro cũng như chỉ đạo khác của đơn vị. Hoạt động kiểm soát được
thực hiện ở mức độ toàn đơn vị và trong phạm vi từng chức năng trong đó bao gồm
cả việc kiểm soát hệ thống xử lý thông tin của đơn vị.
Thông tin và truyền thông : Thông tin và cách thức truyền thông là yếu tố
không thể thiếu để đơn vị nhận dạng các sự kiện tiềm tàng, đánh giá và phản ứng
rủi ro. Việc quản lý quá trình ghi nhận, truyền đạt thông tin bao gồm cả hình thức và
trình tự sẽ giúp mọi cá nhân trong đơn vị hoàn thành trách nhiệm của mình. Trong
quản trị rủi ro, việc truyền thông được hiểu theo nghĩa rộng hơn: từ trên xuống
dưới, từ trong ra ngoài,...
Giám sát : Đây là yếu tố cuối cùng của hệ thống quản trị rủi ro doanh nghiệp,
yếu tố này sẽ giúp giám sát sự hoạt động hữu hiệu của các yếu tố khác trong QTRR
doanh nghiệp, việc giám sát có thể thông qua:
-
Các hoạt động giám sát thường xuyên.
-
Các chương trình đánh giá định kỳ.
-
Sự phối hợp của giám sát thường xuyên và giám sát định kỳ.
Như vậy, với những bổ sung, hoàn thiện hệ thống KSNB theo COSO 2004
trong môi trường hoạt động sản xuất kinh doanh mới đã giúp cho các nhà quản trị,
Với các quy phạm pháp luật, hành chính, quản lý thể hiện những căn cứ mà
quy trình KSNB phải tuân thủ.
Với các yếu tố kỹ thuật gắn liền với quy trình KSNB thể hiện việc xác lập,
vận dụng các bộ phận cấu thành hệ thống KSNB trong quy trình KSNB như : môi
18
trường kiểm soát, mục tiêu, sự kiện, rủi ro, phương pháp đối phó với rủi ro, hoạt
động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát liên quan đến quy trình.
Với bộ máy vận hành quy trình KSNB, quy trình KSNB thể hiện những con
người và cách thức mà con người tiến hành quy trình KSNB.
2.1.2.2. Tính hữu hiệu của quy trình KSNB
Tính hữu hiệu của một quy trình KSNB được thể hiện qua việc xây dựng
một quy trình KSNB đảm bảo tốt nhất các mục tiêu KSNB đặt ra. Như vậy, một quy
trình KSNB hữu hiệu cần phải đảm bảo :
-
Những quy phạm pháp luật, hành chính, quản lý đồng bộ, nhất quán, đầy đủ,
dễ hiểu và được chấp hành hay tuân thủ tốt.
-
Các yếu tố kỹ thuật gắn liền với quy trình KSNB cần phải được xác lập đầy đủ
và hiểu biết, vận dụng một cách tốt nhất trong quy trình.
-
Bộ máy thực thi quy trình phải đảm bảo bởi số lượng, chất lượng lao động tốt
nhất cho quy trình đem lại hiệu quả tốt nhất
của các doanh nghiệp vào các lĩnh vực cần thiết, phù hợp với mục tiêu của nền kinh
tế.
Chi đầu tư phát triển được cấp phát từ ngân sách gắn liền với những khoản chi
cơ bản sau đây:
-
Chi đầu tư xây dựng cơ bản (gọi tắt là XDCB);
-
Chi đầu tư và hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp nhà nước;
-
Chi góp vốn cổ phần, vốn liên doanh vào các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực
cần thiết có sự tham gia của Nhà nước;
-
Chi cho các quỹ hỗ trợ đầu tư quốc gia và các quỹ hỗ trợ phát triển;
-
Chi dự trữ nhà nước.
Với khoản chi đầu tư từ ngân sách với bất kỳ quốc gia nào cũng đều phải tuân
thủ nghiêm ngặt bới những luật lệ, quy trình, tổ chức vận hành của hệ thống quản
lý, kiểm soát, thực thi ngân sách, hay KBNN.
Kết luận chương 2
Kiểm soát nội bộ và các bộ phận cấu thành kiểm soát nội bộ cần phải đặt trong
quĩ ngân sách nhà nước, quĩ dự trữ tài chính nhà nước và các quỹ khác của nhà
nước được giao theo qui định của pháp luật, thực hiện huy động vốn cho ngân sách
nhà nước và cho đầu tư phát triển qua hình thức phát hành công trái, trái phiếu theo
qui định của pháp luật.
KBNN Bình Phước đã được thành lập theo Quyết định số 1140/TC-QĐTCCB ngày 14/12/1996 của Bộ trưởng Bộ Tài chính và chính thức đi vào hoạt động
từ ngày 01/01/1997 và đến nay hệ thống KBNN Bình Phước gồm có 10 phòng
nghiệp vụ và 09 KBNN cấp huyện, thị xã trực thuộc. Tổng số cán bộ công chức
hiện nay trong toàn hệ thống tại Bình Phước là 178 người, trong đó tại KBNN tỉnh
là 62 người, còn lại là KBNN cấp huyện, thị xã mỗi đơn vị là từ 12 đến 14 người.
Số công chức có trình độ Đại học là 97 người, chiếm 54,5%; trình độ cao đặng và
trung cấp là 36 người, chiếm 20,2%.
22
Trải qua hơn 16 năm xây dựng và trưởng thành, với phương châm củng cố,
ổn định và phát triển dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh, Kho bạc
Nhà nước và sự phối hợp chặt chẽ với các ngành liên quan, bằng sự nỗ lực phấn đấu
không ngừng của các thế hệ cán bộ, công chức, KBNN Bình Phước đã thực hiện tốt
chức năng, nhiệm vụ được giao, có những bước phát triển ổn định, bền vững góp
phần cùng hệ thống Kho bạc Nhà nước khẳng định vị trí không thể thiếu được trong
bộ máy hành chính công quyền của Nhà nước thực hiện chức năng: quản lý nhà
nước về quỹ NSNN, các quỹ tài chính của Nhà nước, huy động vốn cho NSNN, cho
đầu tư phát triển và là đầu mối thực hiện nhiệm vụ tổ chức công tác kế toán NSNN.
Trong đó, quản lý quỹ NSNN là một chức năng đặc biệt quan trọng của KBNN
được Chính phủ, Bộ Tài chính, chính quyền địa phương đánh giá, nhìn nhận và yêu
cầu ngày càng cao.
Công tác Kiểm soát chi NSNN luôn được thực hiện đúng kế hoạch, dự toán,
quy trình, quy định, đảm bảo chi trả, thanh toán các khoản chi của các đơn vị giao
dịch đúng chế độ Nhà nước, kịp thời và chính xác.
nguồn vốn trong xã hội để hướng tới sự tăng trưởng. Chi đầu tư phát triển được
cấp phát chủ yếu từ ngân sách Trung ương và một bộ phận đáng kể của ngân sách
Địa phương và bao gồm các khoản chi cơ bản sau đây:
-
Chi đầu tư xây dựng cơ bản (gọi tắt là XDCB);
-
Chi đầu tư và hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp nhà nước;
-
Chi góp vốn cổ phần, vốn liên doanh vào các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực
cần thiết có sự tham gia của nhà nước;
-
Chi cho các quỹ hỗ trợ đầu tư quốc gia và các quỹ hỗ trợ phát triển;
-
Chi dự trữ nhà nước.
Trong đó, chi đầu tư XDCB là một khoản chi lớn và nhiệm vụ của KBNN là
kiểm soát chi đầu tư XDCB.
Chi đầu tư XDCB là những khoản chi liên quan đến XDCB hay thực thi dự án
đầu tư. Như vậy chi XDCB gắn liền với những khoản chi liên quan đến tổng mức
đầu tư xây dựng.
Tổng mức đầu tư xây dựng công trình (gọi tắt là tổng mức đầu tư) là chi phí
đất trong thời gian xây dựng (nếu có); chi phí đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật
(nếu có);
-
Chi phí quản lý dự án bao gồm các chi phí để tổ chức thực hiện quản lý dự án
từ khi lập dự án đến đến khi hoàn thành, nghiệm thu bàn giao, đưa công trình
vào khai thác sử dụng và chi phí giám sát, đánh giá dự án đầu tư;
-
Chi phí tư vấn đầu tư xây dựng bao gồm: chi phí tư vấn khảo sát, lập dự án,
thiết kế, giám sát xây dựng và các chi phí tư vấn khác liên quan;
-
Chi phí khác bao gồm: vốn lưu động trong thời gian sản xuất thử đối với các
dự án đầu tư xây dựng nhằm mục đích kinh doanh; lãi vay trong thời gian xây
dựng và các chi phí cần thiết khác;
-
Chi phí dự phòng bao gồm: chi phí dự phòng cho khối lượng công việc phát
sinh và chi phí dự phòng cho yếu tố trượt giá trong thời gian thực hiện dự án.
25
Vốn đầu tư xây dựng từ NSNN là khoản vốn ngân sách được Nhà nước dành
cho đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội không có khả