Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Giáo dục Mầm non
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
__________
HOÀNG NGỌC MAI
PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN
THÔNG QUA VIỆC DẠY TRẺ KỂ CHUYỆN
SÁNG TẠO Ở TRƢỜNG MẦM NON HOA HỒNG
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp phát triển ngôn ngữ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
Ths. ĐỖ THỊ HIÊN
HÀ NỘI – 2017
Hoàng Ngọc Mai
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Giáo dục Mầm non
LỜI CẢM ƠN
thông qua việc dạy trẻ kể chuyện sáng tạo ở trƣờng mầm non Hoa Hồng”
là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, những số liệu và kết quả trong khoá luận
là hoàn toàn trung thực. Đề tài chưa từng được công bố trong bất cứ một công
trình khoa học nào khác.
Hà Nội, ngày 03 tháng 05 năm 2017
Sinh viên
Hoàng Ngọc Mai
Hoàng Ngọc Mai
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Giáo dục Mầm non
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài............................................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài ................................................................................. 3
3. Đối tƣợng nghiên cứu ....................................................................................... 5
4. Mục đích nghiên cứu ........................................................................................ 5
5. Nhiệm vụ nghiên cứu........................................................................................ 5
6. Phạm vi nghiên cứu .......................................................................................... 5
7. Phƣơng pháp nghiên cứu ................................................................................. 5
8. Cấu trúc khóa luận ........................................................................................... 6
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI .......... 7
2.1.4. Biện pháp lồng ghép các môn học khác khi dạy trẻ kể chuyện sáng tạo 44
2.2. Giáo án thực nghiệm ................................................................................... 46
2.2.1. Mục đích thực nghiệm .............................................................................. 46
2.2.2. Nhiệm vụ thực nghiệm ............................................................................. 46
2.2.3. Nội dung thực nghiệm .............................................................................. 47
2.2.4. Đối tƣợng thực nghiệm............................................................................. 47
2.2.5. Giáo án thực nghiệm ................................................................................ 47
2.2.6. Kết quả thực nghiệm ................................................................................. 57
2.2.7. Nhận xét kết quả thực nghiệm .................................................................. 57
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2 ....................................................................................... 58
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ................................................................................ 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................................................... 63
Hoàng Ngọc Mai
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Giáo dục Mầm non
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngay từ thuở ấu thơ, trẻ em đã có nhu cầu lĩnh hội kinh nghiệm xã hội –
lịch sử được vật chất hóa trong nền văn hóa loài người. Đó là quá trình chỉ
được thực hiện trong điều kiện có sự hướng dẫn thường xuyên của người lớn,
tức là giáo dục.
Trường mầm non là mắt xích đầu tiên của hệ thống giáo dục quốc dân, là
khâu quan trọng của hệ thống giáo dục và giáo dưỡng tiếng mẹ đẻ ở nhà
trường. Việc dạy và học tiếng mẹ đẻ có thể nói được bắt đầu từ lúc lọt lòng.
Nhiệm vụ cơ bản của giáo dục mầm non là hình thành cho trẻ những cơ
ràng, chính xác của từ ngữ trong tác phẩm văn học. Với nhiệm vụ khơi dậy ở
trẻ tình yêu đối với từ ngữ nghệ thuật thông qua cách đọc, kể, diễn cảm, cao
hơn nữa là biết dùng ngôn ngữ của mình để kể chuyện sáng tạo. Đây là một
nhiệm vụ rất phức tạp, yêu cầu khi kể chuyện sáng tạo trẻ phải tự nghĩ ra một
nội dung câu chuyện, tạo ra cấu trúc logic được thể hiện trong hình thức nói
tương ứng (Lời nói kết hợp với đồ dùng trực quan). Yêu cầu này đòi hỏi trẻ
phải có vốn từ phong phú, các kỹ năng tổng hợp, kỹ năng truyền đạt ý nghĩ
một cách chính xác, tập trung chú ý và nói biểu cảm. Những kỹ năng này trẻ
lĩnh hội được trong quá trình nhận thức có hệ thống bằng con đường luyện tập
thường xuyên hàng ngày.
Hiện tại, trung bình số trẻ trong một lớp ở trường mầm non Hoa Hồng là
40 trẻ, số lượng này là tương đối đông do đó nền nếp học tập cũng như các
việc tổ chức hoạt động cho trẻ kể chuyện sáng tạo còn gặp nhiều khó khăn.
Thấy rõ được tầm quan trọng của việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non,
là giáo viên mầm non tương lai, chúng tôi thấy việc nghiên cứu vấn đề phát
triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo lớn ở trường mầm non Hoa Hồng – thị xã
Phúc Yên là rất cần thiết.
Từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài “Phát triển ngôn ngữ cho trẻ
mẫu giáo lớn thông qua việc dạy trẻ kể chuyện sáng tạo ở trƣờng Mầm
non Hoa Hồng” là đề tài cho khóa luận tốt nghiệp đại học của mình. Chúng
tôi nghĩ rằng đây là một đề tài rất cấp bách, cần thiết và được chú ý từ những
người quan tâm tới trẻ em nói riêng và ngành giáo dục mầm non nói chung.
2
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Giáo dục Mầm non
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Giáo dục Mầm non
ra một số biện pháp phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ Mẫu giáo 5-6 tuổi
thông qua hình thức kể chuyện về sinh hoạt.
Xuất phát từ góc nhìn: Trẻ 5-6 tuổi là lứa tuổi phát triển nhất trong giai
đoạn Mẫu giáo, sắp bước vào môi trường hoàn toàn mới mẻ nên phát triển lời
nói mạch lạc, mở rộng vốn từ là yếu tố không thể thiếu, Nguyễn Thị Xuân,
ĐHSP Hà Nội đã lựa chọn đề tài “Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ mạch
lạc cho trẻ 5-6 tuổi thông qua kể chuyện theo tranh” là để tài bảo vệ luận án
tiến sĩ. Trong đề tài, tác giả cũng đã điều tra thực trạng về việc sử dụng các
biện pháp dạy trẻ kể chuyện theo tranh và thực trạng sử dụng ngôn ngữ mạch
lạc cho trẻ 5-6 tuổi. Bên cạnh đó, tác giả còn đưa những kết luận khoa học và
đề xuất những kiến nghị về biện pháp phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ 56 tuổi.
Tác giả Nguyễn Thị Oanh thì nêu quan điểm coi kể chuyện như một biện
pháp hữu hiệu đối với trẻ em nói chung và trẻ mẫu giáo lớn nói riêng trong
công trình “Các biện pháp phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ 5-6 tuổi”.
Ngoài ra còn rất nhiều các công trình nghiên cứu khác như “Một số biện
pháp dạy trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi kể lại chuyện diễn cảm ở trường mầm non Hạ
Long” của Phạm Thị Hải – khoá luận tốt nghiệp năm 2005, “Phát triển lời nói
mạch lạc cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua hình thức dạy trẻ kể chuyện sáng
tạo” của Nguyễn Thị Thuỳ Dung – khoá luận tốt nghiệp năm 2010,… và rất
nhiều các công trình nghiên cứu khác nữa đi vào tìm hiểu đề tài phát triển
ngôn ngữ cho trẻ ở các giai đoạn và độ tuổi khác nhau.
Nhìn chung, các nhà khoa học đều muốn tìm ra các hình thức và biện
pháp để phát triển ngôn ngữ cho trẻ hiệu quả nhất, nâng cao chất lượng dạy và
học của ngành mầm non nói riêng và nền giáo dục của đất nước ta nói chung.
Với đề tài nghiên cứu “Phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo lớn thông
qua việc dạy trẻ kể chuyện sáng tạo ở trƣờng mầm non Hoa Hồng”,
thân nên trong đề tài này tôi chỉ nghiên cứu về cách tổ chức cho trẻ mẫu giáo
lớn kể chuyện sáng tạo.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp quan sát
5
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Giáo dục Mầm non
Dự tiết dạy của giáo viên đứng lớp, qua đó nắm được vốn từ và khả năng
diễn đạt của trẻ. Trong khi quan sát, hành động và ghi chép trung thành với
ngôn ngữ của trẻ.
7.2. Phương pháp trò chuyện
Trao đổi, trò chuyện với các giáo viên về đề tài nghiên cứu. Trò chuyện
với trẻ nhằm làm rõ về vốn từ, khả năng diễn đạt, cảm xúc và hứng thú của trẻ
khi tham gia hình thức kể chuyện sáng tạo.
7.3. Phương pháp thực nghiệm tác động
Sau thời gian thực nghiệm tác động, so sánh sự phát triển ngôn ngữ của
trẻ trước và sau khi thực nghiệm tác động có khác nhau hay không.
7.4. Phương pháp tổng hợp, phân tích số liệu
8. Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung khóa luận bao gồm hai
chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài
- Chương 2: Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ Mẫu giáo lớn
thông qua hoạt động dạy trẻ kể chuyện sáng tạo và giáo án thực nghiệm
6
phát triển và hoàn thiện làm cho ngôn ngữ của trẻ cũng phát triển.
7
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Giáo dục Mầm non
Trẻ mẫu giáo lớn trường mầm non Hoa Hồng phần lớn đều ở trung tâm
thị xã Phúc Yên do đó trẻ có nền tảng cả về thể chất cũng như trí tuệ tương
đối tốt.
1.1.1.2. Đặc điểm tâm lý
Độ tuổi mẫu giáo lớn là giai đoạn cuối cùng của trẻ ở lứa tuổi “mầm
non” – là lứa tuổi sắp bước vào trường phổ thông. Với sự giáo dục của người
lớn, những cấu tạo tâm lý đặc trưng của con người đã được hình thành trước
đây và những chức năng tâm lý tiếp tục phát triển mạnh và được hoàn thiện
về mọi phương diện của hoạt động tâm lý (nhận thức, tình cảm, ý chí) đề hoàn
thành việc xây dựng những cơ sở ban đầu về nhân cách con người.
Trẻ mẫu giáo thường lĩnh hội những chuẩn mực và quy tắc hành vi như
là những thước đo để đánh giá người khác và đánh giá bản thân. Việc đặt mục
đích cho hành động và lập kế hoạch để thực hiện hành động thường được thể
hiện rất rõ nét. Điều đó thúc đẩy các hành động định hướng bên trong (các
quá trình tâm lý) phát triển mang tính chủ định rõ ràng. Tính chủ định này
được phát triển cùng với sự tiến triển của hoạt động vui chơi ở trẻ Mẫu giáo
lớn, làm cho dạng trò chơi đóng vai theo chủ đề chuyển dần sang dạng trò
chơi có luật rõ ràng hơn.
Ý thức bản ngã được xác định rõ ràng giúp trẻ điều khiển và điều chỉnh
hành vi của mình cho phù hợp với những chuẩn mực, những quy tắc xã hội,
từ đó mà hành vi của trẻ mang tính xã hội, tính cách đậm nét hơn trước. Ý
thức bản ngã được xác định rõ ràng còn cho phép trẻ thực hiện các hành động
nhận thức đang phát triển mạnh ở trẻ mẫu giáo lớn, do đó, bên cạnh việc phát
triển tư duy trực quan – hình tượng mạnh mẽ như trước đây, còn cần phát
triển thêm một kiểu tư duy trực quan hình tượng mới để đáp ứng khả năng và
nhu cầu phát triển ở trẻ ở cuối tuổi mẫu giáo. Đó là kiểu tư duy trưc quan – sơ
đồ. Kiểu tư duy mới này tạo ra cho trẻ một khả năng phản ánh những mối
quan hệ tồn tại khách quan, không bị phụ thuộc vào hành động hay ý muốn
chủ quan của bản thân đứa trẻ. Sự phản ánh những mối liên hệ khách quan là
điều kiện cần thiết để trẻ lĩnh hội những tri thức vượt ra ngoài khuôn khổ của
việc tìm hiểu từng sự vật riêng lẻ với những thuộc tính sinh động của chúng
để đạt tới những tri thức khái quát. Tư duy trực quan – sơ đồ vẫn giữ tính chất
hình tượng song bản thân hình tượng cũng trở nên khác trước: hình tượng đã
9
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Giáo dục Mầm non
bị mất đi những chi tiết rườm rà mà chỉ còn giữ lại những yếu tố chủ yếu giúp
trẻ phản ánh một cách khái quát sự vật chứ không phải là từng sự vật riêng lẻ.
Cả tư duy trực quan – hành động lẫn tư duy trực quan – hình tượng đều
liên hệ mật thiết với ngôn ngữ. Vai trò của ngôn ngữ ở đây rất lớn, nó giúp trẻ
nhận ra bài toán cần phải giải quyết, giúp trẻ đặt kế hoạch để tìm ra cách giải
quyết và nghe những lời giải thích, hướng dẫn của người lớn,… Khi mà ngôn
ngữ trở thành phương tiện chủ yếu của tư duy, cho phép giải những bài toán
trí tuệ mà không cần sử dụng trực tiếp đến hành động và biểu tượng, cũng là
lúc trẻ lĩnh hội những khái niệm mà loài người đã xây dựng nên, tức là những
tri thức về các dấu hiệu chung và bản chất của sự vật cũng như hiện tượng
trong hiện thực đã được củng cố bằng các từ. Ngôn ngữ và tư duy phụ thuộc
vào nhau mà tồn tại. Không có ngôn ngữ thì con người không thể tư duy vì
ngữ đồng thời cũng là phương tiện phát triển tư duy, truyền đạt truyền thống
văn hoá, lịch sử từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Hai nhà triết học lỗi lạc của nhân loại – Mác và Ăng-ghen đã viết:
“Trong bất cứ ngôn ngữ phát triển nào hiện nay, cái nguyên nhân khiến cho
một ngôn ngữ phát sinh một cách tự phát, được nâng lên thành ngôn ngữ dân
tộc, thì một phần là do ngôn ngữ đó được phát triển một cách lịch sử từ chỗ
nó được chuẩn bị đầy đủ về tư liệu, như ngôn ngữ La Mã và ngôn ngữ
Giécmani chẳng hạn, một phần là do sự giao dịch và hỗn hợp của các dân
tộc, như tiếng Anh chẳng hạn; một phần nữa là do các phương ngữ tập trung
thành ngôn ngữ dân tộc thống nhất và sự tập trung đó lại do sự tập trung kinh
tế, chính trị quyết định” (giáo trình triết học Mác – Lênin, NXB Chính trị
quốc gia). Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác, ngôn ngữ thể hiện ý thức xã
hội, sự tồn tại và phát triển của ngôn ngữ gắn liền với sự tồn tại và phát triển
của xã hội. Trong quá trình phát triển, ngôn ngữ luôn luôn tiếp thu các yếu tố
mới để phong phú và hoàn thiện thêm.
Dưới góc độ xã hội học, ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội – lịch sử.
Ngôn ngữ xuất hiện để thoả mãn nhu cầu giao lưu của con người trong cộng
đồng xã hội loài người. Trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người như:
Lao động, học tập, vui chơi, giải trí,… đều rất cần đến ngôn ngữ. Nhờ ngôn
ngữ mà con người có thể hiểu nhau trong quá trình sinh hoạt và lao động mà
người ta có thể trao đổi tình cảm, nguyện vọng, ý nghĩ, kinh nghiệm với nhau.
11
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Giáo dục Mầm non
Có hiểu biết lẫn nhau, con người mới có thể đồng tâm hiệp lực chinh phục
thiên nhiên, chinh phục xã hội, làm cho xã hội ngày càng tiến lên. Ngôn ngữ
Khoa Giáo dục Mầm non
Phát triển ngôn ngữ là một quá trình mở rộng, làm tăng vốn từ. Ngôn ngữ
bao gồm ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp và phong cách vì thế phát triển ngôn ngữ
cho trẻ là việc mở rộng vốn từ, khả năng đặt câu, giúp trẻ nghe hiểu lời nói
của loài người và có thể sự dụng hệ thống kí hiệu từ ngữ thành thạo, từ đó trẻ
nhận thức được về xã hội loài người.
1.1.2.2. Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo lớn
Trong quá trình hình thành của trẻ, bên cạnh phát triển thể chất là trí tuệ.
Công cụ để phát triển tư duy, trí tuệ chính là ngôn ngữ. Một trong những
thành tựu lớn lao nhất của giáo dục mầm non là làm cho trẻ sử dụng được một
cách thành thạo tiếng mẹ đẻ trong đời sống hàng ngày. Ganzalốp – một nhà
thơ nổi tiếng của Đaghextan đã nói: “Khi chết, người cha để lại cho con cái
của mình nhà cửa, ruộng vườn, thanh kiếm và cây đàn pandua. Nhưng một
thế hệ khi mất đi thì để lại cho thế hệ tiếp theo tiếng nói. Ai có tiếng nói người
ấy sẽ xây dựng nhà mình, sẽ cày được ruộng, đúc được kiếm, lên được dây
đàn pandua và gẩy được nó”.
Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo lớn vẫn tuân theo những quy
luật chung, song so với trẻ mẫu giáo bé và mẫu giáo nhỡ thì ngôn ngữ của trẻ
mẫu giáo lớn có nội dung phong phú hơn, có cấu tạo phức tạp hơn và mang
những nét riêng gắn với đặc điểm phát triển tâm lý của trẻ ở lứa tuổi này.
- Phát triển vốn từ và cơ cấu ngữ pháp
Vốn từ của trẻ mẫu giáo lớn vào khoảng 3000-4000 từ và thường xuyên
sử dụng khoảng 1033 từ. Vốn từ tích luỹ được khá phong phú không chỉ về
danh từ mà cả về động từ, tính từ, liên từ,…Danh từ và động từ vẫn chiếm ưu
thế nhưng tính từ và các loại từ khác cũng được trẻ sử dụng nhiều hơn. Khả
năng nắm bắt nghĩa của từ phát triển hơn: Các từ chỉ tính chất không gian (bát
ngát, rộng lớn,…); từ chỉ tốc độ (nhanh chóng, chậm rãi,…); từ chỉ màu sắc
(tím biếc, phớt hồng,…) đã được trẻ sự dụng một cách chính xác. Trẻ còn hiểu
và biết dùng các từ chỉ khái niệm thời gian, từ đồng nghĩa, các từ chỉ mức độ
cơ quan phát âm đã trưởng thành mà trẻ có thể phát âm chuẩn những âm khó
của tiếng mẹ đẻ như “nguệch ngoạc”, “khúc khuỷu”,... Trẻ mẫu giáo lớn cũng
đã biết sử dụng ngữ điệu phù hợp với nội dung giao tiếp hay câu chuyện mà
trẻ kể. Trẻ thường dùng ngữ điệu êm ái để biểu thị sự yêu thương, trìu mến và
ngữ điệu gay gắt, thô mạnh khi tức giận.
14
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Giáo dục Mầm non
* Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo lớn trường mầm non Hoa
Hồng
Cũng như phần lớn trẻ 5-6 tuổi, trẻ mẫu giáo lớn ở trường mầm non Hoa
Hồng đã nắm được và phát âm đúng tất cả các âm vị của tiếng mẹ đẻ, phát âm
đúng hầu hết các thanh điệu; biết phát âm đúng và rõ các từ, câu; biến đổi
cường độ, ngữ điệu phù hợp; sử dụng các phương tiện biểu cảm phù hợp...
Trẻ đã có thể sử dụng những câu phức tạp hơn câu tường thuật để miêu tả sự
vật, hiện tượng, con người như câu nghi vấn, câu cảm thán, câu hô ứng. Trẻ
có thể nói câu gồm 4-5 tiếng; biết dùng từ “đã” hay “rồi” để diễn tả quá khứ.
Trẻ có thể nói những lời bày tỏ được cảm xúc hay nhu cầu, ý nghĩ, kinh
nghiệm của bản thân như “Con nhớ mẹ nhiều lắm!”. Trẻ cũng biết sử dụng lời
nói để thoả thuận, trao đổi, hợp tác, chỉ dẫn bạn bè trong khi vui chơi hoặc khi
kể về sự việc, hiện tượng nào đó để người nghe hiểu, trẻ cũng đã kể được nội
dung câu chuyện đã nghe theo đúng trình tự. Tuy nhiên, vẫn có những trường
hợp trẻ yếu, không phát âm được hoàn toàn các âm vị, thanh điệu và phát âm
sai một số từ khó, bỏ sót một số nguyên âm.
Nhìn chung, đứa trẻ trước khi bắt đầu vào tuổi học sinh đã có khả năng
nắm được ý nghĩa của từ vựng thông dụng, phát âm đúng sự phát âm của
Tri giác là hình thức nhận thức cảm tính phản ánh tương đối trọn vẹn sự
vật, hiện tượng khi các sự vật, hiện tượng đó đang tác động trực tiếp vào các
giác quan con người. So với cảm giác thì tri giác là hình thức nhận thức đầy
đủ hơn, phong phú hơn. Tri giác chứa đựng cả thuộc tính đặc trưng và không
đặc trưng có tính trực quan của sự vật. Trong khi đó, nhận thức đòi hỏi phải
phân biệt được đâu là thuộc tính đặc trưng, đâu là thuộc tính không đặc trưng
và phải nhận thức sự vật ngay cả khi nó không còn trực tiếp tác động lên cơ
quan cảm giác con người. Ngôn ngữ làm cho tri giác của con người diễn ra
dễ dàng hơn, nhanh chóng hơn, khách quan hơn, đầy đủ và rõ ràng hơn.
Không có ngôn ngữ thì tri giác của con người cũng giống như tri giác của con
vật. Chất lượng tri giác của con người chỉ được biểu đạt thông qua ngôn ngữ.
Biểu tượng lại là một hình thức nhận thức cảm tính phản ánh tương đối hoàn
chỉnh sự vật do sự hình dung lại, nhớ lại sự vật khi sự vật không còn tác động
trực tiếp vào giác quan. Biểu tượng vừa chứa đựng yếu tố trực tiếp, vừa chứ
16
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Giáo dục Mầm non
đựng yếu tố gián tiếp do đó biểu tượng phản ánh những thuộc tính đặc trưng
nổi trội của các sự vật. Ngôn ngữ giúp cho con người nhận thức và dễ dàng
hình thành các biểu tượng về hiện thực khách quan hơn, đồng thời giúp củng
cố các biểu tượng mà con người đã thu nhận được từ hiện thực khách quan.
Nhận thức lí tính là hình thức cơ bản của tư duy trừu tượng, phản ánh
những đặc tính bản chất của sự vật. Sự hình thành khái niệm là kết quả của sự
khái quát, tổng hợp biện chứng các đặc điểm, thuộc tính của sự vật. Khái
niệm có vai trò rất quan trọng trong nhận thức bởi vì nó là cơ sở để hình thành
các phán đoán và tư duy khoa học. Các khái niệm vừa có tính chủ quan, vừa
thế chúng và tạo ra những điều kiện vật chất cho những hành động hay thao
tác đặc biệt đối với các vật ấy kể các khi các vật ấy vắng mặt. Từ không chỉ
gọi tên sự vật, nhờ vật, tư duy ngôn ngữ trừu tượng hoá được những thuộc
tính không bản chất của sự vật và khái quát hoá được những thuộc tính bản
chất của nó. Không có ngôn ngữ thì không thể có tư duy khái quát – logic
được. Lời nói bên trong là công cụ quan trọng của tư duy, đặc biệt khi giải
quyết những nhiệm vụ khó khăn, phức tạp. Khi người ta nói to lời nói bên
trong thì thấy tư duy rõ ràng và thuận lợi hơn. Điều đó chứng tỏ không có
ngôn ngữ, đặc biệt là không có lời nói bên trong thì ý nghĩ tư tưởng không thể
hình thành được, nghĩa là không thể tư duy trừu tượng được.
Ngoài ra, ngôn ngữ cũng có vai trò to lớn trong tưởng tượng. Nó là
phương tiện để hình thành biểu đạt và duy trì những hình ảnh mới của tưởng
tượng. Ngôn ngữ giúp chúng ta làm chính xác hoá các hình ảnh tưởng tượng
đang nảy sinh, tách chúng ra những mặt cơ bản nhất, gắn chúng lại với nhau,
cố định chúng bằng các từ và gắn trong trí nhớ. Ngôn ngữ làm cho tưởng
tượng trở thành một quá trình ý thức, được điều khiển tích cực, có kết quả và
chất lượng cao.
* Vai trò của ngôn ngữ đối với nhận thức của trẻ mẫu giáo lớn
Ngôn ngữ là công cụ để trẻ học tập, vui chơi – những hoạt động chủ yếu
ở trường mầm non. Phát triển lời nói cho trẻ ở trường mầm non thực hiện mục
tiêu “kép”. Đó là, trẻ học để biết tiếng mẹ đẻ, đồng thời sử dụng nó như một
công cụ để vui chơi, học tập. Như vậy, ngôn ngữ cần cho tất cả các hoạt động
và ngược lại, các hoạt động tạo điều kiện cho ngôn ngữ trẻ phát triển.
18
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Giáo dục Mầm non
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Giáo dục Mầm non
càng cao theo lứa tuổi. Đến cuối tuổi mẫu giáo lớn, ở trẻ đã xuất hiện kiểu tư
duy trực quan hình tượng mới đó là tư duy trực quan sơ đồ. Để hoạt động tư
duy này, để trình bày kết quả tư duy của mình, trẻ cần dùng ngôn ngữ để giải
thích, lập luận cho người khác hiểu theo trình tự các bước tư duy. Do đó,
muốn phát triển tư duy logic cho trẻ cần có nền tảng về ngôn ngữ đặc biệt là
vốn từ và lời nói mạch lạc và để có ngôn ngữ mạch lạc trẻ cần phải có tư duy
mạch lạc.
Ở tuổi này, trẻ đã có khả năng sủ dụng tiếng mẹ để tương đối thành thạo.
Trẻ có nhu cầu nắm bắt kỹ năng diễn đạt mạch lạc trong lời nói. Vì vậy, việc
phát triển ngôn ngữ cho trẻ cả về vốn từ và lời nói mạch lạc là rất cần thiết và
có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển chung của trẻ ở giai đoạn này.
Phát triển ngôn ngữ còn góp phần giúp trẻ mẫu giáo lớn nhận thức thế
giới xung quanh một cách đầy đủ, chính xác và sâu sắc hơn.
1.1.3. Phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo lớn thông qua hoạt động
dạy trẻ kể chuyện sáng tạo
1.1.3.1. Khái niệm kể chuyện
Kể là một hoạt động ngôn ngữ. Kể chuyện là hình thức thông tin nhanh
gọn, truyền cảm bằng ngôn ngữ. Kể chuyện là hình thức khởi đầu của sự tích
luỹ tri thức khoa học, kinh nghiệm sống, nó có chức năng thông tin. Ngôn
ngữ ngày càng phát triển, số từ cơ bản tăng thêm, đời sống vật chất và tinh
thần trở nên phong phú thì kể chuyện không chỉ dừng ở mức độ thông tin mà
còn mang trong mình chức năng giải trí, nghệ thuật.
Kể chuyện là một hoạt động ngôn ngữ của con người nhằm mục đích
giao lưu, trao đổi thông tin giữa con người với nhau. Thông qua kể chuyện,