Nghiên cứu ảnh hưởng của thuốc trừ sâu tới một số đặc điểm sinh học của bọ nhảy (Phyllotreta striolata Fab. ) hại rau họ hoa thập tự vụ Xuân Hè, năm 2017 tại Giang Biên, Hà Nội. - Pdf 44

LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài tốt nghiệp ngoài sự cố gắng của bản thân tôi đã nhận
được rất nhiều sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình của thầy cô, bạn bè và người thân.
Trước tiên, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo ThS.
Nguyễn Đức Khánh – Bộ môn Côn trùng – Khoa Nông học – Học Viện Nông
Nghiệp Việt Nam đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề
tài và hoàn thành bài khóa luận này.
Tôi xin chân thành cảm ơn những ý kiến đóng góp quí báu, sự giúp đỡ tận
tình của các thầy cô bộ môn Côn trùng trong quá trình xây dựng thực hiện và
hoàn thành bản luận văn này.
Tôi xin được gửi lời chân thành cảm ơn tới các thầy cô giáo trong Khoa
Nông học – Học Viện Nông nghiệp Việt Nam..
Bên cạnh đó tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới tất cả người thân, bạn
bè và những người luôn bên cạnh động viên giúp đỡ tôi trong quá trình học tập
và thực hiện bài khóa luận tốt nghiệp này.
Hà Nội, ngày 31 tháng 7 năm 2017
Người thực hiện

Nguyễn Hương Giang

i


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan!
Bản báo cáo khóa luận tốt nghiệp này được hoàn thành bằng sự nhận thức
chính xác của bản thân.
Số liệu và kết quả nghiên cứu trong bài báo cáo khóa luận này chưa từng
được sử dụng và công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác.
Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện báo cáo này đã được cám ơn và các
thông tin trích dẫn đều được chỉ rõ nguồn gốc.

Phyllotreta striolata..........................................................................................38
4.5. Hiệu lực của một số thuốc BVTV trong phòng trừ bọ nhảy Phyllotreta
striolata trong phòng thí nghiệm......................................................................47
PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ.................................................................50
5.1. Kết luận....................................................................................................50
5.2. Đề nghị.....................................................................................................51
PHẦN 6. TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................................52
PHỤ LỤC............................................................................................................54

iii


iv


DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1. Thành phần sâu hại và thiên địch trên một số giống rau họ hoa thập
tự tại Giang Biên, Hà Nội vụ Xuân Hè năm 2017......Error: Reference
source not found
Bảng 4.2. Diễn biến mật độ trưởng thành bọ nhảy Phyllotreta striolata trên một
số giống rau họ hoa thập tự vụ Xuân Hè 2017 tại Giang Biên, Long
Biên, Hà Nội...................................Error: Reference source not found
Bảng 4.3. Thời gian các pha phát dục của bọ nhảy P.striolata...Error: Reference
source not found
Bảng 4.4 . Khả năng sinh sản của bọ nhảy (Phyllotreta Striolata )..............Error:
Reference source not found
Bảng 4.5 . Tỷ lệ đực:cái; tỷ lệ trứng nở và tỷ lệ vũ hóa của bọ nhảy Phyllotreta
striolata...........................................Error: Reference source not found
Bảng 4.6. Ảnh hưởng của thuốc Dupont prevathon 5SC (hoạt chất
Chlorantraniliprole) đến thời gian các pha phát dục của bọ nhảy

nhảy P. striolata.................................Error: Reference source not found
Hình 5. Ảnh hưởng của thuốc BVTV đến nhịp điệu đẻ trứng của trưởng thành
bọ nhảy P. striolata............................Error: Reference source not found
Hình 6. Hiệu lực trừ bọ nhảy P. striolata của 3 loại thuốc BVTV trong phòng
thí nghiệm..........................................Error: Reference source not found
Hình 7. Hiệu lực trừ bọ nhảy P. striolata bằng phương xử lý hạt giống............Error:
Reference source not found

vi


DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ CÁI VIẾT TẮT
CT
NL
NXB
STT
GĐST
NĐT
MĐPB

Công thức
Nhắc lại
Nhà xuất bản
Số thứ tự
Giai đoạn sinh trưởng
Ngày điều tra
Mức độ phổ biến

BVTV


Nội ( Đông Anh ), Văn Đức (Gia Lâm), Tiền Phong (Mê Linh) và Song Phương
(Hoài Đức). Giai đoạn 1995-1997, chỉ có 20 loài sâu hại trong đó có 1 loài gây
hại nặng là sâu tơ ( P. xylostella ) , còn giai đoạn 1998-2002, có 28 loài sâu hại,
trong đó có 3 loài gây hại nặng là sâu tơ ( P. xylostella ), bọ nhảy ( P. striolata)
và rệp muội ( B. brassicae ). Theo Nguyễn Văn Đĩnh (2004), số lượng sâu hại
trên rau họ hoa thập tự được trồng trong điều kiện nhà có mái che tại Gia Lâm
và Thanh Trì là từ 8-12 loài, trong đó cải ngọt ( B. brassicae L. ) và cải canh (B.
Brassicae H.F ) có số loài sâu hại nhiều nhất với 12 loài, trong đó, gây hại chính
là sâu tơ và bọ nhảy. Theo Nguyễn Thị Nhung và cộng sự (2006), các loại sâu
hại chính trên rau họ hoa thập tự vụ Đông Xuân tại Võ Cường, Bắc Ninh gồm
1


có: bọ nhảy ( P. striolata ), sâu khoang (S. litura ), sâu tơ ( P. xylostella ), rệp
muội ( B. brassicae ), sâu keo da láng ( S. exigua ) và bọ phấn.
Bọ nhảy Phyllotreta striolata Fab. là loài gây hại chủ yếu trên rau họ hoa
thập tự, thường gặp rất nhiều ở các vùng chuyên canh rau ở nhiều nước trên thế
giới và các vùng trồng rau ở Việt Nam. Chúng được đánh giá là loài gây hại
nghiêm trọng, làm ảnh hưởng rõ rệt đến năng suất và phẩm chất cây trồng. Việc
phòng chống bọ nhảy hiện nay vẫn đang gặp nhiều khó khăn do đặc điểm pha
sâu non sống và gây hại dưới mặt đất, pha trưởng thành có khả năng di chuyển
nhanh và linh hoạt,… Hiện nay, việc phòng trừ sâu hại rau họ hoa thập tự nói
chung và bọ nhảy nói riêng vẫn chủ yếu sử dụng phương pháp hóa học là chính.
Theo kết quả nghiên cứu của Lê Thị Kim Oanh (2002), giai đoạn từ năm 19982000, có 32 loại thuốc đã được sử dụng trong đó có 8 nhóm thuốc trừ sâu chính,
bao gồm cả thuốc cấm và thuốc không có trong danh mục được phép sử dụng.
Nông dân thường có xu hướng tập trung vào 1 loại thuốc có hiệu quả cao, và khi
thuốc đã giảm hiệu lực thì sẽ chuyển sang loại thuốc khác. Giai đoạn 1998-1999,
nhóm thuốc lân hữu cơ được sử dụng phổ biến nhất, đặc biệt Methamedophos –
một loại thuốc có độ độc cao và thời gian cách ly dài. Kết quả điều tra của Trần
Duy Quý và Nguyễn Văn Sơn cho biết, ở các điểm chuyên canh rau tại Hà Nội,

1.2.1. Mục đích
Đánh giá hiệu lực và ảnh hưởng của một số thuốc BVTV tới bọ nhảy, trên
cơ sở đó cung cấp cơ sở thực tế áp dụng biện pháp quản lý bọ nhảy sọc cong
một các hiệu quả, tiết kiệm và an toàn cho nông sản và môi trường.
1.2.2. Yêu cầu
• Điều tra, xác định thành phần dịch hại, thiên địch trên một số giống rau
cải tại phường Giang Biên, quận Long Biên, Hà Nội
• Đánh giá ảnh hưởng của một số hóa chất BVTV tới các đặc điểm sinh học
của bọ nhảy P. striolata
• Đánh giá hiệu lực của một số hóa chất BVTV đối với bọ nhảy P. striolata
3


PHẦN 2: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ
NGOÀI NƯỚC
2.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước
2.1.1. Phân loại
Tổ chức C.A.B.I (1999) đã xác định vị trí phân loại của P. striolata như sau:
Vị trí phân loại:
- Giới (Kingdom): Animalia
- Ngành (Phylum): Arthropoda
- Lớp (Class): Insecta
- Bộ (Order): Coleoptera
- Họ (Family): Chrysomelidae
- Họ phụ (Sub family): Aticinae
- Giống (Genus): Phyllotreta
2.1.2. Đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của bọ nhảy P. striolata F.
Theo nghiên cứu của Janet J Knodel và Denise L. Olson (2002) về đặc
điểm sinh học và quản lý tổng hợp bọ nhảy trên cải dầu, kích thước của trưởng
thành bọ nhảy P. striolata nhỏ, chiều dài 2-3mm, hình bầu dục, cánh màu đen

thời kỳ đầu của vụ sau thường bị hại nặng. Còn trong điều kiện phòng thí
nghiệm, bọ nhảy có thể có 11 thế hệ kế tiếp nhau trong 1 năm. Cũng theo nghiên
cứu này, một số đặc tính sinh học của loài bọ nhảy bọ nhảy sọc cong vỏ lạc
Phyllotreta striolata được nuôi bằng bắp cải và củ cải Đài Loan, Trung Quốc,
trong điều kiện 25oC và độ ẩm 75 - 85% cho thấy thời gian phát triển của trứng
khoảng 4 - 6 ngày, ấu trùng là 24 - 36 ngày, nhộng là 5 - 6 ngày và tiền trưởng
thành là 6 - 14 ngày. Vòng đời kéo dài từ 29 - 52 ngày. Trong điều kiện nghiên
cứu 30 oC và độ ẩm 75 - 85% thì thời gian phát triển của vòng đời: 33 - 67 ngày,
trứng: 5 - 7 ngày, sâu non: 14 - 21 ngày, nhộng: 7 - 10 ngày, tiền trưởng thành: 7 29 ngày. Trưởng thành có thể sống từ 20 - 70 ngày và mỗi cá thể cái có thể đẻ từ
25 - 200 quả, trứng được đẻ dưới đất, sâu khoảng 2 - 3 cm gần gốc cây ký chủ.
5


Zhang và cộng sự (2000) nghiên cứu ảnh hưởng của các loại cây kí chủ
khác nhau đến quần thể bọ cánh cứng hại rau thập tự đã chỉ ra rằng: ở nhiệt độ
25o C- 28o C, bọ nhảy nuôi bằng các loại rau họ hoa thập tự khác nhau (cải xanh,
bắp cải, súp lơ) cho thấy tỉ lệ sống của sâu non, nhộng, tuổi thọ và độ mắn đẻ
của trưởng thành có sự khác nhau.
Ở Louisiana, Mỹ có ít nhất 2 thế hệ bọ nhảy trong năm. Thời gian từ khi
con cái trưởng thành đến khi đẻ trứng chỉ khoảng 8 – 12 ngày. Bọ nhảy bay nhảy
rất linh hoạt nhưng chúng di cư rất ít ngoại trừ để kiếm nguồn thức ăn mới (theo
Eddy, 1938).
Theo Chen et al. (1990), thời gian phát dục của sâu non và trưởng thành
bọ nhảy P. striolata lần lượt là 14 ngày và 5-6 ngày, không có sự khác biệt
giwuax các loại cải. Tuy nhiên, tuổi thọ của trưởng thành lại có sự khác biệt khi
chúng sử dụng các loại cải khác nhau làm thức ăn, cụ thể, ở điều kiện khoảng 25
°C, tuổi thọ của trưởng thành khi ăn cải gồng (B. chinensis) là 33 ngày, trên su
hào (B. oleracea) là 23 ngày, trên cải xanh (B. juncea ) là 16,4 ngày…
Nghiên cứu của Burgess (1981) đã chỉ ra rằng, ở Canada bọ nhảy trưởng
thành qua đông gây ra thiệt hại lớn nhất đối với cây cải ăn lá vào mùa xuân. Sự di

striolata là loài côn trùng gây hại nghiêm trọng cải bao, cải củ và cải xanh ngọt
ở Đài loan, bắp cải ở Trung Quốc. Giai đoạn trứng, sâu non và nhộng đều nằm
trong đất và gây hại trong đất. Sau khi vũ hóa, bọ nhảy trưởng thành hoạt động
trên mặt đất và gây hại trên lá, làm giảm năng suất, chất lượng rau.
Nghiên cứu của YiYing Zhao et al. (2008) cho biết, bọ nhảy là một trong
những loài sâu hại quan trọng nhất trên cây rau họ hoa thập tự trên toàn thế giới.
Chúng gây hại trên các loại cây thuộc họ hoa thập tự như cải bắp (Brassica
oleracea ), su hào (B. oleracea), cải xanh (B. juncea) …
Theo Janet J Knodel và Denise L. Olson (2002), bọ nhảy cũng là loài sâu
hại quan trọng trên cây cải dầu, một loại cây trồng lấy dầu được trồng phổ biến
ở khu vực miền bắc Great Plains của Mỹ và Canada. Thiệt hại lớn nhất do bọ
nhảy gây ra là vào mùa xuân, giai đoạn 2 tuần đầu sau gieo. Bọ nhảy ăn khuyết
7


lá, tạo nên những lỗ hổng cho lá, trong khi đó, sâu non gây hại dưới rễ cây, tấn
công vào đỉnh sinh trưởng của rễ, làm giảm sinh trưởng, cây còi cọc và chết.
Trong điều kiện nóng, khô, quần thể bọ nhảy có thể gia tăng nhanh chóng, gây
ảnh hưởng nghiêm trọng cho nông dân.
Theo Soroka et al.(2011), bọ nhảy trưởng thành gây hại tạo ra những lỗ
hổng trên lá. Các loại cây họ thập tự dễ bị ảnh hưởng bởi bọ nhảy nhất là vào
giai đoạn lá mầm và đầu giai đoạn lá thật. đối với giai đoạn 4 lá thật trở lên thì
ảnh hưởng của bọ nhảy là ít hơn. Ước tính tại Mỹ, bọ nhảy đã làm thiệt hại mỗi
năm khoảng 300 triệu đô và giảm 10% sản lượng. Ở Canada trồng suplơ vụ sớm
làm cho tỷ lệ cây bị chết do bọ nhảy gây ra rất cao. Trồng cây con quá nhỏ cũng
làm cho bọ nhảy trưởng thành gây hại nặng hơn so với trồng cây con khi đã có
đủ từ 6 - 8 lá.
Theo Eddy (1938) thì ở Louiisana và Texas Gulf Mỹ, Phyllotreta striollata
Fab. được coi là loài côn trùng gây hại nghiêm trọng cho rau họ hoa thập tự nhất
là cây cải xanh ngọt, cải đắng giai đoạn cây giống trong vườn ươm. Ngoài đồng

có sự nhạy cảm khác nhau khi bị tấn công bởi sâu hại ( cụ thể là các loại cánh
cứng hại trên rau thập tự), do đó không thể đưa ra một loại cây đơn lẻ nào để
làm bẫy cây trồng trong suốt quá trình phát triển của cây. Tác giả đã chỉ ra biện
pháp sử dụng một hệ thống bao gồm nhiều cây trồng khác nhau, qua đó mỗi cây
khác nhau sẽ thu hút sâu hại ở mỗi giai đoạn phát triển khác nhau của cây trồng.
Ví dụ, tập hợp các loại cây như cúc vạn thọ, cải bắp, cải dầu và cây hướng
dương đã được áp dụng thành công trong việc làm bẫy cây trồng, giảm thiểu ảnh
hưởng của bọ cánh cứng gây hại trên súp lơ ở Phần Lan năm 1989. Cũng theo
kết quả nghiên cứu của Tanja, việc đồng thời sử dụng củ cải, cải dầu và mù tạt
trắng như một tổ hợp bẫy cây trồng cũng có khả năng điều khiển được bọ cánh
cứng hại trên bắp cải.
Theo nghiên cứu của Andersen et al. (2006), một số loại thuốc trừ sâu như
Pyrethrin, Azidirachtin đã không có hiệu quả trong phòng trừ bọ nhảy hại trên
các loại rau thập tự. Trong khi đó, Thiamethoxam, Neonicotinoid chưa được
9


khuyến cáo dùng cho cây thuộc họ thập tự nhưng thử nghiệm thì lại có tác dụng
bảo vệ cải dầu non từ bọ nhảy.
Theo Ruth Harad (2001), sử dụng thuốc hóa học vẫn là biện pháp phòng
trừ bọ nhảy nhanh chóng và có hiệu lực cao nhất. Các loại thuốc sử dụng để
phòng trừ bọ nhảy ở mỗi vùng, mỗi nước là rất khác nhau tùy theo điều kiện môi
trường, tập quán canh tác của vùng.
Theo Lee Stiver (2001), các loại thuốc trừ sâu thường được sử dụng để
phòng trừ bọ nhảy hại rau thập tự ở New York là: Thiodan, Sevin, Disyston.
Hiệu lực phòng trừ bọ nhảy cao nhất là Thiomethoxam, với tên thương phẩm là
Adage do công ty Novartis sản xuất. Một số loại thuốc như Bacillus
thuringiensis, Methomyl, Cypermethrin, Carbaryl, Spinasad mới được nghiên
cứu sử dụng trong phòng trừ bọ nhảy với mục đích làm giảm nguy cơ gây ô
nhiễm môi trường.

khó khăn do đặc điểm của chúng: pha sâu non thường gây hại dưới mặt đất, khó
diệt trừ; pha trưởng thành có khả năng di chuyển nhanh.
Theo Trịnh Lê Minh Thu (2012) sự phân bố sâu non bọ nhảy trong đất
chủ yếu tập trung ở tầng đất 0 – 5cm, tầng đất 5 – 10 cm cũng có xuất hiện sâu
non bọ nhảy nhưng chủ yếu xuất hiện ở giai đoạn sau 25 NST trở đi. Có nhiều
nguyên nhân làm cho mật độ sâu non chủ yếu tập trung ở lớp đất 0 – 5 cm so với
mật độ sâu non ở tầng đất 5 – 10 cm, một trong những nguyên nhân đó là do ở
tầng đất thứ nhất tức từ 0 – 5 cm là nơi tập trung nhiều nguồn thức ăn như bộ
phận thân ngầm dưới mặt đất, rễ chính và các rễ phụ có kích thước to, dinh
dưỡng tốt hơn so với ở tầng đất thứ hai từ 5 – 10 cm nơi chỉ tập trung các rễ
nhánh có kích thước nhỏ, không phù hợp cho sâu non đục tấn công.
Theo Nguyễn Đức Khiêm (2005), trưởng thành bọ nhảy có kích thước cơ
thể dài 1,8-2,4mm, hình bầu dục, toàn thân màu đen và lấp lánh ánh kim. Râu
đầu đốt 1 dài và to, đốt 5 dài nhất và thường gấp 2 lần đốt 4, đốt 6 ngắn và nhỏ
nhất. mặt lưng đốt ngực trước và trên cánh cứng có các chấm xếp thành hàng
dọc. Mỗi cánh ở giữa có vân thẳng màu vàng, mỗi phía cạnh ngoài của vân lõm
11


vào, phía trong của vân thẳng. Chân sau đốt đùi phình to. Phân biệt giwuax con
đực và cái chủ yếu dựa vào phần râu. Trứng bọ nhảy dài 0,3mm, hình trứng,
màu vàng nhạt. sâu non dạng ít chân, đẫy sức dài 4mm, hình ống tròn, phần cuối
nhỏ, đầu nâu nhạt, lưng và bụng vàng nhạt, mảnh lưng đốt ngực trước nâu nhạt,
và các đốt ngực, bụng thường có lông cứng màu đen. Đốt cuối bụng hình bầu
dục, ở mặt bụng có 1 mấu lồi. Nhộng hình bầu dục, dài khoảng 2mm, màu sữa.
Phần đầu ẩn ở phía dưới đốt ngực trước, mầm cánh và mầm chân sau dài đến hết
đốt bụng 5. Phần lưng bụng và ngực có một vài phần lông cứng màu nâu, đốt
cuối cùng có 2 gai lồi màu nâu.
Nghiên cứu của Hồ Thị Xuân Hương (2004) về đặc điểm sinh học của bọ
nhảy P. striolata cho thấy: Ở điều kiện 25°C, vòng đời của bọ nhảy trung bình là

thời gian phát dục trung bình của pha trứng là 6,4 ± 1,55 ngày; thời gian dài
nhất 10 là ngày và thời gian ngắn nhất là 5 ngày; pha sâu non thời gian phát
dục trung bình 15 ± 1,84 ngày, dài nhất 20 ngày, ngắn nhất là 12 ngày; pha
nhộng thời gian phát dục trung bình 13,1 ± 1,64 ngày, dài nhất 16 ngày, ngắn
nhất là 10 ngày; trưởng thành đến đẻ trứng trung bình là 9,32 ± 0,68 ngày, dài
nhất là 12 ngày, ngắn nhất là 6 ngày. Trong khi đó, ở nhiệt độ 30 oC, thời gian
phát dục trung bình của pha trứng là 6,07 ± 1,36 ngày, thời gian dài nhất là 9
ngày và thời gian ngắn nhất là 5 ngày; pha sâu non thời gian phát dục trung bình
là 14,53 ± 1,85 ngày, dài nhất là 18 ngày, ngắn nhất là 11 ngày; pha nhộng thời
gian phát dục trung bình 12,83 ± 1,68 ngày, dài nhất 15 ngày, ngắn nhất là 10
ngày; trưởng thành đến đẻ trứng trung bình là 7,77 ± 0,48ngày, dài nhất là 10
ngày, ngắn nhất là 5 ngày.
Nghiên cứu của Vũ Thị Hiển (2002) về sự gây hại và khả năng phòng trừ bọ
nhảy tại Gia Lâm, Hà Nội cho thấy: thời gian phát dục của các pha bọ nhảy ở
điều kiện 25°C thì có thời gian phát dục của trứng trung bình là 6,51 ± 0,15 ngày
(dao động từ 5-10 ngày), ở điều kiện nhiệt độ phòng (trung bình là 19,6°C) thời
gian phát dục của trứng trung bình là 8,27 ± 0,20 ngày, tối đa là 12 ngày và thấp

13


nhất là 5 ngày. Đối với pha sâu non, ở điều kiện nhiệt độ 25°C, thời gian phát
dục của sâu non trung bình là 15,24 ± 0,57 ngày, tối đa là 21 ngày và thấp nhất
là 13 ngày, điều kiện nhiệt độ phòng (trung bình là 19°C) thời gian phát dục của
sâu non trung bình là 26,75 ± 0,58 ngày, tối đa là 23 ngày và thấp nhất là 13
ngày. Thời gian phát dục của nhộng ở điều kiện nhiệt độ 25°C trung bình là
10,97 ± 0,25 ngày, tối đa là 15 ngày và thấp nhất là 9 ngày. Ở điều kiện nhiệt độ
phòng (trung bình là 18,7°C) thời gian phát dục của nhộng trung bình là 11,43 ±
0,22 ngày, tối đa là 15 ngày và thấp nhất là 10 ngày.
Theo Lê Thị Huyền (2009), ở nhiệt độ phòng, thời gian phát dục của

cho thấy ở điều kiện nuôi ở nhiệt độ 30°C và ẩm độ 85% thì thời gian phát dục ở sâu
non ngắn hơn so với nuôi ở điều kiện nhiệt độ 25°C và ẩm độ 85% từ 4 - 9 ngày. Theo
dõi nhộng ở 2 điều kiện nuôi khác nhau cho thấy ở điều kiện nuôi ở nhiệt độ 30°C và
ẩm độ 85 % thì thời gian phát dục của nhộng sai khác nhau trung bình khoảng 1 ngày
so với điều kiện nuôi ở nhiệt độ 25°C và ẩm độ 85%. Kết quả nghiên cứu thời gian
phát dục của bọ nhảy ở 2 điều kiện nhiệt độ 25°C và 30°C cho thấy trong điều kiện
nhiệt độ cao là 30°C thì có thời gian phát dục ngắn hơn so với ở điều kiện nhiệt độ
25°C từ 5 – 13 ngày trong đó giai đoạn sâu non có thời gian phát dục dài nhất tương
ứng là 31,19 ± 2,25 ngày và 26,15 ± 2,18 ngày.
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen (2003) cho
thấy trưởng thành cái của bọ nhảy P. striolata cái đẻ từ 25-200 trứng. Ấu trùng
có 3 tuổi và phát triển từ 3-4 tuần. Nhộng phát triển từ 7-10 ngày.
Theo Vũ Thị Hiển (2002) , mật độ bọ nhảy bị giảm mạnh khi có mưa lớn,
mưa kéo dài. Nghiên cứu của Vũ Thị Hiển cũng chỉ ra rằng, biến động số lượng
trưởng thành bọ nhảy trên đồng ruộng ở vùng Gia Lâm, Hà Nội cho thấy: qua
điều tra nghiên cứu định kỳ hàng tuần trên ruộng rau cải không phun thuốc từ
đầu đến cuối vụ, trưởng thành bọ nhảy xuất hiện quanh năm trên đồng ruộng,
mật độ tăng dần từ khi gieo cho đến khi thu hoạch. Trong vụ hè (từ tháng 7 đến
tháng 9/2001), mật độ trưởng thành bọ nhảy rất thấp chỉ dao động từ 5 - 40
con/100 cây, không ảnh hưởng đến năng suất cũng như phẩm chất rau cải xanh
15


ngọt. Đến vụ đông, mật độ bọ nhảy tăng dần và gây hại nặng nhất từ tháng 1 đến
tháng 3/2002. Lứa rau gieo vào tháng 1, ở cuối vụ mật độ trưởng thành bọ nhảy
lên tới 277 con/100 cây.
Phạm Thị Nhất (1993) cho thấy trưởng thành bọ nhảy sọc cong vỏ lạc P.
striolata xuất hiện quanh năm, nhưng mạnh nhất vào tháng 3. Mật độ trưởng
thành bọ nhảy trên đồng ruộng có sự dao động rất lớn phụ thuộc vào nhiều yếu
tố: mùa vụ, giai đoạn sinh trưởng của cây, có khi mật độ lên tới 1000 (con/m2),

lũy. Không làm giảm quần thể kẻ thù tự nhiên của bọ nhảy trên đồng ruộng.
Theo Vũ Hồng Dung (2009), nghiên cứu về đặc điểm sinh vật học, sinh
thái học của bọ nhảy (Phyllotreta striolata F), thuốc Vithadan 95WP là loại
thuốc có hiệu quả cao, có tính phân giải nhanh, thời gian cách ly là 7 ngày nên
được sử dụng để thay thế dần việc lạm dụng thuốc (sử dụng các loại thuốc được
khuyến cáo hạn chế sử dụng một cách thường xuyên như Cyclodan 35EC,
Marshal 200SC). Thuốc sinh học Delfin WG và Crymax 35WP tuy hiệu lực
ngay sau khi phun không cao nhưng hiệu lực của thuốc sinh học mang tính tích
lũy. Không làm giảm quần thể kẻ thù tự nhiên của bọ nhảy trên đồng ruộng.
Theo Lưu Thị Hằng (2012), nghiên cứu hiệu lực phòng trừ bọ nhảy trên 5
loại thuốc là: Emaben 2.0EC, Sokotin 0.3EC, Trusach 2.5EC, Mopride 20WP,
Otoxes 200SP cho thấy sau 12 giờ thí nghiệm hiệu lực trừ bọ nhảy của các loại
thuốc đạt dao dộng từ 54,7 – 75,3 %, trong đó hiệu lực cao nhất là thuốc Otoxes
200SP (75,3%) và thấp nhất là thuốc Trusach 2.5EC (54,7%). Tuy nhiên, hiệu
lực phòng trừ bọ nhảy tăng lên sau 24 và 48 giờ thí nghiệm. Hiệu lực sau 24 giờ
đạt cao nhất là thuốc Otoxes200SP (90,7 %) và sau 48 giờ hiệu lực đạt cao nhất
là 93,2%. Thuốc có hiệu lực cao thứ hai là thuốc Mopride 20WP sau 24 giờ thí
nghiệm có hiệu lực là 88,2% và sau 48 giờ thử nghiệm hiệu lực cũng ñạt 91,5%.
Trong 5 loại thuốc khảo nghiệm, thuốc Otoxes 200SP có hiệu lực cao nhất từ
75,3 - 93,2%, tiếp sau lần lượt là các thuốc Mopride 20WP, Sokotin 0.3EC,
Emaben 2.0 EC và thấp nhất là thuốc Trusach 2.5EC (hiệu lực dao động từ 54,7
- 64,0 % trong 12, 24 và 48 giờ thử nghiệm).
17


Theo Vũ Thị Hiển (2002), khi phun thuốc Sevin 85 WP (0,15%) và rắc
Vibasu 10H (0,7 kg/sào) xử lý đất có hiệu lực trừ sâu non bọ nhảy cao nhất đạt
72,26 và 76,51% sau khi xử lý 7 ngày. Padan 95SP (0,25%) có hiệu lực trừ
trưởng thành bọ nhảy cao nhất đạt 98,89% ngay sau khi phun 3 ngày với thí
nghiệm trong phòng và 82,83% với thí nghiệm ngoài đồng. Cũng theo Vũ Thị


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status